Friday, October 28, 2016

Sử tích
Đại Thánh Ni GOTAMI.
(Ni Trưởng đầu tiên trong Phật giáo).



Đại Thánh Ni Gotami, tên viết đầy đủ là Mahà Pajàpati Gotàmi Therì (Sanskrit : Maha Prajapati Gautami Therì, Tàu âm là Ba-Xà-Ba-Đề Cồ-Đàm). Bà chính là dì ruột và cũng là dưỡng mẫu lẫn kế mẫu của đức Phật.

Theo kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy (Pàlì), Bà là người đầu tiên yêu cầu đức Phật cho phép nữ giới được xuất gia và tu học trong cộng đồng tăng lữ đạo Phật (Sangha). Bà cũng đã trở thành Nữ Trưởng Lão đầu tiên (Pathama Therì) đắc quả Bất Lai, thoát khỏi sinh tử luân hồi, hay A-La-Hán (Arahatta). Tên của bà thường được nhắc đến trong nhiều bài kinh và tài liệu liên quan đến đức Phật, cũng như tiền thân Phật.

Vả lại, hầu hết những nhân vật tiếp cận với Thái tử Sĩ-Đạt-Ta (=Siddhatta Gotama, Skrt. Siddharta Gautama, tên trước khi thành chánh quả của Phật), đã gần như ít được nhắc đến, trong thời gian khá dài, khoảng hai trăm năm sau khi Phật viên tịch, nên những «thư liệu» về Mahà Pajàpati Gotamì, nếu chúng ta thỉnh thoảng tìm thấy rải rác trong các kinh sách Pàlì, thì chúng có vẻ thiếu mạch lạc, và lắm khi «mâu thuẫn».

Chúng ta dĩ nhiên nên thận trọng. Đặc biệt là những thư liệu rút ra từ các sách trong bộ Túc Sanh Truyện (Jàtakà), bất kỳ theo Nam Tông hay Bắc tông. Vì nội dung chúng ta thường thấy chênh lệch khác nhau, lẫn đầy huyền thoại.

Nhưng khi «phối hợp chung kết» thì hầu hết có thể nói rằng, Mahà Pajàpati Gotamì chắc chắn là em gái (út) của Hoàng hậu Maya. Bà sinh ra ở Devadaha, và Phụ thân tên là Anjaya Sakka, thuộc vương tộc Koliya (Ap.ii538). Vương tộc nầy vừa là đồng minh vừa là kẻ thù truyền kiếp của dòng dõi Sakya (Thích-Ca). Cả hai vương tộc đều thuộc giai cấp «Chiến sĩ» (Khattiya, Skrt. Kshatriyas) trong xã hội Ấn Độ thuở bấy giờ.

Còn thân mẫu của Mahà Pajàpati Gotamì (theo kinh Appàdana) tên là Sulakkhana (Skrt.Sulakshana), nhưng «kinh truyện» Mahàvatthu (Skrt. Mahavatsu) thì không gọi là Sulakkhana, mà gọi là Yasodharà (trùng tên với công chúa vợ Thái tử Sĩ-Đạt-Ta, mẹ Ra-Hầu-La (Rahula) (Mhv.ii.18).

Mahà Pajàpati Gotamì có hai người anh, tên là Dandapani và Suppabuddha (Dpv.xiii.7f).

Khi chào đời, các nhà hiền triết đã tiên đoán rằng, cả hai chị em bà (kể luôn hoàng hậu Maya), đều là những người có phúc phần rất cao. Đó là «phúc phần» của hai bậc góp bàn tay «chuyển bánh xe pháp» (Cakkavattim) trong dân gian.

Riêng ý nghĩa cái tên «Pajàpati» (tạm dịch «nữ mô phạm») đã được cha mẹ cố ý chọn khi sinh ra Bà, bỡi vì «linh tánh» của họ đã báo trước cho họ biết rằng «Pajàpati Gotamì là kết tinh của nhiều đức hạnh» Về sau, tư cách của Gotàmì quả đã phản ảnh đúng cái tên, do cha mẹ chọn. Tính tình của Bà khác hẳn chồng bà, là vua Tịnh Phạn (Suddhodana).

Đến tuổi trưởng thành, hai chị em (Màyà và Pajàpati) lần lượt kết hôn với vua Tịnh Phạn (Suddhodana), người đứng đầu vương tộc Thích ca (Sakya). Rồi khi Hoàng hậu Màyà qua đời (7 ngày sau khi hạ sinh Thái tử), Mahà Pajàpati Gotàmì tình nguyện nhận trách nhiệm nuôi dưỡng Thái tử Sĩ-Đạt-Ta (Siddhatta). Bà vui lòng giao con đẻ của mình là Nanda cho người vú chăm sóc.

Do đó, chúng ta có thể nghĩ rằng, «Sĩ-Đạt-Ta Cồ-Đàm» (Siddhatta Gotama) đã mang «danh hiệu» của dưỡng mẫu. «Gotama» tàu âm là «Cồ Đàm». Vì thuở bấy giờ, khuynh hướng mẫu hệ rất thịnh hành. Tập tục gọi tên con theo «danh hiệu» của người mẹ, là một chuyện rất bình thường. Và ngoài Nanda (Nan-Đà) ra, Mahà Pajàpati Gotamì còn sinh một đứa con gái, tên là Sundarì Nanda. (MA.i.1001, cp).

SỰ RA ĐỜI CỦA NI CHÚNG.

Tưởng cũng nên nhắc lại, rằng khi vua Tịnh Phạn (Suddhodana) từ trần, đệ nhị hoàng hậu Mahà Pajàpati Gotamì đã đắc quả Tu Đà Hườn (Sotàpanna), bậc thứ nhất trong thánh lưu giải thoát.

Theo Dh.A.i.97, thì Bà đắc đạo khi đức Phật, trong chuyến trở về thành Ca-Tỳ-La-Vệ (Kapilavatthu), đến thăm tư dinh của thân phụ Bà, và thuyết một bài Pháp, có tên là Mahà Dhammapàla jàtaka (Truyện người Đại Hộ Pháp). Thời pháp đó đã làm Bà phát nguyện sẽ hành trì cho viên tròn phạm hạnh, tiến tới giải thoát sinh tử.

Nhưng nhìn vào thực tế, Bà còn sống trong «tình trạng» một cư sĩ, và vì đại nguyện nói trên, Bà đã luôn luôn chờ dịp, để yêu cầu Phật cho phép Bà xuất gia, nhập vào «cộng đồng thanh tịnh khất sĩ».  

Lúc ấy đức Phật Cồ-Đàm (Buddha Gotama) trở lại quê quán, với mục đích hòa giải sự xung đột, giữa 2 vương tộc Koliya và Sakya, tranh chấp quyền xử dụng dòng nước con sông Rohini, nằm giữa 2 lãnh thổ, vốn đã nhiều lần là nguyên nhân gây gổ giữa đôi bên.

Ở đó, sau khi Phật nói kinh Kalahavivàda, thì có 500 nam thanh niên quí tộc Sakya (Thích-Ca) xin xuất gia, nhập vào cộng đồng Tăng lữ (Sangha). Vợ của những người ấy nhân dịp liền cùng với Mahà Pajàpati Gotamì đến cầu Phật, để họ được làm như vậy, nhưng đức Phật đã từ chối. Rồi Ngài lên đường đi Tỳ-Xá-Ly (Vesàli=Vaisàli).

Sẵn quyết tâm, Mahà Pajàpati Gotamì và những thiếu phụ quí tộc Sakya kia liền tự mình xuống tóc, ăn mặc vải thô màu vàng, rồi cùng nhau lên đường theo chân Phật. Tuy đã bị Phật từ chối nhiều lần, nhưng họ không nãn chí bỏ cuộc. Đoàn người đi mãi cho đến nơi Phật dừng chân, là Tỳ-Xá-Ly.

Đến nơi, Phật đi thẳng vào tịnh phòng Mahayana, trong sảnh đường Kutagara, thì Mahà Pajàpati Gotamì và 500 phụ nữ quí tộc cũng theo sau. Đoàn người nữ «cầu xuất gia» nầy nhất định không rời Phật nửa bước, làm cho tăng đoàn tùy tùng bên cạnh đức Phật càng khó xử.

Tiếp theo, nhờ Tôn giả A-Nan-Đa (Ananda) ủng hộ họ, hỏi Phật về «hạnh nguyện của Dì mẫu Mahà Pajàpati Gotamì có thể viên tròn giải thoát, trong kiếp nầy hay không», thì được Phật trả lời «có thể». Với câu trả lời «tích cực» đó, A-Nan-Đa đã mạnh dạn yêu cầu Phật chấp thuận cho Mahà Pajàpati Gotamì, và các thiếu phụ quí tộc Sakya (Thích-Ca) đi tu.

Đức Phật khi ấy dùng vô lượng tâm quán chiếu về các kiếp quá khứ, thì thấy Mahà Pajàpati Gotami đã từng phát đại nguyện gặp Phật thì nâng cao phạm hạnh, trở thành tu sĩ, sống đời sống giải thoát, và hướng dẫn những đồng đạo chung quanh. Liền đó Phật chấp thuận lời yêu cầu cho nữ phái xuất gia, cùa Tôn giả A-Nan-Đa (Ananda), lẫn của dì mẫu Mahà Pajàpati Gotamì.

