Monday, September 21, 2015

36 PHÁP CÚ CHỌN LỌC.
 
 
Nguyên tác: Kinh Pháp Cú, thuộc Tiểu Bộ Kinh.

 
 
 
 
PC. 01:
Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo.
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau
Như xe, chân vật kéo.
 
PC. 01:
Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm ô nhiễm nói năng hay hành động, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến, như bánh xe lăn theo chân con thú kéo xe.
 
 
 
 
PC. 02:
Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo.
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau
Như bóng không rời hình.
 
PC. 02:
Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm thanh tịnh nói năng hay hành động, sự vui sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình.
 
 
 
 
PC. 07:
Ai sống nhìn tịnh tướng
Không hộ trì các căn
Ăn uống thiếu tiết độ
Biếng nhác, chẳng tinh cần
Ma uy hiếp kẻ ấy
Như cây yếu trước gió.
 
PC. 07:
Những người chỉ muốn sống trong khoái lạc, không chịu nhiếp hộ các căn, ăn uống vô độ, biếng nhác chẳng tinh cần, những người ấy thật dễ bị ma nhiếp phục, như cành mềm trước cơn gió lốc.
 
 
 
 
PC. 08:
Ai sống quán bất tịnh
Khéo hộ trì các căn
Ăn uống có tiết độ
Có lòng tin, tinh cần
Ma không uy hiếp được
Như núi đá trước gió.
 
PC. 08:
Những người thường giác tỉnh, ngày đêm chuyên tu học, thường để chí hướng đến Niết-bàn, thì mọi phiền não đều dứt sạch.
 
 
 
 
PC. 09:
Ai mặc áo Cà-sa
Tâm chưa rời uế trược
Không tự chế, không thật
Không xứng áo Cà-sa.
 
PC. 09:
Mặc áo Cà-sa mà không rời bỏ những điều uế trược, không thành thật khắc kỷ, thà chẳng mặc còn hơn.
 
 
 
 
PC. 10:
Ai rời bỏ uế trược
Giới luật khéo nghiêm trì
Tự chế, sống chân thật
Thật xứng áo Cà-sa.
 
PC. 10:
Rời bỏ các điều uế trược, khéo giữ gìn giới luật, khắc kỷ và chân thành, người như thế đáng mặc áo Cà-sa.
 
 
 
 
PC. 13:
Như mái nhà vụng lợp
Mưa liền xâm nhập vào,
Cũng vậy tâm không tu
Tham dục liền xâm nhập.
 

PC. 13:
Nhà lợp không kín ắt bị mưa dột, cũng vậy, kẻ tâm không tu tất bị tham dục lọt vào.
 
 
 
 
PC. 14:
Như ngôi nhà khéo lợp
Mưa không xâm nhập vào,
Cũng vậy tâm khéo tu
Tham dục không xâm nhập.
 
PC. 14:
Nhà khéo lợp kín ắt không bị mưa dột, cũng vậy, người tâm khéo tu tất không bị tham dục lọt vào.
 
 
 
 
PC. 21:
Không phóng dật đường sống
Phóng dật là đường chết.
Không phóng dật không chết
Phóng dật như chết rồi.
 
PC. 21:
Không buông lung đưa tới cõi bất tử, buông lung đưa tới đường tử sanh. Người không buông lung thì không chết, kẻ buông lung thì sống như thây ma.
 
 
 
 
PC. 33:
Tâm hoảng hốt dao động
Khó hộ trì, khó nhiếp
Người trí làm tâm thẳng
Như thợ tên làm tên.
 
PC. 33:
Tâm kẻ phàm phu thường dao động hốt hoảng khó chế phục, nhưng kẻ trí lại chế phục tâm mình, làm cho chính trực một cách dễ dàng, như thợ khéo uốn nắn mũi tên.
 
 
 
 
PC. 35:
Khó nắm giữ, khinh động
Theo các dục quay cuồng,
Lành thay điều phục tâm
Tâm điều, an lạc đến.
 
