Monday, July 27, 2015

Oai nghi yếu giải.

       
 

Những ngôn ngữ cử chỉ hằng ngày nơi mỗi con người, được thể hiện bởi Đức và Hạnh. Trong mỗi lời ăn tiếng nói, trong mỗi cử chỉ hành động được biểu hiện bằng sự chân thật của lòng mình
Những ngôn ngữ cử chỉ hằng ngày nơi mỗi con người, được thể hiện bởi Đức và Hạnh.
Trong mỗi lời ăn tiếng nói, trong mỗi cử chỉ hành động được biểu hiện bằng sự chân thật của lòng mình chứ không dụng tâm dối mị để được thiên hạ nhận lầm rồi vọng tình tán thán.
Hành vi ngôn ngữ đó theo luật học gọi là Oai Nghi hay nói đủ hơn là Oai Nghi Tế Hạnh.
Đức Phật dạy: Trên lộ trình giải thoát giác ngộ, Sa Môn phải thực hành tam thiên oai nghi, bát vạn tế hạnh…Trong từng phút, oai nghi được kiểm soát, nơi mỗi niệm tế hạnh không lầm lẫn. Đó là một vị Phật hay nói cách khác là một vị đã giải thoát, giác ngộ.
Vì nhân sinh thời mạt pháp, phần nhiều ưa giải đải, chư Tổ phải quán cơ tác thành văn tự bằng những ước số giới hạn để phù hợp và thích ứng với thế thái nhân tình. Đó là 24 thiên oai nghi cho hàng Sa Di tập học trước khi đăng đàn thọ cụ túc giới.
Những điều tắc sau đây được chư Tổ trích ra từ các bộ kinh nói về oai nghi của Sa Môn. Bản Thanh Quy của Tổ Bách Trượng thời xưa, tác phẩm Thành Phạm cận đại và bộ Hành Hộ luật nghi của ngài Đạo Tuyên luật sư, là những bản phần nhiều dành cho các vụ tân tỳ kheo, nhưng thấy Sa Di cũng phải dự biết trước nên những điều thông dụng cũng trích ra để Sa Di tập học.





Tổng quát thiên thứ 1: KÍNH TRỌNG BẬC ĐẠI SA MÔN
Thiên nay chia 3 phần:
Phần thứ nhất nói về những điều cấm để tỏ thái độ cung kính.
-         Không được kêu tên chữ của vị đại Sa Môn.
-         Không được nghe trộm khi đại Sa Môn thuyết giới.
-         Không được nói lỗi của vị đại Sa Môn.
-         Không được khi ngồi thấy đại Sa Môn đi qua mà không đứng dậy.
Phần thứ hai nói những điều khai: Khi đọc kinh, khi bệnh, khi cạo đầu, khi ăn và khi làm việc chúng.
Phần thứ ba nói nên biết vị trí của đại Sa Môn.
-         Theo bộ Hành Hộ: 5 hạ trở lên là địa vị A Xà Lê.
-         10 hạ trở lên là địa vị của Hòa Thượng.

* YẾU GIẢI:
Đây là hành xử cần có đầu tiên của một Sa Di nói riêng và chúng tăng nói chung. Nếu hành xử này không được thực hành thì đối với sự giải thoát, giác ngộ khó mà thành tựu. Bởi thế chúng ta cần phải nghiêm túc cung kính các bậc đại Sa Môn từ bản thân cho đến mọi việc làm của các ngài. Ở đây trích một vài đoạn kinh, luật để chúng ta thấy sự lưu tâm của Phật Tổ đối với vấn đề này:
經雜啊含:當恭敬住,當常繫心,常慎心。若不恭敬心,不繫心,不畏慎心,而欲令威儀具足者,無有是處。不備威儀,欲令學法滿者無有是處。學法不滿足,欲令五分法身具足者,無有是處。五分法身不具足者,欲得無餘涅槃者,無有是處。
大律:出家之人,所有言說皆為利益。不應私忿,道說於他。
論毘尼母:若向白衣說些比丘過惡,則前人於佛法中無信敬心,寧破塔像,不向人說比丘過惡,若說過罪者則壞法身。








Tổng quát thiên thứ 2: HẦU THẦY
Thiên này chia hai phần (gồm 27 việc).
Phần thứ nhất nói về tám oai nghi chính.
1.      Thái độ của Sa Di cần phải có khi hầu thầy.
-         Phải dậy sớm.
-         Muốn vào cửa phải gảy móng ba lần.
-         Nếu có lỗi Hòa Thượng, A Xà Lê giáo giới không được nói nghịch lại.
-         Xem Hòa Thượng, A Xà Lê cũng như đối với Phật.
-         Nếu bảo đổ đồ bất tịnh không được khạc nhổ và không được tỏ thái độ bực bội.
2.      Lễ bái phải đúng thời.
-         Nếu lễ bái, khi thầy tọa thiền, thầy kinh hành, thầy thời cơm, thầy thuyết kinh, thầy xỉa răng, thầy tắm rửa, thầy ngủ nghỉ..v..v…đều không nên lễ bái.
-         Chữ (等) v.v ở đây là chỉ cho khi thầy đang bận các việc như khi cạo đầu, rửa chân, có việc đang dở dang không rảnh, thầy tiếp khách và khi thầy đóng cửa không nên đứng ngoài lễ bái, muốn vào cửa phải gảy móng tay 3 lần, thầy không đáp không nên tự tiện bước vào mà phải lui ra.
3.      Phép hầu thầy khi thời cơm.
-         Dâng cơm cho thầy, phải bưng hai tay đưa cao. Thầy thời xong phải từ từ nhẹ nhàng.
-         Hầu thầy không nên đứng đối diện, không đứng chỗ cao hơn thầy, không đứng quá xa để thầy nói nhỏ mình vẫn nghe được khỏi hao sức thầy.
4.      Phép thưa thỉnh khi cần việc.
-         Nếu thưa thỉnh về nhân duyên Phật Pháp, phải sửa áo lễ bái quỳ gối chắp tay, thầy có dạy bảo thì lắng lòng lắng nghe tư duy thâm nhập (văn, tư, tu).
-         Nếu thưa hỏi việc thường trong chùa, khỏi cần lạy quỳ chỉ đứng ngay thẳng một bên thầy và cứ thật trình bày rõ ràng.
-         Nếu thầy thân tâm không được khỏe bảo lui thì nên lui, không được tâm tình không vui hiện ra nơi sắc mặt.
5.      Phép khi có lỗi đến thầy xin sám hối.
-         Phàm có lỗi lầm như phạm giới v.v…không được che giấu mà phải cấp tốc đến trước thầy cầu xin sám hối. Thầy chấp nhận cho thì phải hết lòng phát lộ (nói rõ lỗi lầm gì) rồi phải chân thành hối cải để được thanh tịnh trở lại.
-         Thầy nói chưa rồi không được nói xen vào.
6.      Tôn trọng chỗ ngồi của thầy và việc đem thư tín.
-         Không được ngồi trên chỗ ngồi của thầy dù chỉ giỡn chơi.
-         Không được nằm giường thầy cho đến mặc áo, đội mũ của thầy…
-         Thầy sai đưa thư tín thì không được lén mở xem, cũng không được cho người khác xem. Khi đến nơi người nhận thư có hỏi han điều gì (phải ngũy suy những điều gì nên trả lời và không nên trả lời) nên trả lời thì cứ thật mà trả lời, nếu không nên thì phải từ chối cho thật khéo. Họ có mời ở lại thì không được tự tiện ở lại, mà phải một lòng nhớ rằng thầy đang trông mình về.
7.      Phép đứng hầu thầy khi có khách.
-         Thầy tiếp khách nên đứng chỗ thường đứng, hoặc đứng bên thầy, điều tất yếu là để tai và mắt có thể lắng nghe, lỡ thầy cần việc gì sai bảo.
8.      Phép hầu thầy khi tật bệnh.
-         Thầy tật bệnh phải hết lòng điều trị, phải chu đáo mọi chuyện như phòng thất, mền nệm, thuốc thang, cơm cháo…
-         Các việc mặc áo, mang giày dép cho thầy v.v…tất cả phải đúng phép như trong luật đã nói rõ.

Phần thứ hai bổ khuyết những oai nghi phụ, có hai:
1.      Phép cung kính thầy qua 3 nghiệp:
-         Hầu Thầy, Thầy không cho phép thì không được ngôi, không hỏi không dám thưa trừ có việc cần muốn hỏi.
-         Phàm đứng hầu Thầy không nên dựa tường vịn ghế, mà phải thân thẳng ngay ngắn đứng bên Thầy.
-         Muốn lễ bái, nếu Thầy không cho nên thuận theo lời Thầy chớ lạy gắng.
-         Phàm khi Thầy cùng khách đàm luận có những điều liên quan đạo pháp, thấy có ích cho thân tâm thì nên ghi lấy.
-         Thầy sai bảo điều gì nên làm kịp thời cho xong, không được trái lại.
-         Phàm ngủ nghỉ không được trước Thầy.
-         Phàm ai hỏi tên húy của Thầy nên trả lời (thượng mộ tự, hạ mỗ tự).
2.      Phép chọn Thầy cầu pháp và khi xa Thầy:
-         Phàm đệ tử phải chọn bậc minh sư, gần gũi Thầy cho thật lâu, không được rời Thầy quá sớm; nếu như Thầy thật bất minh thì phải tìm bậc lương đạo khác. Giả sử phải rời Thầy, nên phải ghi nhớ lời giáo huấn của Thầy. Không được lung lòng tự dụng, xuôi theo dòng đời trôi chảy, làm những việc bất chánh; không được ở những nơi ồn ào náo nhiệt như chợ và giếng; không được ở nơi miếu thờ thần; không được ở trong phòng ốc dân chúng, không được ở gần chùa Ni; không được cùng Thầy ở chỗ khác nhau mà làm mọi việc ác trong thế gian.

* YẾU GIẢI:
Thầy là bậc thay Phật Tổ để duy trì và tuyên dương chánh pháp, là vị làm mô phạm cho chúng ta trên con đường tiến tu đạo nghiệp.
Bở vậy, chúng ta phải hết lòng cung kính và phụng sự.
Để thấy được thêm tầm quan trọng và trách nhiệm của chúng ta đối với Thầy, chúng ta nên xem lại một vài đoạn trong các kinh luật có liên hệ:
大律:弟子看和尚當具四心,一身愛,二敬順,三怖畏,四尊重心。
成梵:沙彌於師常懷敬畏,隨順師意,常懷慚愧,念報四恩,傍資三有。
行戶:在師前不得搞癢,搞頭,捋面,不得對師著襪,洗足等。
五十頌:當慕於師德,不應窺小過。隨順獲成就,求過當自損
善恭敬經:弟子於師所麤言,師所呵責不應反報;師不發問,不得輒言,凡有所使,勿得違慢。若於師所不起恭敬,說於師僧長短之者,彼愚癡人,應如法治。師寔有過尚不得說,況當無也。若於師邊,不恭敬者,別有一小地獄名為推樸,當墮是中一身四頭,身體俱然狀如火聚,出大猛焰,熾然不息。復有鉤觜毒蟲。常砸舌根,從地獄出,生畜生中,恆食屎尿,捨彼身已,雖生人間,常生邊地,皮不似人,不能具足之形色,常被輕賤,誹謗凌辱,離佛世尊,恒無智慧,從彼死已,還墮地獄,更得無量無邊苦患之法。
成梵:凡有誤失過咎,師或示怒,種種呵責,不得巧辭飾非,纔見師怒,即當畏懼斂容,胡跪師前,心懷愧恥,受嘖,有過則改無過默然。
五十頌:不應師前身現疲勞相,屈指節作聲,倚柱及牆壁。
兜率菩薩下生經:侍者具八法;一信心堅固,二其心覓進,三身無諸病,四精進,五具念心,六心不憍慢,七能成定意,八具足聞智。


誠梵曰:師若重病應一心調治,如法調煮羹湯藥餌;不幸師圓寂,不應哭泣,當一一如教奉行,師誡囑不得違命。



Tổng quát thiên thứ 3: HẦU THẦY KHI RA ĐI
Thiên này chia hai phần (gồm 9 việc).
Phần thứ nhất nói bốn oai nghi chính
1.      Lúc cùng Thầy đang đi giữa đường.
-         Không được ghé vào nhà người.
-         Không được dừng lại nói chuyện với người khác.
-         Không được liếc ngó hai bên, mà phải cúi đầu theo sau Thầy.
2.      Lúc đến nhà người.
-         Đến nhà đàn việt phải ở một chỗ Thầy dạy ngồi mới được ngồi.
-         Đến các chùa viện, Thầy lễ Phật hoặc mình tự lễ Phật không được tự đánh chuông hoặc khánh.
3.      Lúc leo núi.
-         Nếu leo núi phải mang tọa cụ.
-         Không được rời Thầy quá xa.
4.      Khi lội nước.
-         Phải cầm tích trượng dò thử sâu cạn.
-         Mang theo bình bát và luôn cầm tích trượng. (Cách thức có nói rõ ràng, xem thêm trong đại luật).
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ (có 2 việc).
1.      Giữ đúng hẹn ước.
-         Nếu tình cờ phải tách nhau ra đi thì hẹn gặp nhau ở chỗ nào đó, nhưng không được đến sau.
2.      Phương pháp khi Thầy thọ trai.
-         Thầy thọ trai phải đứng hầu để xuất sanh.
-         Thầy thọ trai xong phải hầu để nhận vật cúng.

* YẾU GIẢI
Là thị giả phải luôn luôn ở bên cạnh Thầy để đáp ứng những gì Thầy cần, nhất là đi ra khỏi chùa thì phải thận trọng hơn. Phải đem theo những vật dụng cần thiết cho Thầy. Đến đâu cũng phải giữ đúng tư cách của người thị giả.


Tổng quát thiên thứ 4: NHẬP CHÚNG.
Thiên này chia 2 phần (gồm 32 việc).
Phần thứ nhất có 7 oai nghi chính.
1.      Đức khiêm nhường.
-         Không được tranh giành chỗ ngồi.
-         Không được ở tại tòa cao kêu nhau nói cười.
-         Trong chúng có ai mất oai nghi nên che xấu bày tốt.
-         Không được khoe mệt để tỏ mình là người có công.
2.      Luôn luôn sách tấn mình.
-         Phàm ở trú xứ khác không được ngủ trước người, không được dậy sau người.
3.      Phải tu tập phước đức và tiết kiệm.
-         Rửa mặt không được dùng nước nhiều.
-         Chà răng nhổ nước phải cúi đầu thấp xuống không nên phun nước nhằm người.
-         Không được cao tiếng nôn ọe hay khạc nhổ.
-         Không được ở trong điện tháp hoặc tịnh thất, tịnh địa mà nhổ nước miếng và hỷ mũi, phải tìm chỗ khuất để nhổ nước miếng và nước mũi.
-         Khi uống trà không được dùng tay còn lại để chào người hoặc mời người uống.
-         Không được hướng tháp, hướng Hòa Thượng, A Xà Lễ để tẩy răng.
4.      Luôn luôn tu tập hạnh nguyện rộng lớn.
-         Phàm nghe tiếng chuông phải chắp tay mặc niệm:
                        Văn chung thanh phiền não khinh
                        Trí tuệ trưởng Bồ Đề sanh
                        Ly địa ngục xuất hỏa khanh
                        Nguyện thành Phật độ chúng sanh
                        Án già ra đế da tóa ha.
5.      Cẩn thận giữ gìn oai nghi.
-         Không được cười nhiều hoặc cười lớn và ngáp thì phải lấy tay áo để che miệng.
-         Không được đi quá nhanh.
6.      Cung kính và thận trọng việc cúng Phật.
-         Không được đem đèn trên bàn Phật xuống dùng riêng, nếu thắp đèn phải dùng lồng kín che lại chớ để các loài trùng bay vào.
-         Hoa cúng Phật phải dùng hoa vừa nở đều tròn. Không được ngửi trước, bỏ hoa héo rồi mới cúng hoa mới, hoa tàn không được vứt bỏ xuống đất dẫm đạp lên, phải bỏ vào chỗ khuất kín.
7.      Nói cần giữ tâm thành khiết.
-         Không được nghe kêu không trả lời, phàm nghe kêu phải dùng câu niệm Phật để đáp lại.
-         Phàm lượm vật rơi liền bạch với Thầy tri sự.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ có 6 oai nghi.
1.      Tự trọng.
-         Không được cùng với Sa Di trẻ tuổi kết bạn.
2.      Luôn luôn hành luật chế về sắc phục.
-         Không được đối với ba y để cẩu thả lộn xộn.
-         Không được may sắm nhiều y áo nếu có dư phải xả.
-         Không được sắm dây tua phủ phất tốt và các thứ đồ chơi để trang điểm theo thói giang hồ để chuốc lấy sự cười chê của hàng thức giả.
-         Không được phục sức màu sắc sặc sỡ như thế tục.
-         Không được tay không sạch đắp y.
-         Lên điện Phật phải buộc dây chân không được lung ý tự tiện.
3.      Suy nghĩ về sự lợi ích trong vấn đề tu tập.
-         Không được đi dạo.
-         Không được ngồi nhìn đại chúng làm việc mệt nhọc mà mình lại nhác nhớm tìm cách lén tránh để an thân.
4.      Phải biết nhân quả.
-         Không được lấy dùng riêng vật dụng của chiêu đề như tre pheo, cây cối, rau cải, hoa quả, mọi thức ăn đồ uống và tất cả mọi thứ vật dụng khác.
5.      Cẩn thận khẩu nghiệp trong sự tương giao.
-         Không được luận bàn chuyện triều đình công phủ, việc chính trị được mất, chuyện tốt xấu của nhà bạch y.
-         Phàm tự xưng nên dùng hai chữ pháp danh, không nên nói tôi hoặc tiểu tăng.
6.      Kiểm soát tâm ý trước khi phát ngôn.
-         Không được vì chuyện nhỏ mà tranh chấp, chuyện lớn khó nhẫn nại.
-         Phải luôn luôn bình tâm giữ hòa khí; dùng ý để luận biện không được thì nên tìm cách rút lui.
-         Nếu động khí phát thô tức chẳng phải hảo tăng.
清規:有理無理並出院。何也!蓋僧當忍辱,若執有理而諍者即是無明,故同故同擯之,當息諍於未萌也。
大律:不忍辱人有五種過:一兇惡增長,二事後悔恨,三多人不愛,四惡聲流布,五死墮惡道。

* YẾU GIẢI
Những đức tính cần có khi sống chung với đại chúng là đức tính khiêm nhường, luôn luôn tinh tấn dũng mãnh  trong sự tu tập cũng như trong mọi việc làm của chúng, luôn có tâm niệm vị tha, chân thành tin tưởng lẫn nhau. Ngoài ra còn phải biết tự trọng, giữ gìn tâm ý trước khi phát ngôn, biết vận dụng sự tu tập trong khi làm việc và phải rõ nguyên nhân, kết quả của một hành vi. Nói đúng hơn là phải đầy đủ oai nghi như pháp nơi ba nghiệp trong lúc sống chung với đại chúng và lấy hạnh nhẫn nhục làm tiêu chuẩn cho cuộc sống.