Nhưng không phải chỉ có thế, song song với việc cho phép nữ giới xuất gia, đức Phật còn nêu ra 8 điền kiện (cũng có thể gọi là 8 giới luật) dành riêng cho nữ tu, hay tỳ-kheo-ni (bhikkhùnì) phải tuyệt đối tuân hành. Và người đầu tiên sốt sắng chấp nhận 8 điều kiện ấy là Hoàng hậu Mahà Pajàpati Gotamì (Sp.i.242).

8 giới luật ấy là :

1/Tỳ-kheo-ni (Bhikkhùnì) phải luôn luôn kính trọng Tỳ-kheo-tăng, hay khất sĩ nam (bhikkhu), dù cho vị ấy xuất gia sau họ.

2/Tỳ-kheo-ni không được «an cư kiết hạ» ở một nơi riêng rẽ, không có Tỳ-kheo-tăng đủ phạm hạnh hướng đạo.

Chú dẫn :

Phật phê chuẩn : Vào mùa mưa, tất cả khất sĩ tu Phật phải ở yên một chỗ, để thanh tịnh thân tâm. Khi có việc bất khả kháng phải đi đâu, thi không được vắng trú sở qua một đêm, mà không quay về chỗ cũ trước 24 giờ ngày hôm ấy.

3/Mỗi tháng 2 lần, Tỳ-kheo-ni phải yêu cầu Tỳ kheo-tăng cho biết «ngày sám hối» (tức là ngày kiểm tra hạnh kiểm, hoặc «Phát-Lồ», tiếng Phật, hay Pàlì gọi là Uposatha, để họ đến dự, và được nghe Tỳ-kheo-tăng hướng dẫn cách tu trì, cũng như tụng giới bổn, thuyết pháp. Nhất là đối với những ai giữ giới chưa vững chắc (thường phạm phải), hay không trọn vẹn.

4/Khi dứt mùa mưa, lễ kết thúc «an cư kiết hạ» phải được thực hiện một cách cộng đồng, gồm toàn thể tỳ-kheo-ni, và do tỳ-kheo-tăng chủ động.

5/Một số lỗi quan trọng do tỳ-kheo-ni phạm, phải được trình bày và «giải quyết» trước đại hội đồng tăng và ni. Chỉ có những lỗi nhỏ (hay xích mích riêng tư) mới do «ni chúng» tùy tiện giải quyết.

6/Sa-di-ni (nữ khất sĩ tập sự) phải trải qua 2 năm tu học và nếu tiến bộ, mới có thể thọ giới Tỳ-kheo-ni. Trong khi đó thì nam giới, khi quyết tâm xuất gia, có thể được truyền giới Sa-di và Tỳ-kheo cùng một ngày, khi giáo hội nhận thấy «đương sự» đủ yếu tố nhập chúng.

7/Tỳ-kheo-ni không được rầy la, hay nói «nặng» tỳ-kheo-tăng với bất cứ lý do gì.

8/Dù cho tỳ-kheo-tăng phạm lỗi, thì một tỳ kheo ni cũng không đưọc «quở trách, bàn tán, hay dạy dỗ». Việc ấy chỉ thực hiện giữa hội chúng tỳ kheo tăng mà thôi.

Sau khi Mahà Pajàpati Gotamì hoan hỷ thọ nhận 8 điều luật nêu trên, thì 500 thiếu phụ Sakya kia cũng đồng loạt vâng lời.

Kế đó đức Phật đã truyền giới, làm phép xuất gia, và chỉ định hai nữ khất sĩ làm Ni Trưởng, để giúp Ngài chăm sóc nữ tu. -Giống như Ngài đã chỉ định hai nam khất-sĩ (là Xá-Lợi-Phất và Mục-Kiền-Liên) làm «quản chúng» lúc trước vậy.

Và sau nầy, một số qui tắc được đặt thêm, do các vị «trưởng lão» trong cả hai giới nam và nữ, là do nhu cầu kỷ luật. Chẳng hạng như «Tăng Lệnh» không cho các tỳ-kheo-ni được phép giao dịch, hành đạo, và ở chung thiền lâm với tỳ-kheo-ni Uppalavanna, là vì lý do «huấn luyện riêng biệt».

Lời thêm của «dịch soạn giả» : Nữ tu sĩ ghi trên đây có cùng tên với Thánh-Ni Uppalavanna, một đại đệ tử Phật. Chúng tôi chưa có tài liệu chứng minh hai nhân vật ấy trùng tên, hay chỉ là một người (ở hai giai đoạn khác nhau). Nếu là một, dĩ nhiên hành động người chưa đắc quả, bao giờ cũng hẹp hòi phàm tục. Nhưng khi chứng đạt thì trở thành Thánh Nhân

(Nếu muốn tìm hiểu các giáo sự khác, mời xem chi tiết trong
luật phần Tỳ-Kheo-Ni = Vin.i.i.256ff*, và trong A.iv.274ff*).

Chú thích : * Hai nguồn kinh trên ghi rằng : Có một số nữ tu sĩ cố chấp, cho rằng, lễ xuất gia của hoàng hậu Mahà Pajàpati Gotami phải qui mô, mà trên thực tế quá đơn giản, không nhiều lễ nghi, như vậy «cụ túc giới» có thể không thành tựu, nên họ không chịu làm lễ Phát-Lồ (Uposatha, hay sám hối) với Bà. Đức Phật biết chuyện ấy, đã giải tỏa. Ngài xác nhận chính Ngài đã ban phép xuất gia đầy đủ cho Dì Mẫu một cách hợp lệ. (-Theo DhA.i.v.149).

Ngoài ra, Phật cũng «tiên đoán» rằng «yếu tố nam nữ tu sĩ sống chung hành đạo, đễ sinh ra việc xấu. Nếu giới luật giữa hai hạng khất sĩ không nghiêm minh, thì tuổi thọ (hay hiệu lực) của giáo lý giải thoát có thể sẽ bị ngắn lại».

Theo một số «truyền lục» (Jàtakà), thì công chúa Da-Du-Đà-La (Yasodharà, mẹ Ra-Hầu-La) cũng có mặt trong đoàn mệnh phụ quí tộc (500 người) xin xuất gia nầy.

Tưởng cũng nên nhắc lại lý do tại sao, Phật trước tiên đã từ chối việc «phái nữ xuất gia». Có những người, nhất là một số phụ nữ trong xã hội «tân tiến» ngày nay, chưa nắm vững «lý đạo» về «dư quả cộng nghiệp», cũng như về thực tại «đồng» lẫn «bất đồng» giữa 2 giới tính nam và nữ, rồi phê phán.

Lý đạo đó là sự thật về dư quả phải chịu, không thể khác được, trong hiện tương luân hồi tái sinh với nghiệp quả bất đồng, mà nhà Phật đã kham phá nêu ra, vượt khỏi mọi khả năng cứu độ, trong thế giới động vật, nhất là loài người.

Những người nầy vội vã cho rằng, đức Phật đã đối xử «bất công» giữa hai phái nam và nữ. Nhưng nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu sâu sắc, thì chúng ta sẽ thấy, chư Phật quá khứ đều đã có những nữ đệ tử xuất gia, chư Phật tương lai thì chưa xuất hiện, chưa biết.

Nhưng đức Phật hiện tại Thích-Ca Mâu-Ni, đang mở giáo pháp để lưu truyền, thì hoàn cảnh tiếp độ cần phải đợi «chín muồi», hay thích hợp, mới thực hiện được. Lòng từ bi phải đi đôi với trách nhiệm. Và trách nhiệm vốn có ý nghĩa bảo đãm an ninh, hơn là làm theo quan niệm một chiều của thế gian.

Đức Phật được mệnh danh là bậc toàn giác (biết hết), thì ngay từ bước đầu truyền đạo, Ngài không thể không nhìn vào thực tế, để thấy rõ rằng, «phong tục Bà-La-Môn» đương thời, đang đè nặng trên xã hội Ấn Độ. Sống trong gia đình với sự che chở của cha mẹ, thân nhân, giòng họ, mà nữ lưu còn bị xem nhẹ hơn nam giới như thế nào, thì trong đời sống đơn độc, hằng ngày hành khất, họ sẽ ra sao ?  Thoạt đầu, Ngài không «chủ trương» việc phái nữ xuất gia, là vì lòng từ bi, chứ không khải vì phân biệt giới tính.

Nghĩa là nếu chúng ta tìm hiểu kỹ hoàn cảnh xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, thì chúng ta sẽ tìm ra lý do tại sao Phật đầu tiên không cho phép nữ giới xuất gia, nhất là xuất gia làm nữ khất sĩ, không nhà cửa, không vật phòng thân, không của cải, phải hằng ngày xin ăn, từ nhà nầy sang nhà khác, để tu tập.

Thử đặt vấn đề : Oai lực nào có thể bảo đãm được sự an ninh của những bậc phạm hạnh «cành vàng lá ngọc» như thê ? -Kinh truyện đã chép vẫn còn đó : Có những nữ thánh nhân đạo phật thời ấy bị hãm hiềp, không nhất thiết là ở nơi vắng vẻ. Dù cho kinh cũng ghi rõ : Quả xấu đã đẩy những cá nhân dâm dật kia xuống lòng đất, vào «địa ngục»(?). -Nhưng mấy ai thực sự biết sợ quả báo nhãn tiền !

