Friday, March 16, 2018

 Những người con Phật: Năm chúng đệ tử xuất gia.
Những ai xuất gia với Phật đều thuộc vào một trong năm loại, dựa vào sự khác biệt của giới luật mà phân biệt. Tất cả giới luật được đặt ra vì chúng là khuôn phép quy định hành vi của một nhóm người (chư tăng, chư ni) khi sống chung. Những khuôn phép ấy đều là những quy ước dành cho cá thể, và quan hệ giữa cá thể với tăng đoàn. Như thế, tất cả giới luật đều được tuần tự chế định tùy theo nhân duyên và nhu cầu của cuộc sống tăng đoàn lúc đó, chứ không phải được Phật trong một ngày một đêm đặt ra. Dựa trên sự thọ trì giới luật mà ta phân biệt các chúng đệ tử, như sau:
  1. Tỳ kheo (bhikshu), nhiều khi còn gọi là sa môn (sramana), là những người đệ tử chân chính, thọ 227 giới theo truyền thống Nam tông (theravada), hoặc 250 giới theo truyền thống Bắc tông (mahayana). Ý nghĩa chính của chữ tỳ kheo là khất sĩ, tức là dưới thì cầu thực phẩm để nuôi thân, trên thì cầu trí huệ Phật để nuôi dưỡng tâm linh. Ba ý nghĩa quan trọng khác của tỳ kheo là bố ma, phá ác, và tịnh mạng. Bố ma là bản chất của người tỳ kheo, tức là họ theo con đường thanh tịnh, khiến thiên ma sợ hãi. Thiên ma cũng tức là những thứ dục vọng, ham muốn, tâm thái đen tối. Phá ác là tướng trạng của tỳ kheo, tức là họ trì giới nghiêm mật, giữ oai nghi thanh tịnh, không làm ai sợ hãi, không tạo ác nghiệp. Nhờ đó, từ tướng mạo tới tâm tánh, họ tỏa ra sự hiền hòa, dễ thương, dễ gần gũi, dễ thân cận, lại khiến mọi ác hạnh biến mất, nên gọi là phá ác. Tịnh mạng là tác dụng của người tỳ kheo, rằng họ không làm bất kỳ nghề nghiệp thế tục nào để kiếm sống hay cầu danh cầu lợi, họ chỉ sống thanh tịnh vô vi, ảnh hưởng tới những ai thấy họ, sẽ khiến phát tâm tôn trọng cung kính đạo pháp. Tỳ kheo là những người khiến ai ai thấy cũng phải quý kính, thương mến. Đó là tác dụng của tịnh mạng.
  2. Tỳ kheo ni (bhikshuni), tức là những nữ chúng tỳ kheo. Người đầu tiên được làm tỳ kheo ni là bà mẹ nuôi của đức Phật, bà Đại Ái Đạo. Bà xin Phật cho bà xuất gia tu hành, cũng khoảng 14 năm sau khi Phật thành đạo hoằng hóa độ sinh. Như thế, tỳ kheo ni chúng xuất hiện rất muộn so với tỳ kheo chúng. Chư tỳ kheo ni thì thọ tới 348 giới (hoặc 311 giới), chứ không giống như những giới của chư tỳ kheo. Ngoại trừ sự khác biệt về giới luật, chư tỳ kheo ni cũng tu hành, hoằng đạo như chư tỳ kheo; cũng đuợc tôn trọng và cúng dường không khác gì chư tỳ kheo cả.
  3. Sa di (sramanera) tức là những người tập sự chuẩn bị làm tỳ kheo. Sa di có 3 nghĩa chính: tức từ, cần sách và cầu tịchTức từ nghĩa là dứt bỏ điều ác (tức nghĩa là dừng), và trở nên hiền hòa dễ thương (từ nghĩa là hiền từ, dễ thương, dễ thân cận). Cần sách nghĩa là tinh tấn siêng năng tu hành (ý nghĩa chữ cần); thường phải tự sách tấn, nhưng cũng thường tiếp nhận sự khuyến khích tu hành của chư vị tỳ kheo (ý nghĩa chữ sách). Cầu tịch nghĩa là hướng tâm chí tới (ý nghĩa chữ cầu) Niết Bàn, tới đạo giải thoát sinh tử luân hồi (ý nghĩa chữ tịch). Tất cả sa di đều thọ mười giới căn bản của người xuất gia. Sa di là giai đoạn tu hành căn bản và quan trọng vô cùng trong quá trình tu đạo giải thoát. Cá tánh của người sa di được hun đúc trong khi tập tành làm sa di. Theo truyền thống Phật giáo thì điều kiện đầu tiên để trở thành tỳ kheo, tỳ kheo ni là ta phải tròn 20 tuổi. Như thế, hậu ý rằng ta phải đủ trưởng thành để bước vào con đường tâm linh. Do đó nhiều người xuất gia rất sớm, 7 hoặc 8 tuổi; khi đó các em trẻ phải được giáo dục về tâm trí, cũng như phát triển về sự nhận tri giá trị tâm linh để đến khi 20 tuổi các em sẽ dễ dàng tham dự sinh hoạt của chư tỳ kheo tỳ kheo ni.