Tổng quát thiên thứ 5: THEO CHÚNG THỌ THỰC
Thiên này chia hai phần (gồm 25 việc).
Phần thứ nhất nói 7 oai nghi chính.
1.      Khi ăn phải cúng thí hai phước điền (ân Tam Bảo và ân chúng sinh).
-         Nghe tiếng chùy, tức thời phải sửa y phục đến trai đường, khi ăn phải thành tâm chú nguyện.
-         Cơm xuất sanh không quá bảy hạt, bún không quá một tấc, bánh mạn đâu không quá một lóng tay. Nhiều thời tham, ít thì sẽ bòn xẻn. Ngoài ra các thứ khác như rau, cải , đậu hủ đều không được xuất sanh.
-         Khi xuất sanh nên để giữa long bàn tay niệm bài kệ:
                        Nhữ đẳng quỷ thần chúng
                        Ngã kim thí nhữ cúng
                        Thử thực biến thập phương
                        Nhất thế quỷ thần cọng.
2.      Khi ăn phải chú tâm chánh niệm quán 5 điều.
-         Một xét công nhiều hay ít và ước lượng xuất xứ thực vật.
-         Hai nghĩ đức hạnh của mình đủ hay thiếu để thọ của cúng dường.
-         Ba ngăn thừa tham, sân, si là tâm lý gốc dẫn đến các tội lỗi.
-         Bốn vì chính đây là vị thuốc hay để chữa bệnh khô gầy.
-         Năm vì thành tựu đạo nghiệp mà ứng thọ thức ăn này.
3.      Khi ăn cần tránh những tâm lý và hành vi xấu.
-         Không nên chê khen đồ ăn ngon hay dở.
-         Không nên ném đồ ăn cho chó.
4.      Hạn chế nói chuyện cười trong lúc ăn.
-         Đồ ăn đem thêm nếu không ăn thì dùng tay ra dấu chứ không dùng bằng lời nói.
-         Không nên gãi đầu khi đang ăn.
-         Không nên ăn nhai thành tiếng.
5.      Những hành vi cần có khi ăn.
-         Trong đồ ăn lỡ có sâu bọ nên kín đáo lấy ra, chớ để người khác thấy anh tâm không muốn ăn.
-         Phải ngồi ăn một lần, không nên đứng dậy rồi ngồi ăn lại.
-         Không nên lấy tay vét chén bát mà ăn, cũng không nên lấy lưỡi mà liếm.
6.      Thái độ ăn.
-         Không được ăn quá nhanh.
-         Khi đồ ăn hết thị giả chưa đem lên kịp không khởi tâm sầu não.
-         Khi muốn nhu cầu them nên dùng tay ra hiệu chứ không được réo gọi.
-         Không được khua bát thành tiếng.
-         Không được ăn xong đứng dậy trước chúng (trừ bệnh và chánh vụ).
-         Ăn xong xỉa răng nên lấy tay che miệng. TỔ QUY SƠN dạy:
                        宛缽作聲食畢先起,
                        去就乖角僧體全無,
                        起坐忪諸動他心念。
Đại luật: Có một vị tỳ kheo ăn xong lặng lẽ đứng dậy một mình đi, tín thí thấy họ bảo với nhau không biết thầy ấy ăn thiếu hay đủ nhỉ? Một vị tỳ kheo khác nhân đó bạch Phật. Phật dạy: Kể từ hôm nay tỳ kheo ăn xong nên vì đàn việt tụng bài kệ:
                        Sở vị bố thí giả
                        Tất hoạch kỳ lợi ích
                        Nhược vị lạc bố thí
                        Hậu tất đắc an lạc.
7.      Thuận theo tăng chế và tiết kiệm phước đức.
-         Nếu ai vi phạm tăng chế, nghe bạch chùy không được kháng cự không phục.
-         Nếu trong cơm có lúa thì phải bóc vỏ mà ăn (nếu lúa nhiều thì dồn lại sau đó đem cho gà vịt, chim chóc ăn).
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ.
-         Không được thấy đồ ăn ngon mà khởi tham tâm, khoái khẩu mà ăn.
-         Không được ăn riêng chúng.

* YẾU GIẢI:
Khất thực là truyền thống của chư Phật ba đời. Ngày nay hàng tăng sĩ chúng ta phần nhiều không thực hành được thiện hạnh đó. Chúng ta phải tự nhận thấy, dù có biện bác gì đi nữa thì cũng xa với hạnh Phật. Vì thế khi ăn lúc nào chúng ta cũng khởi tâm tàm quý, phải như pháp mà ăn, không nên vọng động xem thường và phải nhớ lời Phật dạy.
若慚愧者可名為人,若不慚愧與諸禽獸無相異也。


Tổng quát thiên thứ 6: LỄ BÁI
Thiên này chia 2 phần (gồm 10 việc).
Phần thứ nhất nói 3 oai nghi chính.
1.      Khi lễ bái phải kính nhường vị trí của trú trì và tôn trọng người khác đang lễ bái.
-         Lễ bái không được đứng chính giữa chánh điện vì đây là vị trí của vị trú trì.
-         Có người lễ Phật không được đi ngang qua trên đầu họ.
2.      Lễ Phật phải đủ oai nghi và đúng thời.
-         Phàm chấp tay không được 10 ngón so le, không được rỗng ở giữa, không được lấy ngón tay cắm vào mũi, phải chấp tay ngang ngực cao thấp vừa chừng.
-         Không được phi thời lễ bái, như muốn lễ bái phi thời phải đợi mọi người vắng.
3.      Phải tôn sư trọng pháp.
-         Thầy lễ Phật không được ngang cùng Thầy đảnh lễ, phải lễ bái phía sau lưng Thầy.
-         Thầy bái chào người khác không được cùng Thầy đồng lễ.
-         Trước mặt Thầy không được cùng người đồng bậc lạy nhau.
-         Trước mặt Thầy không được nhận sự lễ bái của người.
-         Tay mình đang cầm kinh, tượng không được vì người vái chào (hoặc lạy).
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ.
-         Phàm lễ bái phải tinh thành tác quán (giáo lý liệt kê 7 cách lạy không thể không biết cần nghiên cứu 7 cách lạy).

* YẾU GIẢI:
Lễ bái là một pháp môn trong muôn ngàn pháp môn tu tập khác. Khi lễ bái phải thành tâm thành tín mới có lợi ích. Khi lễ bái phải biết giữ oai nghi đúng cách và không nên phi thời. Ở đây cần lưu ý là trong bảy cách lễ mà ngài Lặc Na Tam Tạng đã dạy, thì ngã mạn lễ và cầu danh lễ là 2 cách mà ngài bảo là Phi lễ. Chúng ta nên hiểu qua ý nghĩa của nó mà tránh.
a.      我慢禮Ngã mạn lễ: Nghĩa là thân tuy lễ bái nhưng trong tâm không có sự cung kính. Bên ngoài tợ hồ như cung kính nhưng bên trong đầy ắp cả tâm lý cống cao ngã mạn.
b.      求名禮Cầu danh lễ: Còn gọi là xướng hòa lễ. Nghĩa là khi lễ bái chỉ vì danh dự lợi dưỡng mà trá hiện oai nghi vậy thôi. Tuy vẫn gọi là có lễ bái trên hình thức nhưng thật ra trong tâm thì không có sự ân cần, tôn trọng. Miệng xướng danh hiệu nhưng trong tâm hướng ra ngoại cảnh, chúng ta cần phải thận trọng và ý thức trong pháp môn tu này.

Tổng quát thiên thứ 7: THÍNH PHÁP
Thiên này chia hai phần (gồm 9 việc).
Phần thứ nhất nói những oai nghi chính trước và trong khi nghe Pháp.
-         Thấy có treo bảng thượng đường thì phải lên giảng đường ngay.
-         Tề chỉnh y phục.
-         Nhìn thẳng thân ngay đi lên giảng đường.
-         Nhẹ nhàng khi ngồi vào ghế.
-         Ngồi ngay thẳng.
-         Không được nói chuyện lung tung.
-         Không được ho và khạc nhổ lớn tiếng.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ.
-         Phải yên lặng lắng nghe khi Thầy giảng Pháp.
-         Nghe xong phải suy ngẫm.
-         Suy nghĩ rồi phải tu.
-         Không nên chuyên ghi nhận danh ngôn để cung để cung cấp cho việc đàm luận.
-         Không nên chưa lãnh hội mà nói là đã lãnh hội, vào tai ra miệng (cho như vậy là đủ).
-         Sa Di tuổi còn nhỏ, giới luật chưa nắm chắc, cần phải học luật trước. Không nên đến chỗ giảng Pháp sớm.

* YẾU GIẢI:
Nghe Pháp có hai điều cần lưu ý:
a.      Khi nghe Pháp phải đủ ba món: Văn, tư, tu. Văn tư tu là ba món huệ cần phải đủ, nếu thiếu một thì sự nghe Pháp không đem lại lợi ích. Nếu nghe mà không suy nghĩ, thì giống như cày ruộng mà không gieo giống. Nếu suy nghĩ mà không tu tập chẳng khác nào gieo giống rồi mà không vô nước,nhổ cỏ bón phân vậy.
b.      Chuyên ký danh ngôn là chỉ nghe văn tự ngôn ngữ rồi ghi nhận để vào tai ra miệng. Đây là lối nghe Pháp của những người mà trong Kinh dạy: Ví như người nói món ăn mà không ăn, như người đếm tiền cho kẻ khác, hoàn toàn chẳng giúp ích gì cho bản thân. Chúng ta nên đọc lại một vài đoạn Kinh, Luật để ý thức.
楞嚴經曰:  此方真教體,聲凈在音聞。
欲得三摩地,寔以聞中人。
付法藏經:佛言;一切眾生,欲出生死海必假法船,方得度脫。法為清涼,除煩惱熱,法是妙藥,能愈劇病,法是眾生真善知識,作大利益,濟諸苦惱。所以然者?一切眾生志性無定,隨所染習,近善則善,近惡則惡,若近惡友,便造惡業,流轉生死,無有邊際。若近善友,起信敬心,聽聞妙法,必能令離三塗苦惱,由此功德受最妙樂。
誠梵云:凡沙彌學心,當如旱地涸池,不厭多聞不棄寸陰。若遇法師上座。講說經論,了義之法,當虛心諦聽,於說法者,如父母本師想。於所聞法,如饑受食,渴飲湘想。





Tổng quát thiên thứ 8: TẬP HỌC KINH ĐIỂN
Thiên này chia hai phần (gồm 19 việc).
Phần thứ nhất nói về ba oai nghi chính:
1.      Học tập Kinh điển phải theo thứ lớp
-         Nên học Luật trước rồi học Kinh sau.
-         Không nên bỏ Luật để học Kinh trước.
-         Trước khi học Luật hay Kinh gì phải bạch Thầy.
-         Học xong Kinh, Luật phải bạch Thầy mới học Kinh khác.
2.      Kính Pháp trọng người đang học Kinh
-         Không được dùng miệng để thổi bụi trên Kinh.
-         Không được trên bàn Kinh để các vật dụng lộn xộn khác như trà lá ấm bình…
-         Người đang xem Kinh không nên đi ngang trước bàn Kinh.
3.      Lời răn Sa Di phải biết việc mình làm.
-         Việc chính của Sa Di là học tập Kinh Luật (nội điển).
-         Không nên học tập ngoài thư, tử sử các loại sách dịch của tehes gian nói về việc trị thế.
Phần thứ hai nói về bốn oai nghi phụ:
1.      Cấm không được học Kinh điển ngụy tạo tương trợ.
-         Không được tập học các loại Kinh điển chuyển để ứng phó đạo tràng.
-         Không được học tập những Kinh điển ngụy tạo như: Kinh cứu khổ, Kinh phân châu, Kinh diệu sa và huyết bồn.
2.      Cấm học tập ngoại thư.
-         Không được học tập sách coi số mạng, xem tướng, sách thuốc, sách nhà binh, sách bói toán, sách thiên văn, địa lý cho đến sách mang tính cách thần kỳ, quỷ quái, sách ngoại đạo, trừ lực hữu dư.
3.      Không được dụng công học kỹ xảo thế gian.
-         Không được học tập thi từ.
-         Không được đam mê tập viết chữ tốt mà quên học.
4.      Tôn sùng chính đạo
-         Không được tay nhớp cầm Kinh.
-         Đối với Kinh như đối với Phật.
-         Không được đọc Kinh quá lớn tiếng làm động chúng.
-         Không được mượn Kinh xem rồi không trả lại.
-         Mượn Kinh xem phải giữ gìn cẩn thận đừng để rách nát.

* YẾU GIẢI
-         Giữ đúng thời gian tiết thứ gọi là tập“時不失持曰習”。
-         Chuyên tinh thọ Pháp gọi là học“受法專精曰學”。
-         Giới luật được gọi là điều phục. Tâm tình chúng ta phần nhiều chưa định cho nên học luật trước là để điều phục, định tâm và thân. Cũng như trồng cây phải vun bồi gốc (học luật trước). Trồng cây rồi phải lo nước non, phân bón gốc rễ mới ăn sâu vào long đất, hoa lá mới phát triển, kết quả mới sung mãn.
-         Người khác đang xem Kinh không đi qua trước mặt, vì khi xem Kinh cần phải yên lặng để lắng đọng tâm tư và suy nghiệm cho thẩm thấu ý Kinh. Nếu đi qua sẽ làm cho họ sanh tâm động niệm, mất sự lợi ích.
-         Kinh sách hư hoại phải kịp thời tu bổ, không được để bừa bãi lộn xộn không đúng thứ lớp.
文殊經云:一世莊嚴供具,如口吹灰者,墮優缽羅獄,傍報作風神王。
沙彌十戒經云:首軸脫落,部帙失次,紙墨破列等,若不須理得罪。
-         Việc chính yếu cần làm trước tiên là học nội điển cho thuần thục, nếu dư sức rồi mới nên nghiên cứu them sách vở ngoại điển. Với mục đích để tô bồi kiến thức, thứ đến là để biết người biết ta trong việc tu tập.
佛藏經云:當來比丘好讀外經,於說法時,莊校文辭令眾歡喜,是諸人等為魔所惑,覆障慧眼深貪利養,猶如群盲為誑所欺。
輔行云:若為降伏外道故,十二時中,許一時習學外典。
-         Sa Si bổn nghiệp chưa thành mà chỉ lo tập học Kinh điển, lo việc cúng cấp nhiều thì bị lợi dưỡng cám dỗ và sẽ quên mất đi phẩm hạnh của mình. Nhưng xét thời đại nầy không thể khác được, cho nên chúng ta phải biết cảnh tỉnh và luôn thấy tàm quý.
故經云:當來世中,多有惡鬼受生人間,當壞噁心,時起諍論,各各來於名譽利養,偽造經書及諸符咒,自讃毀他令修學人,不知如向,盲於正眼失其正見是也。
(外書)Là những loại sách nói về việc xem tướng số, bói toán, sao hạn…Để tỏ thái độ và lập trường khi học tập kinh điển, chúng ta đừng quên lời dạy trong kinh Pháp Cú:
                        Tâm làm chủ sai sử
                        Tâm dẫn đầu các pháp
                        Nói năng hay hành động
                        Với tâm ý nhiễm ô
                        Đau khổ liền theo ta
                        Như bóng theo sau hình.

                        Tâm làm chủ tâm sai sử
                        Tâm dẫn đầu các pháp
                        Nói năng hay hành động
                        Với tâm ý thanh tịnh
                        Hạnh phúc liền theo ta
                        Như bóng theo sau hình.
-         Học tập kỹ xảo làm mất thì giờ không cần thiết cho sự giải thoát.
-         Tập học thơ từ dễ làm xao động tâm tư, vì thi từ chỉ là sáo ngữ để mua chuộc long người, không phải là ngôn ngữ từ cõi lòng chân thật, nên người học đạo không nên tập học vậy.





Tổng quát thiên thứ 9: ĐI ĐẾN CÁC TỰ VIỆN
Thiên này chia hai phần (gồm 7 việc):
Phần thứ nhất nói cách thức đi vào cổng chùa.
Vào cổng chùa không đi cửa giữa mà phải đi bên tả hoặc bên hữu mà vào.
Phần thứ hai nói vào điện tháp phải giữ oai nghi như Pháp.
-         Không được vô cớ vào đại điện dạo chơi.
-         Không được vô cớ vào tháp dạo chơi.
-         Vào đại điện hoặc tháp phải đi vào bên hữu.
-         Không được khạc nhổ trong điện tháp.
-         Nhiễu Phật hoặc nhiễu tháp phải đúng số và nhớ số 3 vòng, 7 vòng, 10 vòng cho đến 100 vòng.
-         Không được đem nón gậy vào điện tháp và không để gậy nón dựa vào tường.