-Thực tại xã hội ngày nay và thực tại xã hội thời đức Phật khác nhau rất xa ! Chưa kể ngày nay đã đến thế kỷ 21, mà thực tại đời sống ở một địa phương nầy, và ở một địa phương khác cũng rất nhiều chênh lệch !

Hơn nữa, dì mẫu Mahà Pajàpati Gotami và 500 thiếu phụ vương tộc, là những người đã quen với đời sống trưởng giả, và rất có thể họ còn mang những nét quí phái xinh đẹp (dễ cám dỗ phàm tình, theo cáí nhìn của thế gian), thì sự «quan tâm về an ninh» của đức Phật, đối với các đối tượng ấy, phải đặt lên hàng đầu, là hợp lý !

Do đó, chỉ dựa vào câu chuyện «Phật không cho dì mẫu xuất gia» mà kết luận đức Phật đối xử bất công nam nữ, thì thật là một điều vội vã !

Chúng tôi đề nghị hãy quay về Phật học, đào sâu vào giáo lý, phân tích biệt quả cộng nghiệp, và thực tại đồng lẫn bất đồng, để hiểu vấn đề.

Xin mạo muội trình như sau :

1-Sanh làm nam nữ khác nhau là biệt quả, trong cùng một xã hội là cộng nghiệp. (Kamma Vipàka).

2-Thân thể nam hay nữ trong một gia đình chung cha mẹ, và cùng loài người là đồng. Nhưng đối phó với sự chịu đựng tự nhiên trong thân, lẫn an ninh ngoài thân, không giống nhau, là bất đồng.

Ví dụ, sau khi kết hôn, việc sinh nở chỉ có người nữ phải chịu, còn nam giới thì không (là biệt quả cộng nghiệp). Hay khi cạnh tranh trong đời sống, sự đối phó để tự vệ bản thân, thì hầu hết nữ giới kém thế hơn đàn ông. Cả hai trường hợp chính là thực tại đồng lẫn bất đồng.

Một Giác Giả biết rõ thực tại như thế, rồi đối xử với mọi người một cách thích nghi, trước các sự thật nghiệp quả và duyên phận, thì không thể gọi là Giác Giả ấy «phân biệt giới tính» hay «đối xử bất công».

Ngoài ra, chúng ta cũng nên nghĩ rằng, một bậc tôn sư, đầu tiên từ chối sự yêu cầu dấn thân nào đó (dù là yêu cầu dấn thân chính đáng) của người ngưỡng mộ, thì sự từ chối ấy phải chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc :

-Ý nghĩa thứ nhất, đầu tiên từ chối là để đo lường sự sáng suốt, chín chắn muốn thực hiện công hạnh, hay bồng bột.

-Ý nghĩa thứ hai, từ chối các lần sau, là để thấy rõ sự quyết tâm, dũng lực  hay ý chí vững chắc của người cầu xin.

Và sau đó, Đức Phật đã cho phái nữ xuất gia.

Phật yểm trợ DÌ MẪU trong vai trò Ni Trưởng

Khác hẳn với những gì «tiêu cực» nói trên, có vẻ như Đức Phật không «ưu ái» trong việc xuất gia của Dì Mẫu Mahà Pajàpati Gotamì, thì chúng ta lại tìm thấy trong kinh, có những đoạn «tích cực», miêu tả đức Phật đã đặc biệt hổ trợ Dì Mẫu Mahà Pajàpati Gotamì sau khi xuất gia, trong vai trò hướng dẫn đồng đạo.

Như trên đã nói, có một số nữ tu sĩ cứng đầu, không vâng lời Trưởng lão Mahà Pajàpati Gotàmi, viện dẫn rằng lễ xuất gia của một nhân vật như Bà mà đơn giản, là không «đầy đủ». Đức Phật liền xác nhận rằng, Dì Mẫu ngài chấp nhận lập tức 8 điều luật (khá khắc khe) được Như Lai chế ra tại Tỳ-Xá-Ly (Vesàli), một cách sốt sắng, không do dự. Điều ấy tượng trưng cho hành động «thọ giới đầy đủ» (Upasampadà).

Ngài còn nhắc thêm, «Dù cho thoạt đầu Như Lai có từ chối việc xuất gia của Bà, nhưng sau đó lá Y mà Dì Mẫu đã làm để cúng dường Như Lai, Như Lai khuyên bà đem dâng đến tăng chúng, là để làm tăng trưởng và tròn đủ ân đức Tăng Chúng hướng về bà».

Trong kinh Milinda Panhà (Vua Li-Lan-Đà Vấn), cũng có đoạn liên quan đến Mahà Pajàpati Gotamì. Đó là chuyện Bà «thất vọng», sau khi Bà đã bỏ rất nhiều công lao, với những vật liệu hiếm có, để chế tạo một lá y vàng qúi báu, hầu dâng Phật. Nhưng Ngài đã khuyên Bà đem cống hiến đến cộng đồng tăng chúng (Sangha). 

Khi Tôn giả A-Nan-Đa (Ananda) thấy vẻ mặt Bà buồn, tìm hỏi duyên cớ và bạch Phật, thì được Phật nói rõ : «Đó là do lòng từ bi của Như Lai đối với dì-mẫu. Như Lai muốn Bà sau khi tiếp nhận ân đức của Như Lai, còn tiếp nhận được ân đức của Chư Thánh Nhân và phàm chúng nữa».

Thuật sự nầy phần chính nằm trong kinh Dakkhinàvibhanga (Phẩm cúng dường), hay bài pháp có tựa là «Sự giảng về phẩm tính những vật thí quí báu, qua lòng thành với nhiều công lao chuẩn bị, và quả phước của người dâng cúng».

Về sau, khi đã được xuất gia, Mahà Pajàpati Gotamì hằng ngày vẫn đến đảnh lễ đức Phật, và được đức Phật trực tiếp hướng dẫn pháp hành, chọn đề mục thiền định, để Dì-Mẫu hành đạo sớm có kết quả, nhất là giúp Bà thanh tịnh tiến vững lên mục tiêu giải thoát.

Chẳng bao lâu sau đó, Mahà Pajàpati Gotamì đã chứng đắc Thánh Quả A-La-Hán (Arahatta), cùng một lúc với 500 nữ đồng đạo, lúc tất cả được nghe lần thứ hai, Phật thuyết bài kinh Nandakovàda.

Biết Bà đã đắc được quả Thánh cao nhất, hoàn toàn giải thoát, đức Phật liền tuyên bố rằng : «Toàn thể chư Tỳ-Kheo-Ni hãy xem Mahà Pajàpati Gotamì là bậc tôn túc».

Một lần nọ, trước mặt đại chúng ở Kỳ Viên Tịnh Xá (Jetavana Vihàra), đức Phật đã xác nhận rằng, Mahà Pajàpati Gotamì là Thánh Ni hàng đầu, trong số những người có giới hạnh và sức mạnh tinh thần vững chắc nhất. (Theo Ang.i.25).

-Chữ Pali gọi «giới hạnh và sức mạnh tinh thần vững chắc» ấy là Rattannunam, tạm dịch là pháp hành thâm đạt). Phật cũng yêu cầu bà hãy «chứng minh» điều đó, đối với những người chỉ biết kính nể kẻ khác qua «ưu thế vật chất» bề ngoài. Đức Phật bảo :

«Ô, Dì mẫu Gotamì, thật là hiếm thấy một cựu hoàng hậu xuất gia, đắc quả Bất Lai (Arahatta, A-La-Hán), đạt nhiều thần thông, có thể dễ dàng biểu lộ phép lạ, để đánh tan thành kiến khinh thường của những người thiển cận, bảo thủ, luôn luôn nghi ngờ sức mạnh tâm linh của nữ thánh nhân».

Mahà Pajàpati Gotamì liền vâng lời, biểu lộ vài phép lạ. Bà bay lên không trung 3 lần, chắp tay hầu Phật một lúc, rồi hạ xuống mặt đất đảnh lễ đức Bổn sư. Lần thứ tư, Bà bỗng nhiên biến mất và hiện ra trong tư thế ngồi kiết già trên cao, trước khi hạ xuống đất, để nhập định một lúc lâu….

Tiền kiếp Đại Thánh Ni
MAHÀ PAJÀPATI GOTAMI.

Theo kinh điển Palì, Phật Giáo Nguyên Thủy, thì mỗi «địa vị» đặc biệt trong xã hội, hay tôn giáo, vốn đã được «chuẩn bị» do những kiếp sống và hành động trong quá khứ, nhất là không những chỉ do viên tròn các thiện hạnh (Pàramì=Ba-La-Mật), mà còn do nguyện vọng đạt mục đích sau nầy nữa.

Trong Phật giáo gọi đó là nguyện vọng thành Phật Toàn Giác (Sammà Sambuddha) hay thành Thinh Văn Giác (Arahatta, Sàvaka buddha). Từ đó, sự thành tựu đạo quả trong kiếp chót vốn đã «hữu duyên» với chư Bồ Tát, và vị Phật của kiếp cuối cùng. -Riêng Mahà Pajàpati Gotamì, thì tiền thân Bà đã thực hiện hạnh lành và gieo duyên với chư Phật, để cuối cùng được giải thoát, trong một thời gian khá dài, đến 100.000 đại kiếp. («Đại kiếp» là kiếp trái đất).