  4. Sa di ni (sramanerari) tức là những người nữ xuất gia thọ mười giới sa di. Tùy theo tuổi tác mà sa di và sa di ni thường được xếp vào ba nhóm chính:
    1. Nhóm từ 7 tới 13 tuổi: Gọi là nhóm Khu ÔSa Di (đuổi quạ) tức là các em ở tuổi chưa có sự trưởng thành về tâm linh.
    2. Nhóm từ 14 tới 19 tuổi: Gọi là nhóm Ứng PhápSa Di (thích ứng với pháp sa di) tức là các em đã có nhiều hiểu biết, có thể thọ trì giới sa di và sa di ni đúng đắn, có thể giữ gìn oai nghi luật lệ.
    3. Nhóm từ 20 tới 70 tuổi: Gọi là nhóm Danh Tự Sa Di (chỉ có tên là sa di)tức là những người đã đủ tư cách để trở thành tỳ kheo, tỳ kheo ni, nhưng vì nhân duyên chưa đủ nên phải giữ công hạnh và hình tướng, giới luật của người sa di, sa di ni.
Có những sa di hay sa di ni đã chính thức thọ mười giới, thọ pháp làm sa di, giữ gìn giới luật, tuân theo quy chế, gọi là pháp đồng sa di (ni). Nhưng lại có những vị không thọ mười giới, tuy ở trong tăng chúng và ni chúng, cạo tóc mặc áo cà sa, nhưng bản chất trần tục chưa thay đổi, gọi là hình đồng sa di (ni).
  1. Thức xoa ma na (siksamana): Còn gọi là thức xoa, thức xoa ma na ni, thức xoa ma ni, có nghĩa là những vị học pháp nữ hay chánh học nữ. Đức Phật dạy rằng người phụ nữ, tức là chư vị sa di ni, cần trải qua một quá trình học và huấn luyện trước khi trở thành tỳ kheo ni. Quá trình đó gọi là thức xoa ma na. Giai đoạn huấn luyện này chỉ có 2 năm (hay là hai mùa kiết hạ an cư, hai mùa mưa). Trong hai năm huấn luyện, người sa di ni thường được quan sát về tâm sinh lý, và về chí hướng tu hành để khi họ thọ tỳ kheo ni giới thì tâm lý cũng như tâm linh đều được hun đúc và trưởng thành. Ngoài sự giữ gìn nghiêm chỉnh mười giới sa di ni, sự huấn luyện chính yếu của thức xoa ma na bao gồm sáu pháp, như sau:
    1. Không được xúc chạm nam giới
    2. Không trộm cắp, dù nhỏ tới đâu
    3. Không cố ý giết hại súc sinh
    4. Không nói dối, dù nhỏ tới đâu
    5. Không ăn phi thời, tức là chỉ ăn lúc giữa trưa mà thôi
    6. Không được uống rượu, chất say, dù ít tới đâu
Ngoài năm chúng xuất gia nói trên là hai chúng tại gia, gọi là ưu bà tắc (nam tại gia) và ưu bà di (nữ tại gia). Gọi là tại gia tức là phải thọ năm giới(không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối trá, không rượu chè nghiện ngập); đồng thời sống theo khuôn phép của thập thiện, tức là mười hạnh lành. Đối với thân thể, gồm có ba hạnh: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm. Đối với lời nói, gồm có bốn hạnh: không nói dối, không nói lời thô tục, không nói lời thêu dệt, và không nói lời đâm thọc hai đầu. Đối với tâm tư, gồm có ba hạnh: không tham, không giận lẫy, không cố chấp si mê.
Đối với người Phật tử tại gia trong thời đại này, chỉ cần làm theo bài kệ sau đây, là mọi công hạnh đều đầy đủ:
Chư ác mạc tác,
Chúng thiện phụng hành,
Tự tịnh kỳ ý,
Thị chư Phật giáo.
Nghĩa là:
Đừng làm chuyện gì xấu,
Làm hết mọi việc lành,
Lắng tâm cho thanh tịnh,
Đó là lời Phật dạy..HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.17/3/2018.

No comments:

Post a Comment