* YẾU GIẢI
Mọi Pháp môn của Phật giáo đều là biểu tượng và tùy cơ để thi thiết biểu tượng chứ không nhất định. Nếu thi thiết đúng thời cơ là Phật giáo, ngược lại thì dù dưới dạng thức nào cũng là tà giáo.
-         Chữ 寺tự: Chùa, nguyên được dùng từ thời Hậu Hán. Đến thời Ngụy Thái Võ Đế gọi là Chiêu Đề招提. Đến thời Tùy Dương Đế gọi là Đạo Tràng道場. Đến đời nhà Đường gọi là 寺Chùa.
-         Hữu nhiễu: Biểu hiện tinh thần thích nghi của Phật giáo. Hành động của Phật giáo không ngược lại thực tại vận hành của thế gian (vũ trụ vạn hữu).
-         Đi ba vòng: Biểu thị thanh tịnh tâm nghiệp, cúng dường Tam Bảo, đoạn trừ tam độc để chấm dứt trôi lăng trong tam đồ ác đạo.
-         Đi bảy vòng: Biểu thị trừ thất chi tội (thân tam khẩu tứ), chứng đắc thất chi phần thánh đạo.
-         Đi mười vòng: Biểu thị đoạn trừ thập sử (còn gọi十漏惑, hoặc十根本煩惱), (ngũ độn sử và ngũ lợi sử). Theo Trí Độ Luận gọi là 10 triền cái (chứng đắc佛十力).
-         Đi một trăm vòng: Biểu thị đoạn trừ 100 phiền não (số nhiều), chứng đắc vô lượng diệu dụng.

Tổng quát thiên thứ 10: THEO CHÚNG VÀO THIỀN ĐƯỜNG.
Thiên này chia hai phần (gồm 17 việc):
Phần thứ nhất nói ba oai nghi chính:
1.      Giữ gìn tâm ý và hưng khởi từ tâm.
-         Ở trên đơn không được đập rũ mền chiếu gây tiếng làm động chúng, và bụi dơ bay làm người gần đơn sanh phiền não.
-         Xuống đơn thì phải thong thả nhẹ nhàng, mặc niệm bài kệ: Tùng triêu dần đán trực chí mộ…
2.      Cẩn thận giữ dìn khẩu và thân nghiệp.
-         Không được to lời lớn tiếng.
-         Nhẹ nhàng khi xếp mùng mền và vén màn (xếp cất đàng hoàng).
-         Không được kéo lê giày dép gây tiếng động ồn ào.
-         Không được ho khan ho đàm lớn tiếng.
-         Không được cùng người lân đơn cùng bàn tán chuyện thị phi ở đời.
3.      Đối với mọi sinh hoạt riêng và chung phải tuân thủ theo quy chế.
-         Có đạo bạn thâm tình đến thăm không được ngồi trong thiền đường nói chuyện lâu, phải mời ra một nơi thích hợp để cùng đàm đạo.
-         Nếu xem Kinh phải ngồi ngay thẳng, lắng lòng suy ngẫm ý nghĩa của Kinh, không nên đọc lớn tiếng.
-         Nghe bảng đánh phải lên thiền đường, tìm chỗ ngồi rồi mặc niệm kệ: Chánh thân đoan tọa đương nguyện chúng sinh…

* YẾU GIẢI:
Ngày xưa chúng tăng tu tập và ngủ nghỉ đều tập trung một chỗ, nên thiền đường ở đây là kể cả phòng ngủ của Tăng chứ không như ngày nay thiền đường tách riêng phòng ngủ. Tuy trên mặt hình thức có sự sai khác theo từng thời đại, nhưng nội dung vẫn giữ đúng các uy nghi và thanh quy mà chư Tổ đã để lại. Ngài TỪ THỌ THÂM THIỀN SƯ có dạy rằng:
若是舊時道伴遠地深情,相引林下水邊,方可傾心談論,至於交關賣買,引惹雜人盡非衲子所為。

Phần thứ hai nói các oai nghi bổ khuyết:
-         Không được đi thẳng qua thiền đường mà phải đi vòng sau hoặc hai bên.
-         Lên xuống giường phải giữ tế hạnh, đừng để người lân đơn động niệm.
-         Không được ngồi trên đơn viết văn tự trừ khi toàn chúng đều xem Kinh điển hoặc tọa thiền.
-         Không được trên thiền sang ngồi mà vá y áo mền nện…
-         Không được ban đêm trên thiền sang xúm nhau bày trà nước nói chuyện làm động chúng.
十戒經云:食則無語,臥則無談,坐則禪思,起則諷誦,戒行如此真佛弟子。如臥鄰單說話,大眾嫌疑,師長呵嘖,如是之人終成廢物。

* YẾU GIẢI:
Thiền đường là nơi cần được giữ yên tịnh, mọi sự qua lại không cần thiết nên giới hạn nhất là giờ chỉ tịnh. Ở trong thiền đường mọi sinh hoạt cần đủ oai nghi và đúng giờ giấc, đây cũng là một nếp văn minh, nếu những vấn đề này mà thiếu sự nghiêm túc thì đối với việc giải thoát còn quá xa vời, chúng ta nên cẩn trọng đừng xem thường.




Tổng quát thiên thứ 11: CHẤP TÁC
Thiên này chia 2 phần (gồm 12 việc).
Phần thứ nhất nói ba oai nghi chính.
1.      Dùng vật của Tăng phải biết giữ gìn và đứng theo phép tắc.
-         Phải biết thương tiếc vật dụng của Tăng chúng.
-         Phải nghe theo sự phân bố công việc của Thầy tri sự, không được cãi lại.
-         Phàm rửa rau cải phải thay nước ba lần.
2.      Thức ăn nước uống của chúng phải làm sạch sẽ.
-         Trước khi lấy nước phải rửa tay sạch sẽ.
-         Dùng nước phải xem kỹ có sâu bọ gì không rồi lọc kỹ.
-         Mùa đông không được lọc nước trước lúc mặt trời mọc.
-         Đốt bếp không được dùng củi mục.
-         Làm đồ ăn không được để móng tay nhớp.
3.      Bảo hộ sanh mạng như lời Phật dạy.
-         Phàm đổ nước dơ không được đổ giữa đường, không đưa lên cao đổ xuống mà phải hạ thấp cách mặt đất khoảng chừng 4 hoặc 5 tấc và đổ từ từ.
-         Phàm bao sái không được quét mạnh làm bụi bay, không được quét dồn rác bụi sau cánh cửa.
-         Trước khi giặt áo quần phải lượm chí rận rồi mới được giặt.
-         Mùa hè thau nước dùng xong phải úp lại vì nếu để ngửa dễ sanh trùng.
Phần thứ hai nói các oai nghi phụ:
-         Không được đổ nước sôi xuống đất.
-         Tất cả các thứ rau, cải, lúa, gạo…phải luôn luôn biết thương tiếc giữ gìn đừng vứt bỏ bừa bãi.

* YẾU GIẢI:
Chấp tác là làm những công việc bình thường hằng ngày trong mọi sinh hoạt của chúng Tăng. Mọi thành viên Tăng đều phải ý thức trách nhiệm và vận dụng sự tu tập trong công việc đó. Bởi thế khi ra làm việc phải giữ chánh niệm, thực hành đúng oai nghi của Phật chế để khỏi tổn hại vật của thường trú Tăng và khỏi cô phụ đạo tâm của đàn na tín thí.
Trích them một vài đoạn trong Kinh luật để chúng ta lưu ý khi chấp tác.
Sa Di Thập Giới Kinh có nói rằng: Không được nhúm củi tươi và củi ướt, không được để móng tay dài, dài bằng hạt bắp là phải cắt.
長爪即非好僧是為惡僧也。
 Trong Ký Quy truyện có dạy rằng: Làm đồ ăn để cúng dường Phật, Tăng nếu không rửa tay, súc miệng và dụng cụ để đựng không sạch thì sự cúng dường không mang lại lợi ích đích thực, mọi sở cầu đều không được linh nghiệm.
百綠經云:掃地得五種功德。一自除心垢,二除地心垢,三憍慢心,四調伏心,五增長功德得生善處。

Tổng quát thiên thứ 12: VÀO NHÀ TẮM
Thiên này chia hai phần (gồm 12 việc).
Phần thứ nhất nói 2 oai nghi chính:
1.      Phải tắm đúng oai nghi (thứ tự và nhẹ nhàng).
-         Trước hết phải gội đầu, rửa mặt rồi từ từ tắm từ trên xuống.
-         Không được tắm gội thô tháo làm nước vung nhằm người khác.
-         Không được tiểu tiện trong phòng tắm.
2.      Phải tránh sự gây hiềm khích.
-         Không được rửa chỗ kín.
-         Nếu có ghẻ lở mụn nhọt nên tắm sau chúng.
-         Hoặc có ung nhọt (ung thư) đáng sợ càng nên tránh để khỏi gai mắt người.
-         Không được cố ý tắm lâu làm cản trở người khác muốn tắm.
Phần thứ hai nói các oai nghi bổ khuyết.
-         Cởi áo, mặc áo nên thong thả nhẹ nhàng.
-         Trước khi tắm phải tẩy tịnh (rửa chỗ khuất).
-         Khi tẩy tịnh phải giữ tế hạnh, không được làm nước tẩy tịnh rơi vào bồn chứa nước tắm.
-         Nếu cần nước nóng hoặc lạnh nên y lệ mà đánh bảng, nhưng không được đánh bảng quá lớn.

* YẾU GIẢI
Phòng tắm là nơi cần phải giữ vệ sinh liên tục, nếu phòng tắm mất vệ sinh thì sẽ gây bệnh hoạn cho những người yếu khi vào tắm.
Bởi thế tất cả chúng Tăng mỗi cá nhân đều phải tự ý thức giữ gìn. Không để quần áo, khăn tắm chưa giặt trong phòng tắm làm xú khí độc hại. Tắm xong phải nhìn lại phòng tắm đã sạch sẽ chưa trước khi đi ra. Xem thau chậu đã úp chưa, đừng để người vào tắm sau phiền não mà tổn phước.
Theo đại luật chỉ dẫn việc tắm rất kỹ càng, chúng ta cần phải thận trọng lưu tâm đừng cho là việc tế toái. Đây cũng là nét văn minh văn hóa mà thiền môn không thể xem thường.

Tổng quát thiên thứ 13: VÀO NHÀ XÍ
Thiên này chia 2 phần.
Phần thứ nhất nói 3 oai nghi chính:
1.      Tri thời cập thời và giữ oai nghi.
-         Muốn đại tiểu tiện phải đi liền đừng để trong bức xúc phải gấp gáp.
-         Cởi áo ngoài (áo tràng, áo nhật bình) vắt lên sào tre phải ngay ngắn, lấy khăn tay hoặc dây lưng buộc lại, một là để dễ nhìn nhận hai là để khỏi rơi xuống đất.
-         Phải đổi giày dép để đi vào nhà xí.
2.      Trong nhà xí phải giữ tâm ý.
-         Trước khi vào nhà xí phải gảy móng tay ba lần để báo cho người trong biết nếu có (có hay không cũng phải giữ lệ).
-         Không được hối thúc người ở trong mau ra.
-         Vào nhà xí xong trước khi đi đại tiểu tiện lại phải gảy móng tay ba lần nữa và giữ gìn tâm ý mặc niệm bài kệ:
                        Đại tiểu tiện thời,
                        Đương nguyện chúng sanh
                        Khí tham sân si
                        Quyên trừ tội pháp
                        Án ngận lỗ đà da tóa ha.
-         Không được cúi đầu nhìn xuống.
-         Không được viết vẽ xuống nền hoặc lên tường.
-         Không được rán hơi ra tiếng.
-         Không được cách tường cùng người nói chuyện.
-         Không được khạc nhổ vào tường.
3.      Không nên xem thường về sự và lý mà bị lỗi.
-         Đại tiểu tiện xong đi ra gặp người khác nhất là các vị lớn không nên chào hỏi mà nên tránh né một bên để đi.
-         Không được vừa đi vừa buộc dây áo quần.
-         Đại tiểu tiện xong phải rửa tay thật sạch, chưa rửa thì không được cầm nắm vật khác.
-         Khi rửa tay mặc niệm bài kệ:
Dùng nước rửa tay
Xin nguyện chúng sanh,
Được tay trong trong sạch,
Thọ trì Phật pháp,
Án chủ ca ra da tóa ha.
Phần thứ hai nói về các oai nghi phụ:
-         Nếu đi tiểu tiện phải vén tay áo và rửa tay sạch sẽ.
-         Không được mang áo tràng hoặc nhật bình khi tiểu tiện.


* YẾU GIẢI:
Quan phần chánh văn ta thấy Đức Bổn Sư đối với hàng đệ tử chúng ta, không một hành động cử chỉ nào mà ngài không để ý lưu tâm, cho dù những việc nhỏ nhặt bình thường ngài cũng chỉ dạy tận tường. Qua thiên này chúng ta thấy Đức Bổn Sư muốn dạy chúng ta, trọng mọi thời gian hoàn cảnh nào cũng thế, người xuất gia học đạo cần phải giữ oai nghi tế hạnh, đừng xem thường bất cứ một cử động nào mà không nhiếp niệm quán tưởng tấn tu. Hơn thế nữa những điều dạy trong thiên nầy dù ngôn ngữ dùng để diễn đạt cho bối cảnh xa xưa, nhưng so với nền văn minh hiện đại cũng chỉ đạt đến hai phần ba theo phép vệ sinh là cùng, cho nên chúng ta phải thận trọng hành vi và phong thái sống của mình.

Tổng quát thiên thứ 14: NẰM NGỦ
Thiên này chia làm hai phần (gồm 7 việc).
Phần thứ nhất nói 2 oai nghi chính:
1.      Nằm ngủ phải giữ oai nghi như Pháp
-         Nằm ngủ phải nghiêng về hông phải.
-         Không nên nằm ngửa.
-         Không nên nằm sấp.
-         Không nên nằm nghiêng về hông trái.
2.      Phải biết vị trí và giữ tôn ty khi nằm ngủ.
-         Không được nằm ngủ chung phòng, chung giường với Thầy, có thể cho phép nằm chung phòng nhưng không nằm chung giường.
-         Không được ngủ chung giường với Sa Di.
-         Trong phòng ngủ giày dép và tiểu y (áo lót) không được treo quá đầu.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ.
-         Không được cởi áo để nằm ngủ.
-         Không được trên giường ngủ nói cười lớn tiếng.
-         Không được trước thánh tượng và nơi pháp đường mang dụng cụ đựng đồ uế trược đi qua.
* YẾU GIẢI:
Nằm ngủ nghiêng hông về bên phải là Pháp do Thế Tôn chế ra, qua kinh nghiệm bản thân có lợi ích mà Ngài chỉ dạy. Ngài dạy nằm ngủ nghiêng về bên phải là cát tường thùy, khi nằm xuống giữ tâm ý thanh tịnh, nghiêng về hông phải, tay phải làm gối đầu, tay trái duỗi thẳng theo chân, tâm niệm hướng về Tam Bảo thì ngủ sẽ an giấc và không có ác mộng.
Theo Kinh Bảo Lương: Nằm ngửa là cách ngủ của A Tu La, nằm sấp là cách ngủ của Ngạ Qủy, nằm nghiêng bên trái là cách ngủ của kẻ tham dục, nằm nghiêng bên phải là phương pháp tốt nhất của người xuất gia đệ tử Phật, chúng ta nên thực hành thì sẽ thấy kết quả an lạc cho thân tâm.

Tổng quát thiên tứ 15: QUANH LÒ LỬA
Thiên này chia 2 phần (gồm 4 việc):
Phần thứ nhất nói khi ngồi lửa nên lưu ý tránh sự hiềm khích.
-         Không được giao đầu tiếp nhĩ nói chuyện lung tung.
-         Không được gẩy cáu bẩn trong móng tay vào lửa.
-         Không được hong hơ giày dép.
Phần thứ hai nói khi ngồi lửa phải tự xét.
-         Không được ngồi quá lâu làm choáng chỗ người khác muốn ngồi.
-         Vừa được ấm thì phải tức thời đứng dậy về chỗ của mình ngay.

* YẾU GIẢI:
Ngày xưa Đức Phật chế ba y để thích ứng ba mùa của xứ Ấn Độ. Song Phật Pháp thời diêu, truyền qua Đông Độ phong thổ không đồng, đạo tâm di mại, chư Tổ phải phương tiện tùy nghi tùy chế để thích ứng với căn cơ chúng sinh trong thời mạt Pháp. Tuy vậy, dù phương tiện quyền khai thế nào đi nữa, các ngài cũng không quên nhắc nhở những hạnh lành và luôn coi trọng thời gian là vàng ngọc cho việc tấn tu. Đại Luật có dạy: “Khi ngồi lửa không được gãi đầu làm gàu và tóc rơi vào lửa, không nên khạc nhổ vào lửa, không được bỏ móng tay, da dẻ và các thức ăn vật uống cũng như các loại độc dược khác vào lửa”. Trong Thanh Quy có nói: Không được khi ngồi lửa khêu tro là bụi tung lên hại đến mắt mình và người. Ở Tục Tạng có dạy rằng: Ngồi lửa có năm điều hại: 1. Nhan sắc hư hoại. 2. Khí lực bị giảm. 3. Dễ bị bệnh mờ mắt. 4. Dễ phát sinh tâm trạo cử. 5. Là cơ hội để bị lỗi bàn luận thị phi. Chúng ta nên cẩn thận suy ngẫm lời Phật Tổ, đừng cho là việc thường không dính dấp với thời đại mà có lỗi.