Truy nguyên như vậy, thì chúng ta thấy vào thời đức Phật Padumuttara, tiền thân Mahà Pajàpati Gotamì đã sinh làm một cô gái xinh đẹp trong dòng họ Hamsavati. Sau khi «tiền thân» ấy được nghe lời tán dương phúc đức một nữ phạm hạnh, của 500 vị Phật Độc Giác, đã phát nguyện sẽ noi gương lành kia. Và đức Phật Padumuttara liền thọ ký, nói rằng, trong tương lai cô gái nầy (tiền thân Mahà Pajàpati Gotamì) sẽ là người đứng đầu những đồng nghiệp thiện duyên, hay công đồng nữ tu. (Theo Thig.A.140ff ; AA.i.185f ; Ap.ii.529 43).

Một giai thoại khác khá phổ thông, còn thuật rằng, trong một tiền kiếp nọ, tiền thân Mahà Pajàpati Gotami đã cùng với những người ngưỡng mộ Phật Độc Giác (Paccekabuddha), đồng tâm làm phước. Nhân lúc có 5 vị Phật từ Nandamùlaka đền Isipatana tìm nơi tịnh tu trong 3 tháng mùa mưa (hay an cư kiết hạ, Vassa). Tiền thân Mahà Pajàpati Gotamì bất chấp khó khăn, gây ra bỡi một «thủ bổn» sở tại (bhandàgàrika), «Bà» đã quyết tâm xây dựng nhiều tịnh cốc, và cúng dường tứ vật dụng (gồm thực phẩm, chỗ ở, y phục, thuốc men) đến chư Phật Độc Giác suốt 3 tháng. Và khi mãn «an cư kiết hạ», tiền thân Mahà Pajàpati Gotami còn kêu gọi những người thiện tâm, tổ chức lễ Kathina, dâng đến mỗi vị Phật đầy đủ tam y.

Căn cứ theo các giáo sử ấy, thì tiền thân Mahà Pajàpati Gotami, sau khi cúng dường 5 vị Phật Độc Giác trong suốt mùa an cư kiết hạ, lúc hết tuổi thọ, đã tái sinh hưởng phước rất nhiều lần trên thiên cảnh lẫn cõi trần. Và kiếp kế đó tiền thân bà sinh làm người điều khiển xưởng dệt, đồng thời cũng là kẻ đứng đầu một nhóm bạn hướng thiện, là những nữ hầu của các gia đình trưởng giả, tổng số lên đến 500 người.

Ngoài ra, Túc Sinh Truyện Cullanandiya cũng nói, vị bồ tát trong kiếp kế tiếp đã hiện thân là một con khỉ, và tiền thân Mahà Pajàpati Gotamì là khỉ mẹ. Còn tích ghi trong Culladhammapàla jàtaka (câu chuyện Tiểu Hộ Pháp) thì nói, công tử con trai của tiền thân Mahà Pajàpati Gotamì đã bị cha ra lệnh giết chết.

Một tiền thân khác, Bà chính là nàng Canda trong Culla Dhammapàla. Theo J.iii.182)

Và người cha ấy bây giờ không ai khác hơn là Đề-Bà-Đạt-Đa (Devadatta), anh em họ, trước theo Phật làm đệ tử, và sau trở thành kẻ thù, như các kíếp trước của Sĩ-Đạt-Ta (Siddhatta), hay như kiếp chót «của» Phật Thích-Ca. Tuy trước khi chết vì đất rút, Đề-Bà-Đạt-Đa đã hối hận, nhưng quá muộn.

Mặt khác, vào thời đức Phật Ca-Diếp (Kassapa), tiền thân Mahà Pajàpati Gotamì chính là Bhikkhunidasika, tức công chúa thứ tư của vua Kiki, trị vì tại thành Ba-La-Nại (Bàrànasì), Bénares ngày nay. Công chúa ấy đã đoạn lìa tình dục, giữ mình trong trắng, và hằng xây dựng tịnh thất cho những bậc Sa-Môn phạm hạnh.

Tạng Luật (Vinaya Pitaka) trong Phật giáo gồm 5 bộ sách, thì nội dung của cả 5 bộ nầy đều chứa đựng những gìới luật của Tỳ-Kheo-Tăng (Bhikkhu), và nhất là chứa các «luật phần» (Vibhanga) của Tỳ-Kheo-Ni (Bhikkhùnì). Các «luật phần» ấy rất xứng đáng cho chúng ta nghiên cứu, noi gương. Đặc biệt là những tính cách «dân chủ», gương mẫu, đặt ra hệ thống tổ chức nhằm ngừa trước, những vi phạm có thể xảy ra, trong đời sống hằng ngày.

Lord Zetland, Cựu Phó Vương Ấn Độ, trước đây đã từng viết «Điều làm ngạc nhiên nhiều nhà nghiên cứu kinh điển đạo Phật, là hơn 2500 năm trước, trong thời Phật giáo, đã có những hình thức sinh hoạt dân chủ, tượng trưng cho quốc hội ngày nay».

Một hôm, để tỏ lòng tri ân đức Phật và cố hoàng hậu Màyà cưu mang một nhân vật cứu độ chúng sanh và cho đời, Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotamì, đã cảm hứng thốt thành kệ :

«Đức Đại Giác, vị anh hùng chân thật.
Ta tôn Ngài như cây đuốc tuyệt luân.
Giải thoát nhân sinh khỏi bể hồng trần.
Mọi đau khổ, mọi khát khao chấm dứt.

Bát Chánh Đạo ấy con đường vượt bực.
«Diệt đế» đắc rồi, tâm sáng thuần chân.
Xưa : mẹ, con, cha, anh, nội tổ…xoay vần.
Nay tự tại, anh minh qua cuộc sống.

Đã muôn kiếp lang thang trong ảo mộng.
Đầy nhân duyên mới gặp được Thế Tôn.
Tam giới hoàn không ngã sở chẳng còn.
Tam độc* dứt, hết luân hồi tan hợp.

Pháp vô thường đổi thay như ánh chớp
Kiếp cuối cùng, không điều kiện tái sinh.
Ngũ uẩn hoàn không, ta niệm thân mình.
Giữ giới luật và quyết tâm hành đạo.

Chẳng kiến chấp, “ta” noi gương Phật Bảo.
“Ta” tán dương Người, đức Phật Cồ-Đàm..
Thân tâm “ta” giờ, thanh tịnh ngàn năm.
Khi nhắm mắt, Niết Bàn không phải cõi !”

(Tuệ Lạc thoát dịch thành văn vần,
theo Therìgàthà số 157-162). (*Tam độc là tham, sân, si).

Đại Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotami có thể xem là người “khởi xướng Ni Bộ” trong đạo Phật, không phải từ kiếp hiện tại, mà kể từ thuở xa xưa, vào thời đức Phật Padumuttara, khi tiền kiếp thuận duyên chứng kiến vị Phật nầy, tán dương đức hạnh của một nữ đạo sĩ. Tiền thân Bà (Mahà Pajàpati Gotami) đã nhân đó cúng dường đức Phật ấy, và phát nguyện sẽ hành đạo tương tự, khi gặp vị Toàn Giác tương lai. Phật Padumuttara biết nguyện vọng của tín thí, nên thọ ký và tiên đoán “Bà sẽ trở thành nữ đại đệ tử số một, “khởi xướng” và lãnh đạo ni chúng của Phật Tổ Thích-Ca Mâu-Ni sau nầy”.

Vừa xong lễ xuất gia, thì quốc vương Licchavi của xứ Tỳ-Xá-Li (Vesali=Vaisali) đã phát tâm xây dựng một nữ tu viện, mệnh danh là Mahà Pajàpáti Gotami, hiến dâng đến Bà và 500 “đồng đạo” tu tập.

Hạnh kiểm của Mahà Pajàpati Gotamì từ đó mỗi ngày một vượt bực, không những có thể làm gương sáng cho toàn thể nữ-tu tỳ-kheo-ni, mà Bà còn là mẫu mực của nữ giới hoàng gia, và giai cấp quí tộc.

Hằng ngày ngoài việc tu trì, một mặt Bà luôn luôn khuyến khích, và an ủi, hóa giải những khắc khổ trong đời sống nữ tu, cho những “cựu mệnh phụ” xuất gia theo Bà. Mặt khác, Bà rất quan tâm đến việc giảng đạo, và khéo léo tổ thức tu viện, làm sao cho đời sống cộng đồng được bình thường, hòa hợp.

Ngoài ra, chính đức Phật cũng đã nhiều lần «phá lệ», đích thân đến Ni Viện thăm Dì Mẫu bất cứ lúc nào bà đau yếu……


Cuối đời

Thời gian lặng lẽ trôi qua, lúc Đại Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotamì 120 tuổi, một hôm Bà cảm thấy xác thân như chiếc xe đã cũ, sẽ ngưng hoạt động, tan rã, tiêu hoại. Thánh Ni thanh tịnh đến nơi Phật ngự. Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, Bà ngồi xuống bạch rằng :

“Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử xin Người tha thứ cho, nếu từ trước đến nay, đệ tử có làm điều chi sai chánh pháp, không vừa ý Thế Tôn. Nay đệ tử xin sám hối lần cuối để từ giã, và xin phép Thế Tôn cho đệ tử nhập diệt”.