Tổng quát thiên thứ 16: Ở TRONG PHÒNG
Thiên này chia hai phần (gồm 6 việc):
Phần thứ nhất cần giữ thái độ kính trọng nhau:
-         Ở chung phòng phải giữ tôn ti trật tự và vấn tấn nhau.
-         Muốn thắp đèn hay tắt đèn phải báo trước với mọi người.
-         Tắt đèn không được dùng miệng để thổi.
-         Niệm Phật, tụng kinh không nên to tiếng.
Phần thứ hai giữ tâm thỉ chung với nhau:
-         Nếu có người bệnh phải chăm sóc chu đáo thỉ chung và luôn luôn khởi tâm từ khi săn sóc bệnh.
-         Nếu người đang ngủ không nên động chạm vật dụng và to tiếng nói cười.
-         Không nên vô cớ đi vào phòng khác.

* YẾU GIẢI:
Là người xuất gia, miến ly hương đảng thế phát thế bẩm sư thì nội cần khắc niệm chi công ngoại hoằng bất tránh chi đức. Lấy Phật làm cha, lấy Pháp làm mẹ, Thầy Tổ đạo bạn là thân bằng quyến thuộc. Thế nên chúng ta phải thật sự thương mến bảo ban cho nhau để cùng nhau hướng đến một mục đích chung là giải thoát, giác ngộ. Song thực tế thì không dễ gì, vì tự ngã còn y sì, tha nhân chưa đồng nhất. Bởi thế mà trong sự tương giao hàng ngày, chúng ta lắm lúc vô tình làm đánh mất cái thực tại trước mắt là đối tượng gần nhất hỗ trợ sự giải thoát cho chúng ta. Chúng ta đừng cho là tình tiết tế toái mà quên mất sự lợi ích thiết thực của nó.

Tổng quát thiên thứ 17: ĐẾN CHÙA NI (Ni ngược lại)
Thiên này chia hai phần (gồm 10 việc).
Phần thứ nhất nói 2 oai nghi chính:
1.      Đến chùa ni phải giữ oai nghi và tránh hiềm nghi.
-         Có chỗ ngồi riêng mới được ngồi, không có không ngồi.
-         Không nên thuyết pháp vi thời do nể vì.
-         Về chùa không được nói chuyện tốt xấu của ni.
2.      Tránh nghi nan
-         Không nên thư từ qua lại và nhờ cắt may giặt rửa.
-         Không được tự tay thế phát cho ni.
-         Không được cùng ni ngồi chỗ khuất.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ
-         Nếu không có hai người không nên đơn độc đến chùa ni.
-         Không được trao tặng quà cáp lễ vật cho nhau.
-         Không được cậy nhờ ni đến nhà đàn việt giàu có để hóa duyên và xin tụng niệm kinh sám…
-         Không được cùng ni kết thân làm cha mẹ, chị em, bạn bè.
(Ni ngược lại)

* YẾU GIẢI:
Là Sa Di không được tự tiện đơn độc đến chùa ni, nếu có việc Thầy sai đi khi đến phải giữ gìn oai nghi, nhiếp niệm, không được đi dạo quanh, không được xuống nhà trù, các cô hỏi điều gì thì trả lời nghiêm túc, không được vừa nói vừa cười. (Ni ngược lại).





Tổng quát thiên thứ 18: ĐẾN NHÀ NGƯỜI
Thiên này chia 2 phần (gồm 21 việc).
Phần thứ nhất nói bốn oai nghi chính:
1.      Phải quán cơ để thuyết giáo:
-         Có chỗ ngồi riêng mới được ngồi.
-         Người có hỏi Kinh phải quán cơ và biết thời, cẩn thận chớ nên nể vì mà thuyết Pháp phi thời.
2.      Luôn giữ oai nghi và nghiêm trì luật chế.
-         Không được cười nhiều.
-         Chủ nhân mời thọ thực tuy không phải nơi Pháp hội nhưng đừng để mất oai nghi phép tắc của mình.
-         Không đến nhà người vào ban đêm.
-         Không được trong phòng không có người hoặc ở chỗ khuất kín cùng với người nữ nói chuyện. (Ni ngược lại).
-         Không được thư từ qua lại…đồng thiên trước.
3.      Đủ oai nghi để tha nhân phát tín tâm.
-         Nếu về nhà thăm thân quyến, trước hết phải vào gian nhà giữ lễ Phật hoặc thánh tượng trong gia đường, hỏi han thăm viếng chu đáo theo tôn ti. Trước hết hỏi thăm cha mẹ rồi đến anh chị em, bà con thân quyến nội ngoại, mỗi mỗi đều phải ân cần.
-         Không nên về nhà cha mẹ nói chuyện Thầy nghiêm, sự khó khăn, tân khổ, buồn bã ảm đạm trong cuộc sống của người xuất gia…Nên vì cha mẹ mà nói chuyện Phật Pháp để cha mẹ tăng phát niềm tin Tam Bảo.
4.      Luôn luôn nhiếp niệm.
-         Không được cùng trẻ con, thân quyến đứng ngồi nói chuyện nhảm nhí và cười giỡn lâu. Cũng không nên hỏi chuyện tốt, xấu, vui, buồn, phải, trái trong thân tộc.
-         Nếu trời tối phải ở lại đêm, nên ở nơi độc lập, có giường riêng, ngồi nhiều nằm ít, nhất tâm niệm Phật, việc xong nên về không được nán ở lại.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ
1.      Khua tà niệm hiển chánh tâm.
-         Không được liếc ngó hai bên bằng tâm bất chánh.
-         Không nói chuyện nhảm nhí.
-         Không nên nói nhỏ lời thấp tiếng và nhiều lời với nữ nhân. (Ni ngược lại).
-         Không được trá hiện oai nghi, giả trang thiền tướng để mong được sự cung kính.
-         Không được dối trá Phật Pháp, trả lời biện bác lung tung để họ nghĩ mình là đa văn học rộng với mục đích mong sự cung kính.
2.      Xa rời ác hạnh.
-         Không được biếu tặng quà cáp học theo thói xã giao qua lại của bạch y.
-         Không nên cai quản việc nhà người.
-         Không được ngồi la cà nơi quán rượu.
-         Không được kết bái làm cha mẹ chị em với hàng bạch y.
-         Không nên nói lỗi trong Tăng cho hàng bạch y nghe.

* YẾU GIẢI:
Người xuất gia và hàng tại gia mỗi bên đều có nề nếp và cốt cách riêng biệt. Người xuất gia cuộc sống được gọi là nghịch lưu, nói cách khác cuộc sống của người xuất gia là ngược với dòng đời chứ không cách ly đời. Bởi thế, có khi phải liên hệ qua lại, nhưng cần phải luôn luôn tỉnh giác chánh niệm, cẩn thận oai nghi giao tiếp, đừng quá tùy duyên mà bị duyên biến. Phải nhớ mọi hành vi của người xuất gia không vượt ngoài mục đích tự độ độ tha, không phân biệt thân sơ quý tiện mà phải đối đãi bình đẳng trên tinh thần trách nhiệm hướng đạo tha nhân. Luôn luôn chân thật, không dùng phù hoa mỹ ngữ để cuống hoặc thế nhân, không diễm khúc tình từ để lung long thiên hệ, không biện thông thế trí để giảng diễn đạo mầu, không phô trương kiến thức hòng mua chuộc lòng người mong cầu lợi dưỡng, không nên bởi mục đích riêng tư mà hành động ngược lại chánh giáo. Vì giải thoát tự thân và tha nhân, vì bảo trì Phật Pháp lưu bố giữa thế gian mà người xuất gia phải tiếp giao với cuộc đời và nhân thế. Nên nhớ rằng:” Vong thất Bồ Đề tâm, tu chư thiện pháp thị danh ma nghiệp”.


Tổng quát thiên thứ 19: KHẤT THỰC
Thiên này chia 2 phần (gồm 10 việc).
Phần thứ nhất nói những oai nghi chính:
-         Ra vào phải biết cấm chế.
-         Phải đi cùng với một vị tỳ kheo lão thành, nếu không có người cùng đi thì phải biết nơi nào cần có thể đi được.
-         Đến cổng nhà người phải quan sát kỹ hành động không được làm mất oai nghi.
-         Nếu nhà không có đàn ông thì không nên vào cổng.
-         Nếu ngồi hay nói năng phải thận trọng.
-         Muốn ngồi trước tiên phải xem xét chỗ ngồi, nếu có binh khí không nên ngồi, nếu có báu vật không nên ngồi, có y phục, mền nệm và đồ trang sức của phụ nữ không nên ngồi.
-         Muốn nói Kinh phải biết tri thời.
-         Không nên nói cho tôi đồ ăn để ngươi được phước.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ.
-         Phàm khất thực không nên cầu xin năn nỉ.
-         Không được phô diễn đạo lý nhân quả để trông mong họ bố thí nhiều hơn.
-         Được nhiều không nên sanh tâm tham trước, được ít chớ sanh lòng phiền não.
-         Không được thường xuyên đến nhà thí chủ thân tình hoặc am viện thân tình để yêu sách thực vật.

* YẾU GIẢI:
Khất thực là pháp môn tu tập theo truyền thống mà Tam thế chư Phật đã hành trì, là pháp môn mang nhiều ý nghĩa và lợi lạc cho tự thân và tha nhân trên tiến trình đi đến giải thoát giác ngộ. Nhưng Phật Pháp thời diêu, phải tùy nghi thích ứng nên ngày càng bị biến thái không còn nguyên vẹn bản sắc của thời nguyên thủy. Chúng ta sanh nhầm thời đại mạt pháp, thế bại vận suy. Bối cảnh và phong thủy không cho phép chúng ta khác hơn được, chúng ta phải thấy là bạc phước vô phần, vì thế chúng ta phải hết sức tinh tế và luôn luôn cảnh tỉnh trong mọi môi trường của cuộc sống hằng ngày, mà chúng ta đang mệnh danh là tu sĩ, chúng ta phải khởi tâm tàm quý khi thọ nhận thực vật, cũng như mọi nhu cầu khác mà đàn việt đã đặt niềm tin để cúng thí cho chúng ta. Chúng ta phải cố gắng bằng khả năng, trí tuệ, lòng chân thành để tu học và phụng đạo, ngỏ hầu đền đáp trong muôn một công ơn của Phật Tổ và khỏi cô phụ mối sơ tâm mà đã một lần chúng ta hoài bảo. Chúng ta phải nhớ rằng:
上乞法食以資慧命
下乞搏食以養色身。
Và chúng ta cũng phải nằm lòng lời Phật dạy:
譬如蜂采花
不壞色與香
但取其味去
比丘入聚然
不違戾他事
不觀作不作
但自觀身行
若正若不正。




Tổng quát thiên thứ 20: NHẬP TỤ LẠC
Thiên này chia hai phần (gồm 17 việc).
Phần thứ nhất nói ba oai nghi chính:
1.      Đừng mất oai nghi khi vào tụ lạc.
-         Không có duyên sự không nên vào.
-         Không được đi mà lay động hai cánh tay.
-         Không được vừa đi vừa liếc nhìn hai bên.
2.      Giữ gìn chánh niệm
-         Vào tụ lạc không cùng Sa Di và trẻ con vừa đi vừa nói chuyện đùa giỡn.
-         Không được cùng với người điên trước sau đắp đổi nhau mà đi.
-         Không được cố ý nhìn phụ nữ (Ni ngược lại).
-         Không được nhìn phụ nữ bằng một bên khóe mắt.
3.      Vào tụ lạc phải tâm thành thân chánh.
-         Hoặc gặp các bậc tôn túc hoặc thiện tri thức thân tình đều phải đứng một bên thấp hơn và thăm hỏi trước.
-         Hoặc gặp nơi có những trò chơi ảo thuật kỳ quái…không nên dừng lại để xem.
-         Nên thẳng mình ngay đường mà đi.
-         Nếu gặp hố nước bờ lở thì không được nhảy qya, có đường đi kahcs thì nên vòng qua để đi, nếu không có đường khác mà mọi người nhảy thì mình được nhảy.
-         Không phải bệnh duyên hoặc việc gấp của Tam Bảo thì không được cưỡi ngựa, cho đến tâm đùa giỡn dùng roi để giục ngựa chạy đều không được.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ:
-         Phàm gặp các hàng quan lại phủ phòng (chính quyền).
-         Gặp những đám đấu đá cũng phải tránh xa, không được đứng lại xem.
-         Không được về chùa khoe những việc tốt đẹp đã thấy trong thành.


* YẾU GIẢI
Khi tu sĩ có việc phải đi vào thành, phải luôn luôn nhiếp niệm cảnh giác đừng để mất oai nghi. Để tránh mọi sự có thể hiểu lầm và tổn hại đến cá nhân hoặc danh dự của tăng sĩ, cần phải lưu ý những điều:
-         Đừng song hành với người nữ. (Ni ngược lại).
-         Không nên đi quá nhanh (nếu đi xe cũng vậy).
-         Không được mạo hiểm để khoe tài năng.
-         Tránh xa mọi nơi có cá cược du hý.
Điều nên lưu ý là không nên đem những chuyện thấy nghe ngoài đường về chùa nói lại. Nên nhớ lời Phật dạy: “Đừng đem lửa ngoài đường vào nhà và cũng đừng đem lửa trong nhà ra ngoài đường”.


Tổng quát thiên thứ 21: ĐI CHỢ MUA VẬT DỤNG
Thiên này chia làm hai phần (gồm 5 việc):
Phần thứ nhất nói đi chợ nên theo giá thị trường và tránh sự hiểu lầm.
-         Không được trả giá đắt rẻ.
-         Không ngồi ở hàng phụ nữ. (Ni ngược lại).
-         Nếu bị người muốn gây sự thì cần tránh né không nên tranh cãi.
-         Không được đi theo mà trả giá cả.
Phần thứ hai là phải thủ tín và tránh những điều có thể hiểu lầm.
-         Phàm hứa mua vật gì ở chỗ nào rồi thì nên giữ đúng lời nói, chớ có đem vật ấy đi so giá cả đắt rẻ làm cho chủ hàng sân hận.
-         Không nên bảo lãnh cho người khác trong sự việc có thể mắc họa.

* YẾU GIẢI:
Thị tứ là nơi có rất nhiều vấn đề phức tạp, nếu chúng ta có việc cần phải vào thì nên cẩn thận, đừng để mất oai nghi. Không nên vì những chuyện không đâu mà dễ duôi làm gây ngộ nhận, nếu gặp điều thị phi ngang trái nên đừng xen vào mà rước họa vào thân một cách vô ích, luôn luôn giữ gìn ba nghiệp đừng để bản năng sai khiến mà hại cả đạo lẫn đời.

Tổng quát thiên thứ 22:
PHÀM LÀM VIỆC GÌ KHÔNG NÊN TỰ Ý
Thiên này chia làm hai phần (gồm 11 việc):
Phần thứ nhất nói hai oai nghi chính:
1.      Không nên tự chuyên làm việc.
-         Ra vào đi lại phải bạch Thầy trước.
-         May pháp y mới phải bạch Thầy trước.
-         Cạo đầu phải bạch Thầy trước.
-         Bệnh uống thuốc phải bạch Thầy trước.
-         Làm việc chúng Tăng phải bạch Thầy trước.
-         Muốn có những dụng cụ riêng phải bạch Thầy trước.
-         Nếu muốn tụng Kinh gì phải bạch Thầy trước.
2.      Nhận và cho vật gì đều phải xin ý kiến Thầy.
-         Nếu ai đem cho mình vật gì phải bạch Thầy trước rồi sau mới nhận.
-         Phàm đem cho ai vật gì cũng phải bạch Thầy trước rồi sau mới cho mượn.
-         Khi bạch Thầy, Thầy có chấp nhận hay không đều phải tác lễ chứ không tỏ thái độ bất mãn giận hờn.
Phần thứ hai nói các oai nghi phụ:
-         Cho đến làm những việc lớn, đi xa, đi nghe giảng, hoặc nhập chúng, giữ núi hoặc khởi duyên sự đều phải bạch Thầy không nên tự ý.

* YẾU GIẢI
Là Sa Di khi muốn ra làm bất cứ việc gì cũng phải qua ý kiến của Thầy trước rồi mới ra làm. Vấn đề này có 2 ý:
1.      Nói lên tinh thần cần phải có của người xuất gia học đạo là hạnh khiêm cung và giữ gìn nề nếp tôn ti trật tự của thiền môn.
2.      Vì Sa Di bản nghiệp chưa thành, tuổi đạo, đời còn thấp, kiến thức chưa rộng, đạo niệm chưa bền, nếu tự động đi ra làm một việc gì mà không có ý kiến của các bậc tôn túc, trưởng thượng thì dễ đi đến chỗ tổn hại hơn là thành tựu tốt đẹp. Hơn nữa chúng ta phải tự thấy long kiêu căng, ngã mạn còn đầy ắp mà tánh đạo thì đang bị vùi sâu trong bình keo sơn hắc kín. Bởi thế chúng ta đừng tự cao tự đại mà vọng động, phải cố gắng thận trọng và nghiêm chỉnh thực hành những điều mà tâm Phật và ý Tổ đã vì chúng ta mà dạy bảo. Chúng ta phải nhìn nhận rằng, cái nghe và cái biết của chúng ta chỉ là cái nghe và cái biết của con ếch ngồi trong đáy giếng mà thôi.
-         May pháp y phải bạch Thầy trước là để Thầy xem xuất xứ đáng nhận hay không.
-         Giữ núi: Chỉ người tri viên.
-         Nhập chúng: Đi vào những nơi có đông đảo chúng Tăng vân tập.

Tổng quát thiên thứ 23: THAM PHƯƠNG
Thiên này chia hai phần (gồm 5 việc):
Phần thứ nhất nói những điều tất yếu của việc đi xa.
-         Đi xa cần nương bạn tốt, người xưa khi tâm địa chưa thong thì không ngại đường xa nghìn dặm quyết đi tìm Thầy học đạo.
Phần thứ hai nói các oai nghi phụ có hai:
1.      Phải vì cầu Pháp chứ không theo thói thường tình.
-         Tuổi nhỏ vì giới luật còn non chưa thể cho đi xa, nếu cần phải đi thì không được đi với người bất lương.
-         Phải vì mục đích tìm Thầy học đạo quyết trạch sanh tử, không nên nhìn non ngắm nước, không nghĩ đến chuyện du lịch đó đây để khoe khoang với người.
2.      Phương pháp khi đến nơi.
-         Khi đến nơi rồi thì buông bỏ hành lý, không được đường đột đi thẳng vào điện đường. Để lại một người coi hành lý, một người đi vào trước thăm hỏi và dò xem cung cách sinh hoạt của trú xứ thế nào, sau đó mới đem hành lý vào.

* YẾU GIẢI:
Nếu đúng Pháp thì Sa Di không được rời Thầy quá sớm. Nhưng nới đây Thầy không cho Pháp mà chỉ nuôi thân thì được phép đi xa tìm Thầy hỏi đạo. Nhưng khi đi phải cần có thiện hữu đi cùng. Không được đi cùng bạn ác (cùng xuất gia nhưng không đủ tư cách thiếu hạnh). Chỉ có một mục đích duy nhất là tìm Thầy học đạo chứ không vì lý do nào khác. Khi đến chỗ nào phải biết hòa đồng theo thanh quy nơi ấy, không nên sống theo bản năng của cá tính mà gây phiền não cho đồng đạo. Phải nhớ kỹ là: “ Sư nhược bất minh đương biệt cầu lương đạo”, ngoài ra thì mọi sự ra đi rời Thầy sớm đều không phải phép và không có lợi.

Tổng quát thiên thứ 24: DANH TƯỚNG Y BÁT
Thiên này chia 3 phần (gồm 9 việc)
I.             Danh tướng của y có 3 loại.
1.      Ngũ y có 2 phần
a.      Tướng dụng của ngũ y
Ngũ điều y tiếng phạn gọi là An Đà Hội (Untarvasa). Tàu dịch là Trung túc y, là hạ y, tạp tác y hay tác vụ y. Phàm mọi sự chấp lao phục dịch trong chùa, ra vào ngoài đường đều mặc y này.
b.      Kệ chú
Lành thay áo giải thoát, y phước điền vô thượng, con nay được thọ trì, đời đời không lìa bỏ. Án tất đà da tóa ha.
2.      Thất y có 2 phần
a.      Tướng dụng của thất y
Thất y tiếng Phạn gọi là Uất Đa La Tăng (Ultrasanga). Tàu dịch là nhập chúng y, thượng trước y, trung giá y. Phàm lễ Phật, tụng kinh, bái sám, tọa thiền, phó trai, nghe giảng, bố tát, tự tứ thì đắp y này.
b.      Kệ chú
Lành thay áo giải thoát, y phước điền vô thượng, tôi nay xin thọ trì, đời đời thường đặng đắp. Án độ ba độ ba tóa ha.
3.      Đại y có 2 phần
a.      Tướng dụng của đại y
Đại y tiếng Phạn gọi là Tăng Già Lê (Sanghathi). Tàu dịch là tạp toái y, hợp y, trùng y, khi ra vào vương cung, thăng tòa thuyết pháp, vào tụ lạc khuất thực thì mặc y này. (Y này còn gọi là Ngự hàn y). Y này chia 9 phẩm: Hạ phẩm có 9 điều, 11 điều và 13 điều. Trung phẩm có 15 điều, 17 điều và 19 điều. Thượng phẩm có 21 điều, 23 điều và 25 điều.
b.      Kệ chú
Lành thay áo giải thoát, y phước điền vô thượng, con nay xin thọ trì, rộng độ chư quần mê. Án ma ha ca bà ba tra tất đế tóa ha.
II.         Danh tướng của bát có 3 phần
1.      Nêu danh:
Tiếng Phạn gọi là Bát Đa La (Pa Tra). Tàu dịch là ứng lượng khí, khí mảnh này cả 3 mặt thể, sắc, dụng đều phải như Pháp.
2.      Thích nghĩa:
            Thể chất của bát được làm bằng hai loại đất và thiết. Đất là chính, thiết Phật khai cho các tỳ kheo già và bệnh dùng. Màu sắc thì phải nhuộm bằng cách xông lá cây thành màu nâu hay màu xám tro. Dung lượng thì có 3 cỡ lớn, vừa, nhỏ.
3.      Kệ chú:
            Lành thay Bát đa la, ứng khi của như lai, thọ trì để nuôi sống, tăng trưởng trí tuệ mạng. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra.
III.      Danh tướng của ngọa cụ có 3 phần
1.      Nêu danh:
Tiếng Phạn gọi là Ni Sư Đàn (Nisidana). Tàu dịch là ngọa cụ hoặc tọa cụ, còn gọi là phu cụ hay tùy túc y.
2.      Công dụng:
Để hộ thân, hộ y.
3.      Kệ chú:
Ngọa cụ ni sư đàn, nuôi lớn tâm giống tánh, trãi bày lên thánh địa, vâng giữ mạng mạch Như Lai. Án đàn ba đàn ba tóa ha.
IV.       Kết luận
Ngày xưa Đức Thế Tôn thường dạy: “Tài sản của người xuất gia là ba y, ngõa bát và pháp khí”. Ba y là cái mặc của tu sĩ, bình bát, pháp khí và thọ hạ nhất túc là cái ăn cái ở của hàng xuất gia, ngoài ra không có một phương tiện nào khác. Phật dạy như vậy tri túc là thường túc. Đạo pháp được liên tục lan tỏa khắp muôn phương. Phật chủng vẫn tiếp nối khơi dậy nơi mỗi lòng người là nhờ hàng đệ tử Phật nghiêm trì lời Phật dạy:
Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Kỳ vị sanh tử sự
Giáo hóa độ xuân thu.
Ngày nay có khác, người xuất gia phải tùy phong thổ và quốc độ mà thích nghi nếp sống. Cơm chẳng thiếu, áo có thừa và phương tiện sống thì quá xa vời với Phật ý. Hành vi ngôn ngữ thì càng không giống chi với Tổ tâm.
Ngẫm suy kinh điển, xét lại phong tư thì chúng ta thấy mạt không biết bao nhiêu thứ mạt. Chúng ta đừng vòng vo bao la vũ trụ, khoan nói chuyện PHẬT TÁNH với CHÂN NHƯ, mà hãy nhìn vào nơi tự thân của mỗi chúng ta qua ba nghiệp, chúng ta phải thường kiểm soát hay nói cách khác những oai nghi tế hạnh chúng ta thường tấn tu. Nếu không thì hiện tại cả mình và người đều bất lợi, tương lai khó thoát  quả báo mang lông đội sừng để bồi thường ơn của đàn na tín thí vậy.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM HOA.THICH NU TAM GIAC.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,ADELAIDE,SYDNEY.28/7/2015.
hoằng dương Phật Pháp, trang nghiêm Tam Bảo, hoàn toàn quan hệ đến tố chất và hành nghi của Tăng Ni xấu hay tốt. Vì thế muốn Tam Bảo thường trụ, hưng long, thật chứng, thì công việc quan trọng nhất chính là công tác giáo dục đào tạo Tăng tài. Nhưng công tác giáo dục đào tạo Tăng tài, nội dung có ngàn vạn đầu mối, do thời đại thay đổi mà có những trọng tâm khác nhau, chẳng thể nói đại khái mà hết được. Căn cứ vào quan điểm đó mà nhìn nhận thì giai đoạn giáo dục tập sự xuất gia (Hình đồng và Sa Di) là quan trọng nhất.
 Giáo dục truyền thống của Phật giáo Việt Nam là giáo dục sơn môn tự viện, dùng phương thức thị phạm - thân giáo và ngôn giáo để kiện toàn chỉnh thể giáo dục sinh hoạt xuất gia tại tùng lâm tự viện. Tuy nhiên, quan niệm giáo dục không thật minh xác về mục đích, nội dung và phương pháp. Hiện tại nền giáo dục Phật giáo đã chuyển từ giáo dục sơn môn sang giáo dục học đường, đối với phương thức giáo dục truyền thống hoàn toàn bị lãng quên. Mặt khác, các sơn môn không còn sự duy trì, phát sinh chế độ nhất tăng nhất tự, các bậc long tượng lại vắng bóng… Do các điều kiện hoàn cảnh khách quan và chủ quan nên giáo dục truyền thống đã không có điều kiện để duy trì. Giáo dục học đường hiện nay, ngoại trừ một số ít có tố chất căn bản ra phần lớn đều không có kết qủa tốt. Đối với phương pháp giáo dục hiện nay là dựa vào lối giáo dục học đường của thế tục mà kiến lập, tuần tự nhi tiến, học nhiều xen tạp, chú trọng kiến thức mà thiếu thực hành, Tăng Ni học chung, học tập, sinh hoạt và tu tập tách rời nhau. Người dạy và người học dường như không có mối liên hệ Thầy - Trò, có quản chúng mà không có Sư phụ, trọng ngôn giáo mà thiếu đi thân giáo. Chỉ có thiểu số quản lý đa số mà là tăng tục, nam nữ tạp loạn, sinh hoạt hành vi, uy nghi tiến thoái không người uốn nắn rèn cặp. Khóa lễ khóa niệm, tiếng chuông tiếng mõ, giọng điệu xướng tán, tiến chỉ lễ lạy đều không được chỉ dạy. Khóa trình phức tạp mà không tinh thuần thực tế. Các giảng sư kiến giải sai khác, không cách gì điều thích được, qúa chú trọng kiến giải và học thuật, mà thiếu đi hành trì, rèn luyện thân tâm…
Tạp loạn, mơ hồ, không có thứ lớp, thiếu tính chỉnh thể, thiếu tính thứ lớp, Tăng Ni lẫn lộn, thiếu thực tu, đạo tâm không kiên cố, tăng cách không đủ đó chính là kết qủa của giáo dục học đường hiện nay. Do vậy, không sao có được Tăng tài cho Phật Pháp tương lai.
Giáo dục Sa Di (Bao quát Sa Di Ni - Thức Xoa) chính là thành tựu một vị Tỷ khiêu (Ni) trong tương lai, đây là giai đoạn giáo dục cơ bản, nền tảng. Ngày nay tố chất phẩm đức của người xuất gia không được tốt, xem xét kỹ không phải ở kiến thức, tri thức không đủ mà chính là thiếu sự huấn luyện tu dưỡng về Hành nghi và Đạo tâm cơ bản, mà có quan hệ đến phương diện giáo dục chính là giai đoạn giáo dục Hình đồng và Sa Di. Thực tế giai đoạn này hoàn toàn do nghiệp sư huấn luyện, do sự sai khác về nhận thức, phương thức và trình độ của các nghiệp sư đã đào tạo nên những sản phẩm không hoàn thiện.
Do vậy, muốn chấn chỉnh Phật Pháp thì công việc thiết yếu nhất đó là hoàn chỉnh sự nghiệp giáo dục đào tạo Tăng tài, mà trọng tâm là giai đoạn giáo dục Hình đồng và Sa Di. Chỉ có giáo dục Sa Di như pháp, đúng qũy đạo thì hết thảy sự tu học sau này mới có nền tảng vững chắc và phát triển thăng hoa.
I. Sa Di - Danh nghĩa và phân loại
 
Sa Di là dịch âm tiếng Phạm. Trung Quốc có ba cách dịch:
1. Cựu dịch Sa Di - Luật sư Đạo Tuyên dịch nghĩa là Tức Từ: dứt trừ thói nhiễm thế tục, nuôi dưỡng lòng từ bi, cứu vớt chúng sinh. Tân dịch có hai: 1. Đại sư Huyền Trang dịch là Thất Lợi Ma La Lộ Ca dịch nghĩa là “Cần sách” tức là tinh tiến siêng năng, không lười biếng, cảnh tỉnh sách tiến xa lìa các điều ác; 2. Đại sư Nghĩa Tịnh dịch là: “Thất Na Mạt Ni” dịch nghĩa là “Cầu tịch” nghĩa là cầu lấy Tịch Tĩnh viên mãn, cứu kính cực quả Niết Bàn. Sa Di có hai loại ba phẩm (xem trong Sa Di Luật nghi yếu lược tập giải).
Từ ý nghĩa của Sa Di đã nói trên để khảo sát: “Tức Từ” là coi trọng việc đoạn trừ tập nhiễm thế tục, đồng thời bồi dưỡng lòng từ bi không giết hại, thương xót cứu giúp chúng sinh “cần sách” thì coi trọng sự tích cực tu tập, siêng năng làm việc khó nhọc, phục vụ đại chúng để bồi dưỡng gieo trồng phúc báo. Đến như “Cầu Tịch” thì coi trọng khai phát đạo tâm xu hướng Đại thừa, cầu chứng giải thoát Niết Bàn. Tuy nhiên đây cũng là mục đích chung của hết thảy hành giả tu học Phật Pháp. Nhưng trên danh nghĩa Sa Di để thấy được mục đích giáo dục là tu học của giai đoạn Sa Di phải chú trọng vào những điểm này. (Xem thêm Sa Di Luật nghi yếu lược - Tập giải).
II. Đối tượng và thời điểm giáo dục Sa Di:
Giáo dục Sa Di theo nghĩa hẹp mà nói thì đối tượng của nó đương nhiên là Sa Di (Ni), nhưng theo nghĩa rộng mà luận thì là giai đoạn giáo dục chuẩn bị cho Tỷ khiêu (Ni). Thời điểm bắt đầu từ khi còn là Bạch y chuẩn bị xuất gia đến ở trong chùa làm Tịnh nhân kéo dài cho đến khi thụ giới Tỷ khiêu (Ni). Trong đó tuy có nhiều trọng tâm và phương thức khác nhau cho từng thời điểm cụ thể nhưng đối tượng của nó chỉ bao hàm trong hai loại ba phẩm sau đây:
                                                Khu ô
1. Hình đồng Sa Di     Ứng pháp
                                                Danh tự
                                                Khu ô
2. Pháp đồng Sa Di     Ứng pháp
                                                Danh tự
Đối với Ni chúng thì thêm Thức Xoa Ma Na Ni
Do vậy, nếu đứng trên quan điểm quảng nghĩa thì giáo dục Sa Di bao hàm từ thời điểm chuẩn bị xuất gia đến chùa làm Tịnh nhân, cạo đầu làm Hình đồng, thụ giới làm Sa Di cho đến khi đăng đàn thụ giới Cụ túc. Trong giai đoạn này, tuy căn cứ vào tố chất, tuổi tác và thụ giới có sai khác mà có trọng điểm giáo dục khác nhau nhưng đều có chung một mục tiêu. Vì thế việc xác lập mục tiêu và hoàn thành mục tiêu giáo dục Sa Di chính là trọng tâm mà giáo dục Phật giáo cần phải nỗ lực hoàn thành.
III. Đặc tính và trọng tâm giáo dục Sa Di
 
Bắt đầu từ việc một người phát tâm xuất gia, đến ở chùa với thân phận là một Tịnh nhân, cho đến khi đăng đàn thụ giới Cụ Túc, bất luận là tuổi tác, trình độ văn hóa, trình độ Phật học, cho đến thụ giới hay chưa đều thuộc giai đoạn giáo dục Sa Di. Nhân vì một giai đoạn này xét về luân lý trong Phật Pháp thì họ có thân phận thấp nhất, chỉ có trong bối cảnh thân phận này, mới dễ dàng đặt định thực thi phương pháp giáo dục (như chấp lao phục dịch, học thuộc uy nghi cảnh sách, khóa tụng, tiếp nhận sự chỉ bảo của mọi người để mài mòn tập khí, siêng năng tụng kinh bái sám để tiêu trừ nghiệp chướng,…). Căn cứ vào nhu cầu tu học lâu dài thì cách thức giáo dục và huấn luyện giai đoạn này là để tạo nên Tăng cách và sự tự lập cho một Tỷ khiêu (Ni) tương lai. Thậm chí, nhờ có nền tảng vững chắc của giai đoạn này, mới có thể đảm bảo cho tương lai tu học thành tựu, mà không bị dụ hoặc đi vào đường rẽ.
Hoặc giả cũng có người cho rằng: Kể cả đã thụ giới Cụ Túc vẫn phải bổ túc giai đoạn giáo dục Sa Di này. Sở dĩ có ý kiến này là vì có người trong giai đoạn làm Sa Di (Ni) chưa nhận được sự giáo dục một cách đúng đắn. Việc này giống như đối với một người đã trưởng thành, mà đi học tiểu học thật không thích hợp. Tỷ khiêu học lại giai đoạn giáo dục Sa Di cũng như vậy, khi ấy giáo dục Sa Di đối với một vị Tỷ khiêu mà nói (trừ trường hợp đặt biệt) đã là không khế lý, khế cơ, khế thời,…
Mặt khác, Tỷ khiêu là địa vị đại biểu cho Tăng Bảo cũng là địa vị thầy của trời người, căn cứ vào tinh thần giới luật và luân lý trong Tăng thì họ có địa vị cao, nếu không có lý do đặc thù mà lại giáng cấp lấy giáo pháp Sa Di giáo dục cho họ, đối với sự tu học của cá nhân hoặc giả hữu ích, song đối với luân lý và hình tượng của Tăng già dường như không ổn.
Hiện tại có không ít Tăng Ni chính kiến không đủ, đạo tâm không kiên cố, uy nghi không tốt, phóng túng rông rỡ, cống cao ngã mạn, khinh Pháp mạn Tăng, báng pháp hủy giới, tham đắm ngũ dục, thích làm thầy người, tâm địa hành vi thô tháo không khác gì thế tục… Xét kỹ việc đó há chẳng phải nhân vì không có chân làm tiểu, giai đoạn làm Sa Di (Ni) học hành khiếm khuyết đó ư?
Nuôi dạy Sa Di không như pháp liền đã cho họ thụ giới Cụ Túc, sau này ngày tháng qua đi, nếu như bản thân họ không học, không hiểu, không hành thì ai còn dạy bảo họ được? Ai quản lý được họ?
Người ta quả thật là “Vô tự tính” ban đầu phát hảo tâm xuất gia, bản thân họ đâu có muốn biến thành như thế, chỉ vì ban đầu họ không có được cơ hội giáo dục như pháp, nên sơ tâm đã bị sai lạc, chính pháp đã không được nhập tâm, lâu dần tập khí xấu ác từ vô thủy tự nhiên có cơ hội trỗi dậy. Trong hoàn cảnh thiếu khuyết cơ sở huấn luyện, đối mặt với tập khí từ vô thủy làm sao trụ vững được, lâu ngày hảo tâm xuất gia cũng thoái đọa, đó là điều tự nhiên.
Ngày nay tố chất, phẩm đức của người xuất gia trì trệ không thấy được cải thiện, đó là kết quả của việc xem thường giai đoạn giáo dục Sa Di.
Vì vậy có thể khẳng định giáo dục Sa Di chính là nền tảng căn bản của toàn bộ giáo dục Phật giáo. Trong giai đoạn giáo dục này cũng là thời cơ giáo dục hết sức trọng yếu. Một khi đã bỏ lỡ thời cơ, thì việc bổ túc, sửa đổi lại là hết sức khó khăn. Điều này những ai quan tâm đến giáo dục đào tạo Tăng tài nên đặc biệt chú ý. Giáo dục Sa Di có nội hàm đặc biệt rõ ràng đó là đặc biệt chú trọng phương pháp và thời cơ giáo dục.
Chỉ có nhận thức một cách đúng đắn tính trọng yếu của giáo dục Sa Di, mới làm tốt được giáo dục Sa Di (nó không giống với việc giáo dục học đường), mới kiến lập chân chính mục tiêu giáo dục, lý luận và phương pháp giáo dục Sa Di một cách phù hợp. Đây là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu hiện nay.
VI. Ý nghĩa của giáo dục Sa Di
 