Thốt xong, Thánh Ni đứng dậy chắp tay nghiêm trang đứng đối diện, xá Phật 3 lần, rồi Bà ứng khẩu ngâm kệ ngôn tán dương đức Phật lần cuối cùng. Bài kệ nầy đối với chúng ta có vẻ rất thiết tha cảm động, nhưng đối với Đại Thánh Ni, đó là sự chân thành vô nhiễm. Chúng tôi xin “thoát dịch” ra Việt ngữ như sau :

Ôi, Đức Thế Tôn,
“ta” đã nuôi lớn thân Người,
bằng sữa trắng,
 và tình thương nghiệp lưc.

Nhưng Người đã nuôi lớn tâm linh “ta”,
bằng vô vàng ân đức.
Nhờ chánh pháp của Người,
 “ta” đã dứt khổ đau

giải thoát hợp tan, sinh tử, buồn rầu
Giữa bể luân hồi, “ta” tự tại,
và không dễ có một Người con
cao siêu phong thái !

Nên  trước khi nhắm mắt…
“ta” không phàm tình nhỏ lệ
“ta” chỉ muốn được thấy gót chân con
và kính ngưỡng dung nhan.
của những bước vàng son,
dưới lớp áo màu trí tuệ rạng ngời,
tinh anh giải thoát,

Vô Nhiễm. như đóa sen hồng
nở từ bùn đen…dứt khoát.

-Xin Thế Tôn đừng từ khước.
Hãy phô bày đôi chân,
Cho mẹ được cúng dường !

(Theo Therìgàthà = Nữ Tôn Túc Kệ Ngôn).

Đức Phật nghe thế liền đưa đôi bàn chân ra, màu da hồng thắm như hai đóa sen tươi. Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotamì vội quỳ xuống lễ bái ba lần và mỉm cười….

Đức Phật từ bi xác nhận : Cuộc sống kiếp nầy Bà đầy đủ ân đức, cũng như cuối đời tu hành, Thánh Mẫu đạo hạnh viên dung.

Nghe Phật nói xong, Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotamì mặt hướng về Bổn Sư, cung kính chắp tay đi lùi bước, cho đến khi không thấy Phật nữa, rồi bà thanh thoát trở về tịnh thất. Đến nơi bà yên lặng đứng nhìn khung cảnh xung quanh một vòng, như có vẻ chờ đợi ai, trước khi bước vào phòng….

Khi những đại đệ tử Phật hay tin ấy. Họ đã lần lượt đến thăm Bà. Trong số đó, về phía nam giới có các Ngài Sàrìputta (Xá-Lợi-Phất), Mahà Moggallàna (Đại Mục-Kiền-Liên), A-Nan-Đa (Ananda), Ràhula (Ra-Hầu-La), Nan-Đà (Nanda)…Và phía nữ tu sĩ, có các tỳ-kheo-ni Khema, Uppalavanna, Sotàpanna..v..v.., cùng hầu hết những tỳ-kheo-ni trong tu viện.

-Theo một số nhà viết sách Phật giáo, thì khá nhiều trong những vị đến thăm, vì chưa đạt thánh quả giải thoát, đã thương tiếc, khóc than thảm thiết…Và Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotamì đã khuyên giải họ rất nhiều.

Khuyên giải và tác bạch (từ giã cùng tạ lỗi nếu có) với những vị tôn túc đến thăm xong, bà đưa họ ra đến ngoài phòng, rồi quay về nhập thất. Thánh Ni trang nghiêm vén khéo y phục, nằm ngay ngắn lên giường nhập định. Và Bà an nhiên thị tịch chẳng bao lâu sau đó.

Trong lễ trà tỳ, chính đức Phật đã đi sau quan tài, dẫn đầu đoàn Tăng-Ni và tín đồ tiễn nhục thân Thánh Ni đến nơi hỏa táng. Và vua Licchavi là vị «chủ lễ». Vương gia đã dâng chiếc quan tài bằng vàng, để tẩn liệm nhục thân Thánh Ni. Nhà vua đích thân cung kính châm lửa lên giàn hỏa, làm bằng gỗ quí, với vật đốt là củi trầm….

Khi ngọn lửa tắt, nhục thân Thánh Ni đã biến thành những Xá Lợi trong sáng, óng ánh như ngọc trai (Sàrì, Perles).

Tiếp theo, Tôn giả A-Nan-Đa (Ananda) được lãnh trách nhiệm phân phối Xá-Lợi quí báu của Đức Bà. Ông liền dâng một phần lên đức Phật. Một phần khác, Tôn Giả trao cho vua Licchavi. Và mọi người đều nghe theo lời Phật dạy, mà tạo bảo tháp phụng thờ. Trên mỗi bảo tháp đều có hàng chữ «Đại Thánh-Ni Mahà Pajàpati Gotamì, Vị Đệ Nhất Nữ Thinh Văn Đệ Tử Phật».

-Nghĩa là do Bà, mà Ni Giới Đạo Phật được ra đời !

Theo những nhà nghiên cứu giáo sử, thì lễ Trà Tỳ của Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotami đã rất trọng thể, chỉ thua lễ Trà Tỳ của đức Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.29/10/2016.MHDT.

Sự cần thiết của Bát kỉnh pháp.

Viết về Ni giới ngày nay có khá nhiều chủ đề mang tính thời sự, tính nhân văn đánh giá, ca ngợi sự đóng góp của Ni giới Việt Nam trong hoằng dương Phật pháp, trong các phong trào thi đua yêu nước, trong công cuộc chiến đấu bảo vệ và kiến thiết đất nước, giúp đỡ những người khó khăn với bao tấm gương điển hình của Ni giới Việt Nam dấn thân “dựng đạo để tạo đời sống an lạc”.


Song một vấn đề đang được đặt ra mà gần đây nhiều Tăng, Ni trẻ quan tâm và đã được một số vị chia sẻ quan điểm dưới những góc nhìn khác nhau, đó là Bát kỉnh pháp trong Phật giáo. Trước xu thế dân chủ hóa ngày càng cao và bình đẳng giới được tôn trọng, trong Phật giáo không ít người đã xuất hiện tư tưởng phải xem xét lại Bát kỉnh pháp là tám điều quy định của giới luật dành cho Tỳ-kheo-ni, đó là:

1. Một Tỳ-kheo-ni, dù có trăm tuổi hạ khi gặp vị Tỳ-kheo mới thọ giới Cụ túc cũng phải chào hỏi, đảnh lễ và thực hành tất cả những bổn phận thích nghi đối với vị Tỳ-kheo.

2. Một Tỳ-kheo-ni không được khiển trách hay nặng lời đối với một vị Tỳ-kheo trong bất kỳ trường hợp nào.

3. Tỳ-kheo-ni không được ngăn Tỳ-kheo xét tội, thuyết giới, tự tứ hay nói lỗi của Tỳ-kheo. Trái lại, Tỳ-kheo được quyền cử tội Tỳ-kheo-ni.

4. Muốn thọ trì Cụ túc giới phải thông qua hai bộ Tăng: Tỳ-kheo-ni và Tỳ-kheo.

5. Nếu Tỳ-kheo-ni phạm tội hữu dư (Tăng tàn) thì phải đến trước hai bộ Tăng thực hành pháp Ý hỷ (Ma-na-đỏa) trong thời gian nửa tháng.

6. Nửa tháng phải đến bên Tỳ-kheo tăng cần cầu dạy bảo.

7. Không được an cư kiết hạ ở địa phương nào không có Tỳ-kheo ở.

8. Khi an cư xong, phải đến Tỳ-kheo Tăng cầu ba sự tự tứ: thấy, nghe và nghi. [HT.Thích Minh Thông, Báo Giác Ngộ, số Xuân 2002]

Đã có ý kiến cho rằng: Phật chế Bát kỉnh pháp để phân biệt Tăng và Ni; ý kiến khác chỉ ra Phật còn phân biệt nam, nữ; Phật không thương Ni giới mà bắt Ni phải tòng Tăng. Trong thực tế có một số vị Tăng vi phạm giới luật, không chịu tu học tinh tấn, trong khi nhiều vị Ni chăm chỉ tu học không chỉ thành danh trong nước mà cả nước ngoài, tích cực tham gia các công việc của Giáo hội và của xã hội, nhưng trước các vị Tăng thiếu tinh tấn Ni vẫn phải cung kính,… Vì thế không ít vị Ni tỏ ra bất bình khi phải phụ thuộc vào Tăng do quy định của Bát kỉnh pháp. Một số vị phản ứng cho đó là chuyện vô lý, có vị còn cho rằng Bát kỉnh pháp không phải do Đức Phật chế ra vì Đức Phật vốn bình đẳng ít ai bằng, Phật còn tôn trọng bình đẳng Phật tính của sự sống sao Phật có thể phân biệt Tăng và Ni. Bát kỉnh pháp chắc do ai đó có tâm muốn hạn chế Ni giới, muốn phân biệt Tăng, Ni mà chế ra rồi nhân danh Phật mà nói Phật chế,…

Chưa đồng thuận trong nhận thức về Bát kỉnh pháp chỉ là số ít nhưng lại là một trong những vấn đề tạo nên sự rạn nứt làm hạn chế gắn bó, làm giảm nội lực của tổ chức Phật giáo nếu không được chấn chỉnh. Gần đây có duyên may được gặp một số vị cao tăng  trong GHPGVN tôi đã hỏi về việc trên, các vị đều cho câu trả lời khá giống nhau. Đặc biệt là Hòa thượng Đệ tam Pháp chủ GHPGVN, Hòa thượng không trả lời trực tiếp vào câu tôi hỏi mà dí dỏm nói:

Bát kỉnh pháp do ai chế ta khoan bàn, bởi khi chưa thấu triệt về giá trị của Bát kỉnh pháp mà đã đề cập tới người chế ra thì dễ ngộ nhận hoặc phủ quyết vì không rõ chứng, lý.