Nếu như cho rằng giúp cho Sa Di đến trường học, lên lớp nghe giảng, ghi chép, tụng kinh, lễ Phật, chấp tác vì đại chúng phục vụ gọi đó là giáo dục Sa Di (Ni) thì e rằng đó là suy nghĩ qúa thô thiển. Lên lớp, tụng kinh, lễ Phật, chấp tác hoặc giả cũng là một bộ phận của nội dung giáo dục Sa Di, nhưng vấn đề ở chỗ, học môn gì, tụng kinh gì, lễ Phật như thế nào, chấp lao phục dịch của Sa Di là kiến lập ở quan niệm gì?
Một vị Tỷ khiêu cũng cần phải lên lớp, tụng kinh, lễ Phật, chấp tác nhưng hai vấn đề này thảy không giống nhau. Giống nhau là tu hành, nhưng tâm trí, tâm tính và tập tính xuất gia của Sa Di khác với Tỷ khiêu. Nếu đem tâm thái của Tỷ khiêu, phương pháp tu hành áp dụng cho hành giả Sa Di thì không thích hợp, đó là tu học vượt thứ lớp. Nhẹ nhàng thì tự phí công phu, khó mà thành tựu nghiêm trọng thì e rằng tu mù luyện càn, tri kiến điên đảo, thậm chí thoái thất đạo tâm.
Nói đến giáo dục Sa Di: Về nghĩa rộng chính là đối với một người đệ tử xuất gia chưa thụ giới Cụ Túc trao cho họ một sự giáo dục đặc thù. Về mặt biểu hiện thì định nghĩa này không có gì mới, nhưng trọng điểm của nó ở bốn chữ “Giáo dục đặc thù”. Giống như giáo dục mẫu giáo, tiểu học là một loại giáo dục đặc thù thì giáo dục Sa Di là một loại giáo dục đặc thù trong giáo dục Phật giáo mà không thể áp dụng theo lối giáo dục phổ thông của các trường Trung, Cao cấp Phật học hiện nay.
V. Tông chỉ giáo dục Sa Di
 Như trên đã nói, giáo dục Sa Di là một giai đoạn giáo dục đặc thù, do vậy mục tiêu và nội dung giáo dục cần chỉ ra tông chỉ rõ ràng. Trên thực tế giáo dục học đường kết qủa không cao, nguyên nhân chủ yếu là do công tác giáo dục Tăng ni đối với tông chỉ giáo dục không có nhận thức rõ ràng, hoặc hỗn tạp, hoặc không xác định được. Do vậy xác lập chính xác tông chỉ giáo dục Sa Di, chính là làm tốt bước thứ nhất trong giáo dục Sa Di.
Vậy tông chỉ giáo dục Sa Di là gì? Trả lời cho một vấn đề này phải từ địa vị của Sa Di trong toàn thể chỉnh thể của Phật Pháp để khảo sát. Sau khi Phật thành đạo, ban đầu chuyển pháp luân nơi vườn Lộc Uyển, đều dùng phương thức Thiện Lai Tỷ khiêu độ cho nhóm năm người của ông Kiều Trần Như xuất gia, từ đó Tam Bảo được hình thành, pháp hóa lưu truyền bắt đầu từ đây. Sau đó việc hoằng truyền và trụ trì Phật Pháp đều lấy Tam Bảo là trung tâm mà triển khai, đến sau khi Phật nhập Niết Bàn hoằng truyền và trụ trì Tam Bảo thì lại lấy Tỷ khiêu Tăng làm trung tâm mà đời đời truyền nối khiến chính pháp cửu trụ. Tăng tuy không được độ Ni, nhưng Ni chúng muốn thành tựu nhân duyên thụ giới Cụ Túc, cũng cần phải đối trước hai bộ Tăng Ni thụ giới mới được đắc giới như pháp. Thiện nam xuất gia cũng cần ở trong Tăng cầu vị Tỷ khiêu thích hợp đủ tư cách súc dưỡng Sa Di làm thầy thế độ, thụ giới. Do vậy về mặt lịch sử cũng như quy định của giới luật đều chỉ ra rằng Phật pháp lấy Tỷ khiêu làm trung tâm hoằng truyền và trụ trì. Nếu nhận thức rõ điều này thì thấy người nam xuất gia trừ nhân tố tuổi tác mà không thể hoàn thành thân phận Tỷ khiêu ra, còn lại người xuất gia phải thành tựu Danh phù hợp với Thực bản chất của Tỷ khiêu, lấy đó làm mục tiêu trọng yếu tu học. Tuy nhiên giải thoát không phân già trẻ, nam nữ, tăng tục, nhưng đứng trên phương diện lập trường phàm phu tu đạo mà nói: Thành tựu thân phận Tỷ khiêu như pháp; đối với tự thân chính là bắt đầu từ an trụ đạo tràng tu hành tự lợi, đối với người chính là thể hiện “Tam Bảo trụ thế” hoằng hóa độ sinh, cũng chính là yếu hạnh lợi tha. Vì vậy, đối với người nam tử xuất gia mà nói, thành tựu như pháp, như luật pháp của Tỷ khiêu, Tỷ khiêu học hành và Tỷ khiêu thân phận (Ni chúng cũng như vậy) chính là cơ sở quan trọng tự lợi, lợi tha.
Do vậy, xét thấy thành tựu thân phận Tỷ khiêu có ý nghĩa quan trọng như thế, thì ở giai đoạn Sa Di, giai đoạn cơ sở nền tảng của Tỷ khiêu, nội hàm tu học và giáo dục tuy rất nhiều nhưng không ngoài hai vấn đề chủ yếu sau:
1. Tiêu trừ hết thảy chướng ngại trong ngoài Thân - Tâm để tương lai thành tựu một vị Tỷ khiêu như pháp.
2. Kiến lập hết thảy các điều kiện cơ sở cần và đủ để thành tựu một vị Tỷ khiêu như pháp trong tương lai.
Từ vấn đề kiến lập cơ sở, thì giáo dục Sa Di chính xác ở trình độ nào có thể xem là giáo dục nền tảng cho vị Tỷ khiêu tương lai? Từ vấn đề tiêu trừ chướng ngại thì giáo dục Sa Di hiển nhiên là một loại giáo dục đặc thù có đầy đủ tính giai đoạn, tính bức thiết, tính tất yếu, và tính đặc thù. Đó cũng chính là “giáo dục đặc thù” đã được nêu ở trên.
Vừa mới là Bạch y đổi thành người xuất gia, đây chính là giai đoạn trọng yếu lìa nhiễm nhập tịnh, nếu như không từ “quan điểm về thời gian”, nhận rõ “nhu cầu bức thiết” để chuyển hóa tập tính thế tục, chúng ta sẽ không biết làm thế nào để thiết lập khóa trình đặc thù cho giáo dục Sa Di, khiến cho trước khi thụ giới Cụ Túc đầy đủ điều kiện của một vị Tỷ khiêu “Đường đường tăng tướng, chúng đức uy nghiêm”.
Nên biết, một khi đã thụ xong giới Cụ Túc, tức là thân phận Tỷ khiêu (Ni) lập tức có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một vị Tỷ khiêu. Nếu trước khi thụ giới, không tùy học các pháp của Tỷ khiêu nên biết, tuy không chi tiết cụ thể, nhưng chí ít trên đại thể cũng phải có trình độ hiểu biết và kinh nghiệm thực hành nhất định mới được, sau khi thụ giới Cụ Túc nếu danh không xứng thực liền thành “Á Dương Tăng” (Tăng dê câm) mà không thể làm tròn bổn phận của Tỷ khiêu. Trong Hành Sự Sao có nói: “Uy nghi tiến chỉ của Sa Di, phàm chỗ làm, tu, luật đều chế đồng với Tỷ khiêu”. Chính lại là chỉ ra giáo dục Sa Di có đầy đủ nội hàm xác lập cơ sở của Tỷ khiêu hạnh.
Điều trọng yếu nhất trong hai vấn đề tông chỉ nêu trên chính là “Thành tựu một vị Tỷ khiêu như pháp”. Kỳ thực nói đến tu và học trong Phật pháp thì nội dung là vô lượng vô biên, khó có thể đưa ra một khóa trình thích hợp. Vì vậy trong công tác giáo dục Tăng ni thiết kế rất nhiều chương trình giáo dục trung cấp Phật học dành cho đối tượng là Sa Di, kết qủa xem ra nội dung rất phong phú, nhưng lại thiếu thực tiễn, mảy may không liên hệ đến trọng tâm giáo dục Sa Di (nếu có chỉ là hãn hữu).
Nên biết, hết thảy học trình giáo dục Sa Di đều phải lấy: “Làm thế nào để thành tựu một vị Tỷ khiêu (Ni) như pháp” để mà khảo cứu lấy đó làm trọng tâm. Đại bộ phận giáo dục Tăng ni khi đối diện với điều nghi ngại này đều cho rằng dần dần sẽ đúng quy luật, dần dần sẽ thành tựu. Vấn đề là thành tựu hạnh Tỷ khiêu (Ni) nào? Người xưa nói “Việc có trước sau, vật có gốc ngọn, biết có thấp cao thì gần với đạo vậy”.
Phật là bậc thầy giáo dục vĩ đại nhất, tùy cơ thuyết pháp, tùy bệnh cho thuốc, cho nên thích hợp căn cơ mà đạt kết qủa lớn. Chúng ta là phàm phu, đối mặt với những thách thức to lớn trong công tác giáo dục đào tạo tăng tài nếu không xét kỹ thì nhầm mình, nhầm cho người, tội đó không nhỏ. Mong rằng các tôn đức nhiệt tâm đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo Tăng tài, quan tâm đến vấn đề này thì tương lai Phật tử xuất gia có được diễm phúc lớn.
VI. Mục tiêu cụ thể của giáo dục Sa Di
 Trên thực tế giáo dục Trung cấp Phật học (Sa Di) chỉ là trang bị một số kiến thức được gọi là “cơ bản” mà thôi. Giáo dục Sa Di đương nhiên có thể bị lý giải là một loại giáo dục cơ bản, vấn đề là hai chữ cơ bản này xem ra danh và thực còn chưa rõ ràng. Đối với hai chữ cơ bản này trong giáo dục Sa Di hàm nghĩa thiết yếu nhưng lại thiếu khuyết mô phạm hữu hiệu, kết qủa khiến cho công tác giáo dục Tăng ni không có khả quan, không có đường hướng cụ thể, mà là đều dựa trên ý kiến chủ quan của mình, trăm nhà muôn vẻ không có sự thống nhất giữa các cơ sở giáo dục. Ban giáo dục Tăng ni trung ương cũng đã nhiều lần tổ chức Hội thảo toàn quốc về công tác giáo dục đào tạo Tăng tài, hy vọng bắt đầu từ sơ cấp (giáo dục tiền xuất gia), Trung cấp (giáo dục Sa Di), Học viện (Giáo dục Tỷ khiêu) có chung một bộ giáo trình thống nhất trong cả nước, nhưng trải qua bảy nhiệm kỳ của Giáo hội đến nay cũng chỉ là “bặt vô âm tín”. Tuy có làm được việc đó đi chăng nữa chỉ bổ cứu một phần thiếu hụt về mặt nội dung mà không giải quyết triệt để được vấn đề giáo dục Sa Di. Bởi vì khóa trình thích hợp, cố nhiên hỗ trợ cho giáo dục Sa Di được chuẩn hóa, hợp lý hóa và chế độ hóa, nếu như người đứng đầu các cơ sở giáo dục không nhận thức rõ tông chỉ của giáo dục Sa Di, thì giáo dục phần nhiều chỉ là khóa trình khô chết mà thôi (sự học không giúp gì cho sự tu). Giáo dục sống là phải từ chữ nghĩa văn tự kiến giải dung nhập vào sinh hoạt thường nhật nhằm chuyển hóa tiêu trừ chướng ngại và kiến lập nền tảng cho một vị Tỷ khiêu như pháp trong tương lai. Vì vậy phải căn cứ vào tông chỉ mà kiến lập mục tiêu cụ thể cho giáo dục Sa Di, mới là cải cách giáo dục phù hợp, hiệu qủa. Cuối cùng tông phong mỗi nhà mỗi khác, hoàn cảnh điều kiện trường lớp khác nhau, trình độ giảng sư sai biệt phương thức quản trị giáo dục bất đồng, thì việc ấn định một chương trình cụ thể chung cho cả nước phù hợp với tông chỉ và mục đích của việc giáo dục Sa Di lại chỉ là để tham khảo mà thôi.
Khảo sát hai hạng mục tông chỉ chúng ta cảm nhận một khái niệm mãnh liệt, tức là hết thảy giáo dục Sa Di đều lấy mục tiêu thành tựu một vị Tỷ khiêu như pháp trong tương lai “Đường đường Tăng tướng, chúng đức trang nghiêm”. Muốn đạt được mục tiêu này, chúng ta cần có những tiêu chuẩn nào? Sau đây xin đề xuất 9 nội dung sau:
1. Kiến lập chính xác nhân địa xuất gia
 Ngày nay người xuất gia ưu tú không nhiều, phẩm đức của Tăng Ni không được tốt, họ bị nhiều yếu tố tác động dẫn đến sự dao động, ương ngạnh không chịu tiếp nhận sự giáo dục, chỉ bảo của thầy tổ, tăng đoàn… Một trong những nguyên nhân trọng yếu chính là do không ít người đối với nhân địa xuất gia của mình không có nhận thức rõ ràng, hoặc nhận thức thiên lệch, thậm chí căn bản là điên đảo tà kiến. Nhận thức chính xác, rõ ràng ý nghĩa, mục đích của xuất gia, nhận rõ thân là một người xuất gia, thì thân phận phải đầy đủ ngoại biểu, nội hàm, tri thức, năng lực và trách nhiệm, nghĩa vụ như thế nào? Tăng ni sở dĩ là người xuất gia là đại biểu cho Phật Pháp thì hình tượng phải như thế nào? So với người thế tục sự khác biệt lớn nhất là ở chỗ nào? Việc gì có thể làm, việc gì nên làm, việc gì không thể làm, không nên làm, việc gì nên học, nên hiểu, việc gì nên bỏ, nên xà lìa v.v… đó là những việc trong giai đoạn Tịnh Nhân, Sa Di cần nên nỗ lực nhận thức rõ ràng.
Giáo dục Sa Di là chỉ cho giai đoạn còn là Bạch y đến ở chùa làm Tịnh nhân cho đến trước khi thụ giới Cụ Túc. Trong thời kỳ của giai đoạn này, họ cần phải liễu giải và làm thuần thục bao nhiêu công việc? Cho đến người làm thầy phải đủ tư cách, phẩm đức dẫn đường, dùng các phương tiện “trước nói sự khổ” để khảo lượng nhân tâm, lòng tin, sự quyết tâm và đạo hạnh v.v… để tránh sau này phải hối hận, thậm chí hoại tăng phá pháp. Nêu ra những vấn đề này đều nên bắt đầu từ khi còn là Bạch y mới phát tâm xuất ra, mỗi bước đối với họ chỉ rõ, hỏi han, khảo nghiệm, quan sát, đợi trải qua một thời gian tối thiểu là ba năm để họ có nhận thức và quyết định chắc chắn mới nên cạo đầu cho xuất gia. Nhưng trước hết phải chưng cầu ý kiến của Tăng (Ni) và phải được Tăng già chấp thuận mới được thế phát. Nên biết việc độ người xuất gia liên hệ đến tố chất của Tăng già và mạng mạch của Phật Pháp. Do vậy đối với nội dung này công tác giáo dục nếu có thể làm được thực chất (tiểu già hơn bà sư non) thà để cho xuất gia chậm lại, không thể không khảo nghiệm mà vội vàng cho cạo đầu xuất gia, thì trong tương lai nếu họ chẳng phải bậc siêu quần bạt tục thì chí ít không đến nỗi tri kiến điên đảo, tự phiền não, não hại tăng chúng, phá hoại hình tượng của Phật pháp.
2. Xác lập tri kiến căn bản về Phật pháp
 