Bát kỉnh pháp trong nhà Phật dành cho Ni giới, nghe qua tưởng như là sự áp đặt, xem thường phụ nữ (Ni) mà đề cao nam giới (Tăng). Song ai là người có sự hiểu biết và tư duy nghiêm túc thì mới thấy rõ giá trị của Bát kỉnh pháp được chế ra dành cho Ni giới trên con đường xuất gia. Điều này tuy không đồng nhất nhưng cũng gần giống với việc trong cuộc sống, một người chu toàn khi đi đâu ra khỏi nhà phải có nón, có dù phòng khi mưa, khi nắng, hiện nay khi đi xe máy phải đội mũ bảo hiểm,… Việc biết đề phòng thì tránh hoặc hạn chế được nắng nóng, mưa ướt, nhưng không biết đề phòng thì khi mưa bị ướt, khi nắng bị nóng. Mang mũ bảo hiểm có người kêu nặng đầu, nóng bức và mấy khi bị tai nạn mà mang cho mệt thân. Nhưng khi không may bị tai nạn, người có mũ che thì đầu không bị thương, tỉnh táo còn người không có mũ thì sứt đầu vỡ trán bất tỉnh hôn mê. Trong cuộc sống từ xưa cho tới nay người hiểu biết luôn lo xa dự phòng, tính toán những gì bất trắc để chuẩn bị trước mà tránh sự thiệt hại ảnh hưởng không tốt tới bản thân và cuộc sống. Từ xưa cổ nhân đã dạy nắng lắm thì sắm thuyền vì sẽ mưa nhiều, rét lắm thì đan quạt rồi sẽ nắng nhiều, mưa lắm thì đan gầu vì sẽ hạn hán, phòng chiến tranh thì phải nuôi quân chế giáp binh súng đạn… ai biết dự báo đúng, dự phòng hiệu quả đó là người trí.

Bát kỉnh pháp không phải là dù, là mũ để che nắng tránh mưa, không phải là giáp binh phòng thân trước tên đạn nhưng nếu là phòng thân cho người nữ giới xuất gia thì đó là việc lo xa của bậc trí nhân. Bởi vì người chế ra Bát kỉnh pháp biết rõ căn tính của nữ giới: Kiên cường nào kém nam nhi nhưng thói thường nữ giới trong hoàn cảnh đơn thân cũng dễ bị ức hiếp bởi sự vô nhân tính của những kẻ bạo hành. Trí thông minh nữ giới nào kém chi nam nhưng do đặc điểm của chu kỳ sinh học, người nữ dễ thay đổi tính khí cáu bẳn hoặc mềm lòng, nếu không có sự giúp đỡ sát sao lúc đó dễ bị lợi dụng hoặc bị quy chụp vì thiếu sự thông cảm. Đức hiếu sinh ở người nữ ít người nam bì kịp nhưng nếu không được trí tuệ, cứng rắn dẫn dắt dễ bị lạm dụng làm lệch hướng chính tín của đường tu. Ai cũng biết nữ giới có kém cạnh gì so với nam giới về trí thông minh, ôn hòa, nhẫn nhục, bao dung, độ lượng; song nữ giới cũng có những mặt trái quá thái như si ái, kiêu mạn, chấp trước, phiền não,… trước những tình huống khó lường. Vì muốn chống và phải phòng, không để những hạn chế hoặc điều xấu xảy ra đối với người nữ xuất gia, không thể để sơ suất nhỏ mà làm hỏng một đời của người nữ xuất gia đã phát nguyện tu hành mà Bát kỉnh pháp ra đời. Bát kỉnh pháp đã đúng từ xa xưa nhưng tới nay và mãi về sau vẫn đúng vì người phụ nữ được mang thiên chức riêng do vũ trụ nhân sinh quy định.

Chế ra Bát kỉnh pháp để nữ giới được xuất gia trong bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp, giới tính thời đó là việc làm hết sức sáng suốt mà cắt nghĩa cho hết thì từ rất nhiều lý do, chỉ xin nêu mấy điểm:

Thứ nhất, người hiểu biết thì thấy rõ người nam xuất gia (Tăng) mà đồng ý cho người nữ xuất gia (Ni) được cùng tu hành trong đoàn thể Phật giáo với tư tưởng“Tất cả mọi người đều bình đẳng trước luật nhân quả và chân lý giải thoát; Không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn, trong máu cùng đỏ và cho dù là nam hay nữ, giàu sang hay nghèo hèn, địa vị cao hay thấp… tất cả  đều có khả năng tu tập và giải thoát giác ngộ trong giáo pháp của  Như Lai” đó là sự tiến bộ lắm trong xã hội Ấn Độ thời Đức Phật tại thế.

Thứ hai, không chỉ để cho người nữ xuất gia mà còn nghĩ tới việc giữ gìn an toàn cho người đã xuất gia bằng việc tạo cho họ có sự chuẩn bị về tư tưởng, tâm lý và tinh thần chịu đựng để phải vượt qua những thử thách đã biết trước thì đó là việc sâu sắc và chu đáo lắm.

Thứ ba, người nữ xuất gia mang Bát kỉnh pháp làm hành trang phòng thân, làm thước đo để dứt trừ tam độc, vô minh trọn đời nhưng không hề nặng nhọc như mang ô, dù, giáp binh. Đối với người tự giác, tự nguyện việc đó thật sự nhẹ nhàng và còn là chuẩn mực khuyến tấn người nữ giới trên đường tu, bởi vậy Bát kỉnh pháp với những người hiểu biết không phải là sự lệ thuộc, bị xem thường hay nặng nhọc mà là điều tối cần thiết.

Thứ tư, Bát kỉnh pháp chế ra tưởng dành cho Ni, nhưng nghĩ cho sâu sắc thì đó cũng là dành cho việc khuyến tấn Tăng. Bởi vì Ni tòng Tăng, Tăng có ra Tăng, Tăng có trang nghiêm giữ giới, có tinh tấn, có hiểu biết thì Ni mới học, mới nghe chứ kém hơn thì họ phục, họ nghe sao được, khác gì mang nón, mang dù mà không che được nắng mưa thì hà cớ gì phải mang. Vậy là Bát kỉnh pháp được chế ra cho Ni giới nhưng thực chất là mối ràng buộc với Tăng, là sự phản chiếu giúp Tăng phải không ngừng tu học để thật sự sáng rõ trước Ni.

Bát kỉnh pháp là phương thức phòng ngừa giúp người nữ xuất gia không đi ra ngoài chính tín bởi luôn tuân thủ khuôn phép nghiêm ngặt. Bát kỉnh pháp là phương thức phòng ngừa giúp người nữ xuất gia an toàn trong tu tập theo chính tín, khi Ni tôn trọng Bát kỉnh pháp thì Tăng phải giữ khuôn phép và không ngừng tinh tấn xứng đáng để Ni kính trọng. Trong thực tế có một số vị lợi dụng Bát kỉnh pháp bắt Ni phải lệ thuộc thì việc làm đó là không đúng chính tín đạo Phật (đó chỉ là cá biệt). Việc làm đó trong Phật giáo không ủng hộ và người tu theo Phật giáo cần nhận thức rõ để có ứng xử cho đúng. Ni tòng Tăng, câu nói nôm na nhưng là cả một trời công đức khi Tăng thật sự là chỗ dựa tin tưởng vững chãi cho Ni trên đường tu học, Tăng biết có lời nhắc nhở Ni về điểm dừng đúng lúc, khuyến tấn tăng trưởng tâm Bồ-đề kiên cố khi chướng duyên,…Trong quan hệ tương duyên gọi là Ni tòng Tăng nhưng để Ni tôn kính thì Tăng cũng phải không ngừng tinh tấn, vậy là cả Tăng và Ni đều phải tinh tấn vì thế mà Phật giáo mới là tấm gương sáng để giúp cho xã hội noi gương mà phát triển.