Nhận thức nhân địa xuất gia chân chính đương nhiên là một loại chính kiến, nhưng không đủ để dẫn dắt người tu hành đi đúng đường lối tu hành chân chính. Phải nên kiến lập cơ sở tri kiến đầy đủ, mới có thể trong quá trình học tập và trưởng thành phát sinh chính xác sự vận động của ba nghiệp Thân - Khẩu - Ý. Bởi vì tri kiến là nguồn động lực cho hết thảy hành vi. Vì thế sau khi hoàn thành được mục tiêu nêu trên, thì mục tiêu này lại là hết sức bức thiết.
Căn bản chính kiến được hợp lại từ hai bộ phận: Một là, thái độ học tập chân chính, hai là liễu giải chính xác dụng ý nội dung học tập và tính trọng yếu của nó v.v… Trong giáo nghĩa căn bản của Phật pháp là giáo nghĩa của Phật giáo nguyên thủy chung cho cả Đại tiểu thừa, hiển, mật để tránh đi qúa sớm đi vào tư tưởng của Tông phái, giúp cho tương lai học tập sâu rộng, bồi dưỡng tâm lượng rộng lớn. Điều chú ý là: Xác lập hai bộ phận chính kiến này đều không thuần túy, chỉ là chữ nghĩa giải thoát sáo rỗng trên lớp học mà cần phải áp dụng vào thực tiễn sinh hoạt thường nhật của người xuất gia mới gọi là hoàn thành được mục tiêu thứ hai này.
3. Thích ứng sinh hoạt xuất gia và thuần thục những kỹ năng cơ bản của người xuất gia
 
Xuất gia với tại gia có sự khác biệt rất lớn, chưa cần bàn về sự sai biệt của tâm, điều khác biệt rõ nhất chính là giới luật có hay không? Song bản thân giới luật lại không có mảy may nào rời khỏi sinh hoạt thường nhật, vì vậy thích ứng với sinh hoạt xuất thế, cắt đứt hoàn toàn sinh hoạt thế tục đó là tiêu chuẩn đầu tiên mà người bắt đầu xuất gia phải đối mặt.
Mặt khác, tùy theo nội hàm sinh hoạt khác nhau đòi hỏi các kỹ năng sinh hoạt một cách thuần thục, vì như đánh chuông mõ, mộc bản, chắp tay, lễ bái, giọng điệu xướng tụng cho đến ăn cơm, mặc áo, tắm giặt vệ sinh, sự Sư chấp tác v.v… tọa thiền tụng kinh niệm Phật sám hối, bố tát…. cũng phải nên học tập và rèn luyện thuần thục. Đó là an trụ Tăng tướng, thành thục Tăng nghi, đây là hạng mục huấn luyện cực kỳ trọng yếu.
4. Chuyển hóa tập khí thế tục và luyện thành tâm nhu thuận:
 
Xuất gia vốn là một loại sinh hoạt tu đạo và thực tiễn thể hiện tìm cầu giải thoát, nó đương nhiên không chỉ là biểu hiện bên ngoài là cạo đầu, mặc áo người xuất gia mà thôi. Cổ đức có nói “sống chuyển thành chín” chính là đòi hỏi ở trong nhận thức, quan niệm tập tính và hành vi của người mới xuất gia dần dần mài mòn đến triệt để. Bởi khi ở thế gian tham đắm ngũ dục, phóng túng tự do, ngu si cống cao và ương ngạnh tự dụng… Nay đem nó đổi thành thiểu dục tri túc, tiến thoái có phép tắc, ba nghiệp nghiêm cẩn và nhu thuận khiêm hạ… Cũng chỉ có như vậy họ mới có thể tương ứng với tâm xuất ly. Mà có niệm thanh tịnh của tâm xuất ly, mới có thể trong sinh hoạt tu đạo trường kỳ sau này khi đối mặt với hoàn cảnh thuận nghịch để khảo nghiệm mới không điên đảo, mê hoặc. Mặt khác, có tâm nhu thuận mới có thể trong sinh hoạt, tu đạo tập thể lâu dài tùy thời tiếp nhận thiện tri thức, đồng tu đồng học chỉ bảo, sách tiến phản tỉnh và tu chỉnh.
Đó là một loại công tác sinh hoạt chuyển hóa cho người sau khi xuất gia rất bức thiết, không thể thiếu, cũng không thể mất đi thời cơ đạt hiệu qủa cao nhất. Hoàn thành được mục tiêu này chính là đảm bảo cho người xuất gia, ví dù tương lai sau này không gặp được thiện tri thức và đồng tu thiện hữu chỉ dạy, sách tiến đi nữa, đối với con đường tu học sẽ không bị sai đường lạc lối. Phàm là người muốn xuất gia hoặc các vị thầy đối với điều này càng phải sâu sắc thể nghiệm. Đó cũng chính là giáo dục đặc thù đối với Sa Di.
5. Nuôi dưỡng đạo tâm kiên cố, và nhận thức về Tăng cách cao siêu
 
Các mục tiêu nêu trên chú trọng ở chỗ dứt ác và kiến lập tâm lý tiếp nhận sự giáo dục, ở mục tiêu này tiến thêm một bước tích cực kiến tập động cơ tu học. Từ biết khổ, chán sợ khổ đến cầu xa lìa khổ, phát tâm trợ giúp người khác lìa khổ, viên mãn tự lợi lợi tha, giải thoát, chính là một vị hành giả Đại thừa, đánh dấu sinh khởi đạo tâm. Nhưng ngay trong đó thường nên đối mặt với các tập khí từ vô thủy như tham dục, sân độc, ngã mạn, phóng dật, chấp trước và thành kiến… và những ác duyên, nghịch cảnh làm cho bức xúc phát sinh phiền não,… Làm thế nào phải dũng mãnh đối diện, nhận thức, phản tỉnh, sám hối, kiên trì chuyển hóa và tiếp nhận, đây thuộc về nội hàm Đạo Tâm”.
Tu hành rất khổ, một vị Sa Di phải có nhận thức chính xác rằng nếu không tu đạo lại càng khổ hơn. Ngũ dục rất vui, nhưng một vị Sa Di phải có nhận thức rõ ràng rằng đó là một loại thuốc độc bọc đường. Đối cảnh thường hay thất niệm, nhưng một vị Sa Di cần dũng mãnh tịnh tiến kiên trì chính niệm, tu tập mài mòn tập khí. Tuy nay ở địa vị thấp kém, nhưng một vị Sa Di phải có lý tưởng tương lai “hậu sinh khả úy”, thân đủ năm đức sẽ thành bậc mô phạm cho trời người.
Từ trong kinh Bản Sinh, Bản Sự và truyện ký về các bậc cao Tăng thạc đức xưa nay, giúp cho vị Sa Di thể hội được Tăng cách hoàn mỹ phải chuẩn bị đầy đủ ý chí đoạn tuyệt thế tục tập khí, đủ dũng khí vượt qua gian khổ thử thách quên cả tính mạng để cầu đạo và độ sinh. Do có nhận thức mà sinh tâm ngưỡng mộ, do ngưỡng mộ mà dốc sức học theo, làm theo, ví dù chẳng thể thành tựu bậc long tượng chí ít cũng là một vị Tăng xứng đáng.
6. Tùy học và đào luyện về giới pháp, luật nghi…
 
Năm mục tiêu trên chủ yếu chú trọng ở TÂM LÝ và TRI KIẾN mà thiết lập, ở mục tiêu này nhằm rèn luyện cụ thể về năng lực hành vi.
Hành sự sao nói: “Hành sự của Sa Di, phép tắc giống như đại Tăng, chỉ một pháp yết ma, không được tính vào túc số tham dự, ngoài ra các hạnh khác đều chế đồng tu học”. Tư Trì ký nói: “Tuy chẳng được cùng Tăng thuyết giới, yết ma, nhưng là chúng dự bị khiến họ sinh tâm hâm mộ”. Sa Di tuy mới thụ mười giới so với giới của Đại Tăng khác nhau, nhưng trong hai môn chỉ trì và tác trì của giới luật, chỉ trừ thuyết giới và yết ma không được tính vào túc số Tăng tham dự ra còn lại đều phải theo Đại Tăng tùy học. Tư Trì ký nói: “Tuy ở địa vị dưới, nhưng cũng đầy đủ giới thể so với đại Tăng không khác”. Sa Di nếu có phạm vào giới của Tỷ khiêu, trừ thiên đầu giống của Tỷ khiêu lấy khinh tội định danh, ngoài việc diệt tẩn không khai cho sám hối, các thiên còn lại đều nên thực hành pháp biệt trụ hoặc pháp sám hối, chỉ là tội danh đều có một tên chung là Đột cát la mà thôi. Hành sự sao nói: “Việc sám hối tội lỗi nhất loạt giống với Đại Tăng, trong giới nội tập hợp mọi người mà tiến hành tác pháp, người chưa thụ giới cũng không ngoại lệ, văn bạch giống như Đại Tăng, chỉ lấy một tội Đột cát la là khác thôi. Nếu phạm từ Tăng tàn trở xuống cho đến Đề Xá Ni, đều nên sám hối, có che giấu phải nên trị tội, chỉ lấy tội danh Đột Cát La để quy định. Nếu phạm vào thiên Ba La Di trong luật có ghi: “Ba chúng (Sa Di, Sa Di Ni, Thức Xoa) diệt tẩn”. Đối với Sa Di Ni thì tùy học theo giới của Thức Xoa và Tỷ khiêu ni.
Giới luật của Tỷ khiêu (Ni) gồm chỉ trì và tác trì, đây là nền tảng rất căn bản để người xuất gia y cứ dùng tu tam vô lậu học, cũng là kỷ cương nhiếp trì Tăng đoàn, duy trì và bảo hộ Tăng đoàn, khuôn mẫu cho Tăng chúng, thể hiện Tăng cách một cách trực tiếp, có cương lĩnh và phương pháp trọng yếu. Nếu có thể ở giai đoạn Sa Di mà tiến hành huấn luyện, khiến họ thuần thục trở thành tập quán sinh hoạt xuất gia lục hòa cộng trụ đó là chế độ sinh hoạt Thanh Tịnh Ly Dục, thì tương lai khi tiến nhập địa vị Tỷ khiêu ắt sẽ phát huy mạnh mẽ sức nhiếp thụ và sức duy trì Tăng Bảo. Nếu nói đến hành Bồ Tát đạo hóa độ chúng sinh thì mục tiêu này lại là hết sức trực tiếp và căn bản.
7. Sám hối nghiệp chướng và vun bồi phúc báo
 
Phật là đấng “Lưỡng túc tôn” phúc đức - trí tuệ đầy đủ. Vì thế tu phúc, tu tuệ là nội dung tu học chủ yếu trong cửa Phật. Nhưng đối với người mới xuất gia bước vào cửa Phật mà nói: Tu tuệ trực tiếp hiệu qủa không gì bằng pháp sám hối tiêu trừ nghiệp chướng đang ngăn lấp trí tuệ sinh khởi. Như nói “Cải tà quy chính” hay “dứt ác làm lành” phải bắt đầu từ khi là bạch y đến chùa làm Tịnh Nhân nhằm chuyển “nhiễm thế tục” thành người thanh tịnh, đây là giai đoạn cực kỳ trọng yếu. Đối với nghiệp chướng đã tạo từ qúa khứ đến hiện tại đem ra đình chỉ, chế ngự, dứt trừ để từ nay về sau không còn tạo tác, được thân tâm thanh tịnh mà phát sinh trí tuệ giải thoát giác ngộ. Để bảo đảm tương lai tu hành lâu dài được an toàn và thuận lợi, thì việc sám trừ ba nghiệp tạo ác hình thành sự chướng ngại cho việc tu đạo là công việc hết sức trọng yếu trong bước tu học ban đầu. Từ vô thủy đến nay chúng ta tạo tác không biết bao nhiêu các ác nghiệp thể trọng như sát sinh, trộm cắt, dâm dục, nói dối,… Ngày nay một niệm tâm cầu giải thoát, tuy có thể tạm thời chưa đọa lạc, nhưng ác nghiệp như giống bất hoại bất cứ lúc nào cũng như bóng theo hình chỉ chờ có duyên là trỗi dậy. Cho nên càng phải tinh cần tu học, luôn tỉnh giác đề phòng ác nghiệp dẫn dắt, dụ hoặc. Cổ đức có dạy: “Đạo cao một thước, ma cao một trượng” càng là tâm niệm thanh tịnh, nếu sơ ý thất niệm thì chiêu cảm ác báo qúa khứ càng rõ ràng. Do vậy bước đầu tu hành phải luôn luôn đề phòng cảnh tỉnh điều này mới được.
Trong kinh Phật dạy: “Nghiệp chướng như sương mù buổi sớm, sám hối như mặt trời giữa trưa”. Bất luận nghiệp có sâu bao nhiêu, chướng có nặng bao nhiêu, chỉ cần siêng năng, chí thành sám hối, nghiệp chướng không có lý nào lại không tiêu diệt.
Mặt khác, nếu chỉ có trí tuệ mà không có phúc báo thì không thấm nhuần. Nó giống như mảnh đất khô cằn, tuy có chăm sóc nhưng không cách gì nuôi lớn thứ hạt giống công đức lợi ích. Trong Sa Di Luật nghi có nói: “Vì tuổi nhỏ (khu ô Sa Di) chưa kham được việc nặng nhọc, chỉ khiến họ vì Tăng chúng giữ gìn xua đuổi chim quạ để có chút mệt nhọc, sinh điều phúc thiện, không đến nỗi ngồi xuông ăn dùng của tín thí”. Lại nói: “Ứng pháp Sa Di chính là phải tương ứng với hai phép, một là hay hầu thầy (chấp lao phục dịch) làm việc khó nhọc phục vụ đại chúng; hai là hay tu tập thiền tụng”. Đều là chỉ cho Sa Di nên từ hoàn cảnh thực tế mà chấp lao phục dịch, bao sái quét dọn… tiến thoái như pháp tiến đến bồi dưỡng phúc báo, triết phục tính lười biếng, kiêu mạn, vì đại chúng mà phục vụ, tiêu của tín thí; Điều hòa nhu thuận tâm tính, tăng trưởng tri thức, bồi dưỡng tinh thần tự lập trong tương lai.
Vì vậy trường kỳ lễ Phật sám hối để tiêu nghiệp chướng khai mở trí tuệ, chịu khổ chịu nhục chấp tác để tăng trưởng phúc lực (chấp lao phục dịch trưởng tự phúc cơ). Chính là một trong những mục tiêu và phương pháp giáo dục hết sức trọng yếu trong học trình của Sa Di. Thường thấy các vị thân làm Tỷ khiêu nhưng mà phiền phiền não não, không có cách gì an tâm trong sinh hoạt tu đạo, thường bị gió nghiệp thổi cho trôi dạt. Một trong những nguyên nhân trọng yếu là do nghiệp chướng chưa tiêu trừ, phúc báo không đủ mà ra. Vì muốn cơ sở tu hành tương lai kiên cố thì phải tiêu trừ nghiệp chướng và tăng trưởng phúc báo, đây là công việc chuẩn bị rất trọng yếu trong giai đoạn xuất gia làm Sa Di.
8. Ghi nhớ học thuộc văn tự và kinh điển cơ bản
 
Giai đoạn huấn luyện Sa Di, cố nhiên chú trọng ở tâm tính uy nghi, giới hạnh, tiêu trừ nghiệp chướng và vun bồi phúc báo. Nhưng đối với tri kiến căn bản về Phật Pháp, học tập và đọc thuộc kinh điển căn bản là rất quan trọng. Xưa nay giáo dục Phật giáo rất coi trọng công phu học thuộc, bởi tuổi trẻ sức học và sự ghi nhớ rất tốt, tuy không ngay lập tức phát huy tác dụng lý giải, nhưng sau này khi trưởng thành thì những gì ghi nhớ lúc còn trẻ đối với các phương diện cuộc sống, đạo đức, tu học sẽ phát sinh sự giải ngộ thể nghiệm sâu sắc. Từ xưa, bất luận là Phật giáo Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Quốc đều có chung một đặc tính tức là đặc biệt chú trọng phương thức học tập ghi nhớ thuộc lòng, nguyên nhân vì nội dung ghi nhớ đó đều lấy triết lý cuộc sống làm chủ yếu. Chú trọng không phải tập tính tư duy phân biệt, mà là ở ngay sau khi cuộc sống đem tự thân mình thể nghiệm và thực hành sẽ tự nhiên thể nhập và lý giải. Về cơ bản nó thuộc một loại học vấn trực quan mà không phải cách học phân tích lý giải. Cách học này khác với phương thức giáo dục hiện nay tập trung vào sự tư duy phân biệt, phân tích nghĩa lý mà xem nhẹ việc học thuộc ghi nhớ. Trong kinh Lăng Nghiêm có nói: “Tri kiến lập tri thị vô minh bản” từ nơi tri kiến lại tạo ra tri kiến đó là gốc vô minh. Tu học Phật Pháp là dùng trí tuệ chứ không dùng tri kiến, cho nên không rời mục tiêu đại triệt đại ngộ, mà giác ngộ không phải kết qủa của việc tư duy phân biệt (đây là vọng tưởng) mà là phương pháp trực quan sinh mạng. Bước đầu xuất gia tu học, nội tâm như tờ giấy trắng, học thuộc ghi nhớ như chữ nghĩa được viết nên trên đó vĩnh viễn làm chủng tử Phật Pháp không mất, trong sinh hoạt hàng ngày nó có tác dụng nội hóa thân tâm phát khởi sự tỉnh giác, “kiến hiền tư tề” và “phòng phi chỉ ác” đó chính là chỗ thiết yếu của giáo dục Sa Di.
9. Học tập và huân tu về sơ đẳng thiền quán
 