Trở lại câu trả lời ai đưa ra Bát kỉnh pháp? Thiết nghĩ người hiểu biết đã tự tìm được câu trả lời. Bởi người đưa ra Bát kỉnh pháp phải là người rất hiểu, rất tôn trọng và rất thương phụ nữ xuất gia mới chế ra được Bát kỉnh pháp. Và câu trả lời Bát kỉnh pháp có làm khổ phụ nữ xuất gia, có hạ thấp phụ nữ xuất gia không cũng được trả lời, bởi khi đã tự giác, tự nguyện để mang theo tín nguyện phòng thân, hộ tâm, để an toàn cho cuộc sống tu hành thì đó có gì là mệt nhọc. Điều này đã được HT.Thích Minh Thông đề cập: Rõ ràng trong thiên tánh người nữ đã không thể so sánh với người nam, mặc dù khả năng tiến bộ và thành tựu mục tiêu Niết-bàn có ngang nhau. Nhưng làm sao để người nữ luôn khắc ghi sâu vào lòng bài học tự mình uốn nắn tâm tánh, diệt trừ bản ngã mãnh liệt để thành đạt mục tiêu tối hậu là một công trình vĩ đại, là thành trì phải được bảo vệ kiên cố hơn người nam tiến tu gấp nhiều lần. Làm sao để người nữ xuất gia luôn thấy rằng việc thành lập giáo hội Tỳ-kheo-ni sở dĩ thành tựu là từ sự có mặt vững chãi trước đó khoảng 20 năm của giáo hội Tỳ-kheo (Căn bản tạp sự, q.37, Kinh Trường A-hàm) làm điểm tựa.[sđd]Câu trả lời của các bậc cao tăng và của Hòa thượng Đệ tam Pháp chủ, dù không đi vào trực tiếp, nhưng đã gián tiếp chỉ rõ những điều căn cốt về lợi ích của Bát kỉnh pháp. Từ ý kiến của các bậc tôn túc về sự cần thiết của Bát kỉnh pháp, tôi nghe và chép lại nhưng do hiểu biết còn nông cạn nên có thể diễn đạt chưa đầy đủ. Qua điều đã nêu, mong sao trong Phật giáo mỗi vị Tăng, Ni tự nhận rõ vị thế của mình, để mỗi người làm đúng bổn phận, đoàn kết tương kính nhau để thực hiện trang nghiêm Giáo hội, làm cho nội lực Giáo hội không ngừng tăng để Phật giáo thực sự là tôn giáo điển hình như xã hội hằng kính ngưỡng, tôn vinh. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.29/10/2016.MHDT.
Lý do hình thành Bát Kỉnh Pháp.




I. DẪN NHẬP

Vị trí người phụ nữ trong xã hội Ấn Độ thời kỳ tiền Phật giáo không được quan tâm. Họ bị gạt ra khỏi cuộc sống của xã hội và bị dồn vào khuôn khổ chật hẹp của đời sống gia đình. Họ phải chịu nhiều sự áp đặt, bất công của xã hội và nhất là tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu trong tâm trí, đã làm cho người phụ nữ không ngóc đầu lên được. Đến thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, Đức Phật phát huy một cuộc cách mạng trong tư tưởng bằng cách công khai và can đảm tuyên bố rằng người nữ có thể đạt đến mức tiến bộ tuyệt đỉnh, thành tựu trí tuệ thâm sâu dẫn tới Niết-bàn. Tuyên ngôn này đã gây một biến động lớn lao trong giới tôn giáo đương thời vì dám thay đổi niềm tin của quần chúng đã ăn sâu vững chắc trong dân gian. Đặc quyền của phụ nữ được quan tâm cũng là lúc Bát Kỉnh Pháp được hình thành cho Ni giới. Đề tài “Lý do hình thành Bát Kỉnh Pháp” khẳng định trí tuệ của nữ giới không thua gì nam giới. Đề tài này sẽ được viết theo phương pháp khảo cứu sử học để trình bày bốn nội dung chính như sau:

·        Khái quát cuộc Đức Phật
·        Nguyên nhân ra đời của Bát Kỉnh Pháp
·        Bát Kỉnh Pháp theo lý duyên khởi
·        Mục đích Phật chế Bát Kỉnh Pháp.


II. NỘI DUNG

1. Khái quát cuộc đời Đức Phật

Về niên đại đản sinh của Đức Phật ngày nay vẫn còn chưa thống nhất, theo tài liệu sử học Nàrada Mahà Thera, Ngài đản sanh vào ngày trăng tròn tháng năm[1], năm 623[2] trước Dương lịch, trong vườn Lumbini[3] (Lâm Tỳ Ni) tại Kapilavatthu[4] (Ca Tỳ La Vệ) bên ranh giới Ấn Độ của xứ Nepal ngày nay. Ngài tên là Sĩ Đạt Đa, họ Cù Đàm, thuộc giai cấp Sát Đế Lợi, dòng dõi vua chúa. Ngài là con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da. Ngài sinh ra được bảy ngày thì mẫu hậu băng hà và Ngài được di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề nuôi dưỡng. Vợ của Ngài là công chúa Da Du Đà La, con của Ngài là La Hầu La. Ngài thấu rõ nỗi thống khổ của sinh, lão, bịnh, tử, ngài chứng kiến những lầm than cơ cực của dân chúng trước những bất công của xã hội Ấn Độ thời bấy giờ nên Ngài đã quyết định xuất gia tầm đạo. Cuối cùng, Ngài đã thấu đạt được Chân lý, rõ được chân tướng của vạn pháp. Ngài đã giác ngộ và thành Phật[5], hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Sau 49 năm hoằng pháp độ sanh, Ngài nhập Niết-bàn vào ngày trăng tròn tháng Vesak[6] năm 543 trước Dương lịch, lúc Ngài 80 tuổi.


2. Nguyên nhân hình thành của Bát Kỉnh Pháp

Khi đức Phật trở về  kinh thành Ca Tỳ La Vệ để giảng hòa một cuộc tranh chấp dữ dội giữa hai dân tộc Sakyan và Koliyan, đang giành quyền sử dụng nước của dòng sông Rohini, bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề nhiều lần đến xin xuất gia nhưng đều bị Đức Phật từ chối. Nhưng bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề cùng 500 thể nữ của dòng tộc Thích Ca quyết chí xuất gia. Họ đã xuống tóc, đắp y vàng, mang bát, đi chân không từ Ca Tỳ La Vệ đến Tỳ Xá Ly và đứng trước cổng Tịnh xá Kỳ Hoàn để cầu xin đức Phật chấp nhận cho được xuất gia. Trước khi vào gặp Đức Phật, quý bà gặp Ðại đức Anan. Sau nhiều lần Đại đức A Nan cầu thỉnh Phật và dùng lý thuyết phục để cho quý bà được xuất gia, Đức Phật dạy rằng: “Này Ananda, nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp, thời Gotamì có thể được thọ cụ túc giới”.[7] Tám trọng Pháp (Bát Kỉnh Pháp) đó là:

1. Mặc dầu Tỳ kheo Ni xuất gia đã được trăm hạ chăng nữa, cũng phải kính trọng và đảnh lễ thầy Tỳ kheo mới xuất gia trong ngày ấy.

2. Tỳ kheo Ni không thể nhập hạ nơi nào mà không có thầy Tỳ kheo.

3. Tỳ kheo Ni phải luôn luôn thực hành theo hai điều là: Phải hành lễ Phát lồ, phải đến nơi chư Tỳ kheo cư ngụ để nghe lời giáo huấn của Tỳ kheo.

4. Mặc dầu Tỳ kheo Ni đã làm lễ nhập hạ xong, đến ngày ra hạ cũng phải đến nơi cư ngụ của chư Tỳ kheo Tăng hành lễ ra hạ một lần nữa.

5. Nếu Tỳ kheo Ni đã phạm Tăng tàn và làm lễ phạt cấm phòng mỗi ngày và đã xưng tội bên Tỳ kheo Ni xong cũng phải đến xưng tội với chư Tỳ kheo Tăng.

6. Nếu có giới tử muốn xuất gia, Tỳ kheo Ni đã cho xuất gia, nhưng phải đưa đến cho xuất gia lại nơi chỗ có kiết giới của chư Tỳ kheo Tăng.

7. Tỳ kheo Ni không có quyền thóa mạ chư Tỳ kheo.

8. Tỳ kheo Ni không bao giờ có quyền giáo huấn vị Tỳ kheo.

Nội dung tám pháp mà đức Phật dạy Tỳ kheo Ni là phải cung kính tôn trọng Tỳ kheo Tăng. Sự đồng ý chấp nhận tám pháp mà Đức Thế Tôn đưa ra để nữ giới được xuất gia sống đời sống phạm hạnh thiêng liêng trong pháp và luật của  đức Thế Tôn, đây chính là lý do hình thành Bát Kỉnh Pháp. Và trong ‘Hành Trì Giới Luật’ có đoạn “Do thọ tám kỉnh Pháp: chỉ trường hợp Ma Ha Ba Xà Ba Đề, di mẫu của Đức Phật, chấp nhận tám pháp tôn trọng đối với Tăng mà được xuất gia đắc giới làm Tỳ kheo Ni[8].


3. Bát Kỉnh Pháp theo lý duyên khởi

Đức Phật là người thấy rõ tính chất của vũ trụ đều do lý duyên khởi. Lý thuyết duyên khởi là một nhận thức bao quát, là công thức của vũ trụ “cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh”. Nhưng đạo Phật ra đời không phải để giải thích vũ trụ mà tập trung nói về sự Khổ và con đường thoát Khổ. Trước khi đi vào vấn đề lý duyên khởi của sự ra đời của Bát Kỉnh Pháp, chúng ta cần phải hiểu nhân duyên và duyên khởi. Vấn đề này, Đức Phật dạy:

Thế nào là pháp nhân duyên? Là cái này có nên cái kia có, như duyên vô minh nên có hành, duyên hành nên có thức, cho đến, tụ tập thuần một khối khổ lớn như vậy.[9]

Thế nào là pháp duyên sanh? Là vô minh, hành,... dù Phật có xuất hiện hay chưa xuất hiện ở thế gian thì pháp này vẫn thường trụ, pháp trụ, pháp giới. Pháp này Như Lai đã tự giác tri, thành Đẳng chánh giác, vì người diễn nói, chỉ dạy, hiển bày rằng: Duyên vô minh có hành, cho đến, duyên sanh nên có già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não.[10]

Thêm vào đó, Đức Phật dạy: “Dĩ thử sinh cố, bỉ sinh; Dĩ thử diệt cố, bỉ diệt; Dĩ thử hữu cố, bỉ hữu; Dĩ thử vô cố, bỉ cố[11] (Nếu cái này tồn tại thì cái kia hình thành,Cái này phát sinh thì cái kia phát sinh, Cái này không tồn tại thì cái kia không hình thành, Cái này diệt thì cái kia diệt). Trong vũ trụ mọi hiện tượng tâm lí và vật lí tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, làm thành một vòng móc xích. Chính sự tương quan chủ khách này và tương quan nhân quả của lý duyên khởi là mấu chốt trong toàn bộ hệ thống giáo lý của Phật giáo. Đức Thế Tôn dạy “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” chứ không hề dạy “Nhất thiết nam giới giai hữu Phật tánh”. Từ những điều lý luận trên, chúng ta có thể khẳng định lý do hình thành của Bát Kỉnh Pháp đã tồn tại trong chu trình của lý duyên khởi mà nguời sử dụng nó một cách hiệu quả nhất chính là Đức Phật. Tóm lại, mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong lý duyên khởi nghĩa là đã có trời thì có đất, có nước thì phải có lửa, có nam giới thì có nữ giới, có yêu nên mới có ghét, có chiến tranh nên mới có hoà bình, có Tăng chúng nên có Ni chúng, và có tu nên có thành.