Tám giai đoạn trên đều thuộc về phạm trù kiến lập Tăng cách, uy nghi, còn ở đây là chính tu Định - Tuệ để dần dần tiến đến giải thoát. Hết thảy các pháp môn tu học trong Phật Pháp đều phải lấy giới luật làm nền tảng căn bản, song thực chứng Phật Pháp nếu không có Định - Tuệ thì không thể thành công. Bất luận là trì giới và tu phúc cố nhiên là tính bức thiết và tất yếu trong giai đoạn giáo dục Sa Di, nếu không bước vào tu tập Định- Tuệ chẳng những tương lai tu tập sẽ phát sinh chấp trước không hóa giải được, tâm lượng hẹp hòi và năng lực tu hành không đủ, thiếu mất phương pháp an tâm. Đại sư Ngẫu Ích có nói: “Năm hạ về trước tinh chuyên giới luật”. Tinh chuyên đâu chỉ ở việc đắp y trì bát mà thôi? Trong luật yếu vụ thứ nhất là ở nơi nhất tâm, niệm không thác loạn, nghĩa là y nơi Tứ niệm xứ mà tu đạo. Nếu chẳng có chính niệm thì mặc cà sa khác gì cái mắc treo áo, lễ bái khác gì giã gạo, lục độ vạn hạnh đều giống với khổ hạnh của ngoại đạo không phải chân tu”. Đạo Tuyên Luật Sư có nói: “người tu nếu chỉ biết trì giới mà tâm không ở nơi đạo, trong lòng tràn đầy sân hận, tâm lý nhiễm ô cũng chỉ tăng thêm nghiệp sinh tử mà thôi”. Ngài lại nói: “nếu làm các việc thế gian, cúng dàng Tam Bảo, chùa, tháp mà tâm không có đạo thì cũng trở nên chấp ngã, chấp pháp, hoặc chìm đắm xuống dưới. Do làm được chút phúc thiện khen mình chê người, tự cao tự đại, tà kiến, tạp loạn sẽ chịu qủa báo qủy thú (A Tu La). Vì tâm không thật nên sinh ác đạo, nhưng do làm phúc thì được chút cảnh giới tốt đẹp hơn mà thôi”.
Vì vậy nên biết, nếu chỉ trì giới, tu phúc mà không tiến thêm một bước tu tập Định Tuệ, cuối cùng cũng lạc vào trời người mà thôi. Do vậy Sa Di ngoài việc tu tập uy nghi giới luật… thì cần thiết phải có một phương pháp tu tập thích hợp hoặc thiền quán, hoặc niệm Phật… để chuyển hóa nội tâm thành tựu Định Tuệ, giải thoát…
Giống như giáo dục tiểu học, mục tiêu giáo dục Sa Di ngoại trừ bồi dưỡng Tăng cách cao siêu, mà còn là chính thức tiến nhập vào xã hội; Thích ứng với xã hội và cống hiến xã hội cũng là cơ sở giáo dục không thể thiếu được. Ngày nay tình hình của Tăng Ni là: không chuẩn bị mục tiêu học tập, ngay cả các cấp học cũng không có mục tiêu rõ ràng, kết quả là đào tạo ra một thế hệ Tăng Ni thiếu đạo hạnh, thiếu tu, không có đạo tâm, thiếu nhiệt huyết phục vụ Phật Pháp và chúng sinh. Uổng phí một đời, tiêu hao tín thí, thậm chí phá pháp hoại giáo mà đọa địa ngục, thật đáng tiếc thay!
VII. Nguyên tắc thi hành giáo dục Sa Di
 
Muốn đạt thành tông chỉ và mục tiêu giáo dục Sa Di, đồng thời thu được hiệu quả của giáo dục là chuyển hóa thân tâm thì cần phải có nguyên tắc thi hành một cách cụ thể như sau:
1. Lấy thực tế sinh hoạt làm trọng tâm giáo dục
 
Giáo dục Sa Di thay vì một mớ lý thuyết nhồi nhét vào đầu bằng ngay thực tế sinh hoạt chân chính, giải thoát của Tăng già nó có ý nghĩa nội hóa thâm sâu. Đối với phương thức giáo dục mà nói thì đây là lúc mà giảng sư dùng thân giáo để ngầm chỉ dậy, việc truyền thụ trọng ở chữ nghĩa văn tự. Nhân vì giáo dục sinh hoạt thì cần phải người thầy trong sinh hoạt thường ngày phát sinh hành vi, cử chỉ, lời nói làm mô phạm cho đệ tử, chỉ có như vậy mới đem Tăng cách uy nghi của người thầy khắc sâu vào trong nội tâm của đệ tử mà tạo thành nhân cách của người học.
Đối với việc kiểm tra đánh giá kết qủa mà nói, sự thành bại của giáo dục không chỉ đánh giá ở tri kiến cao hay thấp, mà coi trọng ở đạo hạnh và thực tiễn. “Nói được một thước không bằng làm được một tấc”. Đó là quan điểm giáo dục xưa, nay của Phật giáo.
Xuất gia cơ bản là một loại sinh hoạt thực tiễn hoàn toàn mới mẻ đối với người mới bước chân vào đạo, mà giai đoạn Hình đồng - Sa Di là thời điểm đặc biệt quan trọng để huấn luyện họ thích ứng với sinh hoạt của người xuất gia “thiểu dục tri túc, an bần lạc đạo”. Vì thế yêu cầu giáo dục thực tiễn coi trọng thân giáo và sự chỉ dạy cẩn thận tỉ mỉ của người thầy đối với đệ tử trong mọi mặt sinh hoạt của đời sống xuất gia. Đây là nguyên tắc giáo dục quan trọng hàng đầu.
Trải qua thời gian quan sát và khảo nghiệm có nên cho họ thế phát, thụ giới hay không? Sau khi phát tâm đến chùa tu học cần quy định một thời gian thích ứng thử thách là ba năm để quan sát và khảo nghiệm mới cho thế phát xuất gia là thích hợp. Nếu đốt cháy giai đoạn này người xuất gia không có đủ thời gian để làm quen với sinh hoạt xuất gia và chuyển hóa tập khí thế tục. Sau khi thế phát cũng cần có thời gian để khảo nghiệm. Có nên cho thụ giới Sa Di hay không? Luận Tát Bà Đa nói: trước nên trao cho năm giới để điều phục thân tâm, tín tâm kiên định, uy nghi đầy đủ mới nên cho thụ mười giới”. Giai đoạn này cũng nên có thời gian là từ một đến hai năm.
2. Lấy tâm nhẫn nại và tâm từ bi làm cơ sở
 
Trong qúa trình dạy học và ứng xử hàng ngày sự biểu hiện tâm thức giáo dục của người thầy (giảng sư - sư phụ) sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ học tập của Sa Di và sự phát triển Tăng cách trong tương lai. Bất luận là tuổi tác lớn hay nhỏ, khi họ vừa bước chân vào chùa, đối với hết thảy những điều cần học, cần làm của người xuất gia thảy đều mới lạ và có thái độ lo sợ. Khi ấy người thầy cần phải dùng tâm nhẫn nại và tâm từ bi để chỉ dậy, chẳng những được đệ tử dễ dàng tiếp thu, đồng thời cũng là trực tiếp đem đặc tính tốt đẹp này truyền thụ cho họ, tương lai tạo thành Tăng cách tốt đẹp cho đệ tử.
3. Đồng thời áp dụng quyền uy và khai phát (gợi mở)
 
Phật Pháp cơ bản là giáo dục tỉnh giác, vì thế phương thức giáo dục dân chủ gợi mở được Phật giáo coi trọng. Nhưng mà chúng sinh căn tính chậm lụt, tập khí nặng nề, thiếu tinh thần tích cực, tự chủ, tự giác tu học. Do vậy một mặt đình chỉ sự tự tung tự tác phát sinh sai lầm, đồng thời cũng triết phục tâm tính chấp ngã, cống cao ngạo mạn thì phải dùng quyền uy của người thầy là điều tất yếu. Cổ đức có nói “Sư nghiêm tử kính” thầy hay mới có trò giỏi được. Nên biết thuốc không có qúy tiện chỉ cần trị được bệnh đều là thuốc tốt, một mặt là quyền uy, một mặt là dân chủ gợi mở đều nên phối hợp sử dụng thích đáng mới cho hiệu qủa tốt đẹp.
4. Quán cơ đậu giáo
 
Các nguyên tắc nêu trên đều quan trọng ở chỗ căn cơ và thời cơ để lựa chọn phương thức giáo dục hiệu qủa. Đối với căn khí tính cách, tuổi tác, hoàn cảnh xuất thân khác nhau cũng cần áp dụng phương tiện đặc thù cho từng đối tượng. Do vậy quan sát căn cơ áp dụng phương pháp giáo dục thích hợp là điều khó nhất trong công tác giáo dục.
5. Tạo cơ hội sửa chữa sai lầm
 
Làm người ai cũng có sai lầm, nhưng điều quan trọng là nhận ra được sai lầm để sửa chữa kịp thời, không có tâm che giấu, có tâm cầu thị, trung thực thành khẩn dũng mãnh nhận lỗi để sửa chữa đó mới là tâm thức của người xuất gia chân chính. Nhưng người thầy phải nghiêm túc khiển trách khi đệ tử sai lầm nhưng cũng khoan dung, ân cần chỉ dạy tạo cơ hội cho họ sửa chữa sai lầm, giúp họ trưởng thành lên sau khi vấp ngã, triết phục được tâm phóng dật, bồi dưỡng thành thục Tăng cách trong tương lai.
VIII. Nguyên nhân dẫn đến giáo dục Sa Di không hiệu qủa
 
Thực tế cho thấy, phẩm chất của người xuất gia hiện nay không được tốt, nguyên nhân chính là do giáo dục “thiện ác đâu phải là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Nay để đổi bệnh cho thuốc, tạm chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản sau đây:
1. Người làm thầy và người muốn xuất gia không biết muốn xuất gia cần có bao nhiêu điều kiện? Làm thầy phải có tiêu chuẩn gì? Và mục đích nhân địa xuất gia để làm gì?
Thế phát độ cho người xuất gia là nối tiếp và phát triển Tăng già, là cơ sở để Tam Bảo trụ thế. Để đảm bảo Tăng già thanh tịnh và tố chất của người xuất gia, trong giới luật Đức Phật chế định điều kiện làm thầy và tiêu chuẩn của người xuất gia một cách nghiêm túc. Trong “Tỷ khiêu tam thiên uy nghi” có ghi: Tỷ khiêu phải đủ từ mười hạ trở lên mới được độ cho người khác xuất gia, nhưng nếu không đủ năm pháp suốt đời không được độ người. Năm pháp là: 1. Hiểu rõ hai bộ giới Tỷ khiêu, Tỷ khiêu ni; 2. Có khả năng quyết nghi cho đệ tử, Biết rõ phạm không phạm, tội tướng nặng nhẹ; 3. Đệ tử ở phương xa, có khả năng khiến cho đệ tử quay trở về; 4. Có khả năng phá tà kiến cho đệ tử, và răn dạy không làm ác hạnh; 5. Nếu độ tử ốm đau, có khả năng chăm sóc như cha mẹ nuôi con. Nếu thành tựu năm pháp đủ mười hạ được làm thầy nuôi độ đệ tử, nếu không đủ năm pháp, trọn đời không được độ người. Nếu độ người phạm tội việt pháp”. Lại nói: “Tỷ khiêu muốn độ đệ tử thụ giới Sa Di phải đủ năm việc: 1. Phải biết bốn Bộ A Hàm; 2. Phải biết giới luật; 3. Phải biết kinh luận; 4. Phải có trí tuệ; 5. Phải có đức hạnh. Lại có năm việc: 1. Trì giới; 2. Không phạm giới; 3. Hiểu kinh; 4. Nhẫn nhục; 5. Đầy đủ uy nghi; đầy đủ các hạnh này mới nên độ người thụ giới Sa Di. Luật Tăng kỳ nói: “Thành tựu mười pháp được độ người xuất gia, thụ giới Cụ Túc: 1. Trì giới; 2. Đa văn A Tỳ Đàm; 3. Đa Văn Tỳ Ni; 4. Học giới; 5. Học định; 6. Học tuệ; 7. Có khả năng xuất tội, hay khiến người xuất tội; 8. Chăm sóc đệ tử khi bệnh; 9. Đệ tử gặp nạn có khả năng bảo hộ; 10. Đủ mười hạ”. Lại nói: “Chí ít phải đủ mười tuổi hạ và thông hiểu giới luật mới được độ đệ tử”. Trong Luật Thiện kiến cũng nói: “Nếu không hiểu giới luật, chỉ biết kinh luận, chẳng được độ Sa Di”.
Trong kinh Địa trì nói: “Chiên Đà La và kẻ đồ tể tuy làm nghiệp ác, chẳng thể phá hoại chính pháp của Như Lai, không nhất định đọa vào ba đường ác. Làm thầy mà không biết dạy bảo đệ tử, thì phá hoại Phật Pháp nhất định sẽ đọa địa ngục”. Lại nói: “Vì danh dự súc dưỡng đồ chúng gọi là tà kiến, là đệ tử ma, không nuôi đệ tử chẳng thể phá hoại chính pháp của Như Lai, nuôi đệ tử xấu ác thì phá hoại Phật Pháp nên gọi là đệ tử của ma. Vì lợi dưỡng súc dưỡng đồ chúng cũng là tà kiến”.
Người làm thầy nhân địa đã không chân chính, không ít người xuất gia nhân địa cũng là điên đảo, không phải hảo tâm xuất gia, không có tố chất, không có đạo đức v.v… Đây chính là nguyên nhân căn bản dẫn đến Phật Pháp suy vi.
2. Thầy - trò tuy có tâm muốn dạy - muốn học, nhưng không biết bắt đầu từ đâu? Tuy phát khởi tâm tốt muốn dạy bảo - muốn học tập nhưng vì trình độ nhận thức hạn chế, không có giáo trình, không có phương pháp, không có kỹ năng, hoặc điều kiện hoàn cảnh không tốt qúa phan duyên vào việc phục vụ tín ngưỡng nên không có cách gì dạy bảo đệ tử đạt đến mục tiêu chân chính của người xuất gia.
3. Trào lưu của Tăng chúng không tốt làm ảnh hưởng: thầy - trò đều có nhân địa chân chính, nhưng vì phong khí và trào lưu của Tăng chúng không tốt lôi kéo, dụ dẫn, mê hoặc làm ảnh hưởng không nhỏ. Hoặc giả người thầy không có nhận thức đầy đủ về giáo dục Sa Di, đệ tử nhân đó cũng không biết nên làm thế nào để thụ học. Hoặc giả qúa vội vàng trong việc tiếp nhận, cạo đầu và cho thụ giới mà thiếu quan sát khảo nghiệm v.v… Mặt khác, Tăng già chưa thật sự nghiêm túc trong vấn đề cho phép nuôi độ đệ tử và thụ giới, dẫn đến sự tùy tiện.
4. Việc khảo hạnh đàn giới chưa đủ đảm bảo yêu cầu: Ở trên đã nói đến nhân địa xuất gia không chân chính, không chịu học tập, chưa tiếp nhận đầy đủ sự giáo dục đã cho thụ giới dẫn đến “lạm xí tăng luân”. Ngày nay địa phương nào cũng tổ chức đàn giới, về mặt hình thức xem ra tốt đẹp, tuy có khảo hạnh nhưng chỉ là hình thức, chỉ kiểm tra lý thuyết mà không có thực hành, chỉ kiểm tra được phần nhận thức mà không kiểm tra được phần đạo hạnh, còn dễ dãi, nể nang, bỏ qua dẫn đến “sớm vừa cạo đầu chiều đã nên bậc đại Tăng”…
5. Môi trường điều kiện và nội dung giáo dục ở các trường Phật học đều không đầy đủ.
Các trường Phật học hiện nay chỉ chú trọng, giải môn mà thiếu hẳn hành môn, không có môi trường giáo dục Thiền gia, lý luận xa rời thực tế, Tăng Ni xen tạp, quan hệ thầy trò không mật thiết, thiếu thân giáo thị phạm, học trình lộn xộn phiền toái, mục tiêu giáo dục không rõ ràng, cơ sở trường lớp, giáo trình… đều hạn chế… dẫn đến kết quả đào tạo không khả quan.
 
KẾT LUẬN
 
Chúng ta đều biết giáo dục Sa Di là giáo dục nền tảng quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống giáo dục Phật giáo, nó cũng là cơ sở để cải cách Tăng đoàn và phục hưng Phật giáo. Cổ đức có nói: “Đạo tại nhân Hoằng, phi đạo Hoằng nhân”. Do vậy có thể nói: Giáo dục Sa Di có thành công hay không, có hoàn bị hay không, chính là điều kiện tiên quyết để chấn hưng Phật giáo trong hiện tại và tương lai. Đây là điều mà Giáo hội đặc biệt quan tâm.
Giáo dục Tăng ni là giáo dục đào luyện bậc thầy mô phạm cho trời người, đòi hỏi sự tinh chuyên tu học để thăng hoa đạo phẩm, chuyển đổi căn tính tập khí thế tục, thích ứng với điều kiện hoàn cảnh, đưa Phật Pháp vào trong xã hội để lợi ích chúng sinh. Do tích tập lậu tệ đã lâu ngày nên công tác giáo dục Tăng Ni gặp nhiều khó khăn và phức tạp, giáo dục truyền thống theo sơn môn tự viện không được duy trì, nhận thức của người thầy và bản thân người học cũng có phần lệch lạc, môi trường điều kiện giáo dục không hoàn chỉnh là nguyên nhân chính dẫn đến kết qủa giáo dục Tăng ni không được viên mãn.
Bài viết này đứng trên quan điểm của cá nhân về tính trọng yếu của giáo dục Sa Di để có những lý giải cơ bản về lý luận, thực trạng và giải pháp cho vấn đề giáo dục Tăng Ni hiện nay. Rất mong nhận được sự đồng cảm chia sẻ của chư tôn đức Tăng Ni quan tâm đến sự nghiệp đào tạo giáo dục Tăng tài “vì lợi ích trăm năm trồng người”.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM HOA.THICH NU TAM GIAC.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,ADELAIDE,SYDNEY.27/7/2015.