4. Mục đích Phật chế Bát Kỉnh Pháp

Đức Phật luôn giảng giải rằng: “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước luật nhân quả và chân lý giải thoát; Không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn, trong máu cùng đỏ và cho dù là nam hay nữ, giàu sang hay nghèo hèn, địa vị cao hay thấp… tất cả  đều có khả năng tu tập và giải thoát giác ngộ trong giáo pháp của  Như Lai.”[12] Thế nhưng Đức Thế Tôn không chấp thuận nữ giới xuất gia một cách vội vã ngay lúc đầu, đủ chứng minh rằng Ngài là một bậc Toàn Giác và Ngài vốn biết trước mọi việc, nhất là biết trước một tai hại về lâu về dài cho Phật giáo trong tương lai. Do đó, Bát Kỉnh Pháp được Ngài chế định cho bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề nói riêng và chư vị Tỳ kheo Ni nói chung không ngoài mục đích:

- Ngăn ngừa sự chấp ngã của Ni giới:

Trong xã hội đương thời Nữ giới có đủ căn cơ, trình độ, địa vị nhưng họ lại không được xã hội thừa nhận một quyền tự do nào. Khi được đức Thế Tôn đồng ý cho phép nữ giới xuất gia kèm theo điều kiện là Bát Kỉnh Pháp, vai trò của nữ giới lần đầu tiên trong lịch sử được chú ý và quan tâm. Nếu đặt câu hỏi tại sao khi nam giới xuất gia đức Thế Tôn không hề đưa ra một pháp chế nào nhưng tại sao nữ giới lại kèm theo tám pháp? Đức Thế Tôn là người rất bình đẳng đối với tất cả chúng sanh, Ngài buộc nữ giới chấp nhận tám điều kiện đó mới được trở thành Tỳ kheo Ni cũng là một điều công bằng. Đức Thế Tôn biết trước khi đồng ý cho họ gia nhập vào Tăng đoàn sẽ không có vị thượng thủ A La Hán nào dám góp ý với lệnh bà Ma Ha Ba Xà Ba, người lãnh đạo Ni giới. Còn đám công nương, mệnh phụ kia cứ nghĩ mình là cành vàng lá ngọc nên xem những vị Tỳ kheo thuộc những giai cấp thấp trong xã hội không ra gì. Bản chất người phụ nữ thường ích kỷ, nhỏ nhen, nói nhiều, thích trang điểm, sống hời hợt bên ngoài, cố chấp hay sĩ diện hảo rất khó từ bỏ. Cho nên có thể nói, Bát Kỉnh Pháp là cánh cửa mở để nữ giới bước vào giáo đoàn, là bờ đê để ngăn chặn những tệ nạn có thể phát sinh về sau.

- Bảo vệ Ni giới:

Thời đức Phật, người phụ nữ luôn bị xã hội coi rẻ và sống hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới. Vì đời sống xuất gia không nhà không cửa, phải chịu đựng sương gió nắng mưa, phải trì bình khất thực cơ cực, Ni giới rất cần sự quan tâm và giúp đỡ của hội chúng Tỳ kheo. Vì Ni giới ở riêng một nơi để tu tập, Ni giới rất cần hội chúng Tỳ kheo bảo vệ trước những kẻ có tà tâm, xấu ác. Vì xã hội đương thời vẫn chưa đồng nhất chấp nhận vai trò lãnh đạo của nữ giới, Chư Tỳ kheo là người cố vấn cho những sinh hoạt về mặt giao tế thuộc xã hội và tâm linh. Ngoài ra, Bát Kỉnh Pháp còn được xem như những giải pháp ngăn ngừa sự luyến ái giữa hai phái Tỳ kheo Ni và Tỳ kheo một cách dứt khoát và cần được thi hành tuyệt đối nghiêm chỉnh.

Mặc dù biết trước nữ giới xuất gia nhập vào Tăng đoàn, Chánh pháp sẽ giảm đi một nửa, Đức Phật vẫn cho phép hàng nữ giới xuất gia. Đối với Ngài, người giác ngộ giải thoát là quan trọng, lợi ích chúng sanh là tối thượng. Ngài là một bậc minh triết đầy trí tuệ, một bậc vĩ nhân duy nhất của loài người. Ngài không có những điểm sơ hở để những người trong xã hội đặt vấn đề được, kể cả vấn đề nhân quyền của nữ giới. Đức Thế Tôn là người đầu tiên và duy nhất cho phụ nữ quyền nhân bản thực sự. Ngài đã mở rộng cánh cửa thiên giới và cánh cửa niết bàn để cho nữ giới bước vào thật là đại phúc cho họ cũng như cho phụ nữ trong xã hội.

Từ một vị trí của nữ giới trong bối cảnh xã hội tại Ấn Độ thời đó rất thấp thỏi, và đời sống chư Ni chưa được nâng cao, nhờ Bát Kính Pháp mà chư Ni được sự giúp đỡ của chư Tăng về trú xứ, như khi xây dựng, hoặc tổ chức an cư, tự tứ, giáo giới, hướng dẫn tu học hoặc các lễ lạc khác. Nhờ vào Bát Kỉnh Pháp mà Ni giới đã có rất nhiều vị Tỳ kheo Ni chứng quả A-la-hán, trở thành bậc Thánh Ni xuất chúng và thành tựu trí tuệ vô lậu như các bậc Thánh Tỳ kheo, xứng đáng là phước điền cho chúng sanh nương tựa. Một đặc điểm cũng khá lý thú trong cách chọn từ của các dịch giả Phật giáo Trung Hoa: người nữ được xuất gia và trở thành Tỳ kheo Ni (Bhikkhunī) chứ không phải là Tỳ kheo nữ. Theo Luật Thiện Kiến dạy: “Ni là nữ, nếu gọi là ‘nữ’ sợ người thế gian xem thường không khởi lòng tin kính. Nay gọi “Ni”, cốt để người đời kính tin, tôn trọng lại còn biểu hiện sự xa lìa trần tục, tâm tu trì giới đức thường tu hạnh thanh tịnh nên gọi là “Ni”.[13]


III. KẾT LUẬN

Sự xuất hiện của Tỳ-kheo Ni trong Tăng đoàn của Đức Phật khẳng định hai chân lý. Thứ nhất, đó là tính bình đẳng trong giáo lý của Đức Phật, không có phân biệt giới tính trong nước mắt cùng mặn, trong máu cùng đỏ và cho dù là nam hay nữ tất cả  đều có khả năng tu tập và giải thoát giác ngộ trong giáo pháp của  Như Lai. Thứ hai, đó là quan điểm của Đức Phật về thế giới quan - cái này có thì cái kia có, cái này không thì cài kia không, cái này sinh thì cái kia sinh, cài này diệt thì cái kia diệt.

Bát Kỉnh Pháp là yếu tố quyết định sự hình thành giới thể thanh tịnh của chư Tỳ kheo Ni khi lãnh thọ giới pháp để trở thành một hành giả đi trên lộ trình giải thoát, giác ngộ giúp họ tinh tấn nỗ lực tu tập và thành tựu. Sự kiện Đức Phật chấp nhận thành lập giáo hội Tỳ kheo Ni, nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng nhất, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo cũng như các trường phái tư tưởng được biết trước và ngay thời Đức Phật. Đây là một sự canh tân mới lạ phi thường vì nó chấp nhận cho hàng phụ nữ đặc quyền tiếp thụ một bản chất cao quý, một sức mạnh kiên cố vững chắc trong nền đạo lý, một khả năng thấm nhuần trí tuệ thâm sâu ngang hàng với nam giới. Và hơn 25 thế kỷ đã trôi qua, mặc dù nhiều hệ thống tôn giáo khác đã phát triển cực thịnh, nhưng vẫn chưa thấy có thêm một tôn giáo nào thành lập một giáo hội cho hàng nữ tu sĩ. Cho nên có thể nói rằng hàng phụ nữ vẫn chịu một món nợ trường cửu đối với Đức Phật vì Ngài đã nâng cao họ từ địa vị thấp kém và nhục nhã nhất trong xã hội lên hàng danh dự.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.29/10/2016.MHDT.