PC. 35:
Tâm phàm phu cứ xoay vần theo ngũ dục, dao động không dễ nắm bắt. Chỉ những người nào đã điều phục tâm mình mới được yên vui.
 
 
 
 
PC. 60:
Đêm dài cho kẻ thức
Đường dài cho kẻ mệt
Luân hồi dài, kẻ ngu
Không biết chơn diệu pháp.
 
PC. 60:
Đêm rất dài với người mất ngủ, đường rất xa với kẻ lữ hành mỏi mệt. Cũng như thế, vòng luân hồi sẽ tiếp nối vô tận với kẻ ngu si không minh đạt chánh pháp.
 
 
 
 
PC. 75:
Khác thay duyên thế lợi
Khác thay đường Niết-bàn,
Tỷ-kheo đệ tử Phật
Hãy như vậy thắng tri.
Chớ ưa thích cung kính
Hãy tu hạnh viễn ly.
 
PC. 75:
Một đường đưa tới thế gian, một đường đưa tới Niết-bàn, hàng Tỳ-kheo đệ tử Phật phải biết rõ như thế. Chớ nên tham đắm vào thế lợi để chuyên chú vào đạo giải thoát.
 
 
 
 
PC. 76:
Nếu thấy bậc hiền trí
Chỉ lỗi và khiển trách
Như chỉ chỗ chôn vàng.
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy
Chỉ tốt hơn, không xấu.
 
PC. 76:
Nếu găp người hiền trí, thường chỉ bày lầm lỗi và khiển trách mình những chỗ bất toàn, hãy nên kết thân cùng họ, xem như bậc trí thức đã chỉ cho kho tàng bảo vật. Kết thân với người trí lành mà không dữ.
 
 
 
 
PC. 79:
Pháp hỷ đem an lạc
Với tâm tư thuần tịnh;
Người trí thường hoan hỷ
Với pháp bậc Thánh thuyết.
 
PC. 79:
Được uống nước chánh pháp thì tâm thanh tịnh an lạc. Nên người trí thường vui mừng ưa nghe Thánh nhân thuyết pháp.
 
 
 
 
PC. 101:
Dầu nói ngàn câu kệ
Nhưng không gì lợi ích
Tốt hơn nói một câu
Nghe xong được tịnh lạc.
 
PC. 101:
Tụng đến ngàn câu kệ vô nghĩa chẳng bằng một câu kệ có nghĩa lý, nghe xong tâm liền thanh tịnh.
 
 
 
 
PC. 115:
Ai sống một trăm năm
Không thấy pháp tối thượng,
Tốt hơn sống một ngày
Thấy được pháp tối thượng.
 
PC. 115:
Sống trăm tuổi mà không thấy pháp tối thượng, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà thấy được pháp tối thượng.
 
 
 
 
PC. 155:
Lúc trẻ không phạm hạnh
Không tìm kiếm bạc tiền
Như cò già bên ao
Ủ rũ không tôm cá.
 
PC. 155:
Lúc thanh niên cường tráng đã không kiếm ra tài của, cũng chẳng lo tu hành, thì khi già cả chẳng khác gì con cò già bên bờ ao, không kiếm ra mồi phải ủ rũ chết mòn.
 
 
 
 
PC. 160:
Tự mình y chỉ mình
Nào có y chỉ khác.
Nhờ khéo điều phục mình
Được y chỉ khó được.
 
PC. 160:
Chính mình làm chỗ nương cho mình chứ người khác làm sao nương được. Tự mình khéo tu tập mới đạt được đến chỗ nương dựa nhiệm mầu.
 
 
 
 
PC. 165:
Tự mình làm điều ác
Tự mình làm nhiễm ô.
Tự mình ác không làm
Tự mình làm thanh tịnh.
Tịnh, không tịnh tự mình
Không ai thanh tịnh ai.
 
PC. 165:
Làm dữ bởi ta, mà nhiễm ô cũng bởi ta. Làm lành bởi ta, mà thanh tịnh cũng bởi ta. Tịnh hay không tịnh cũng đều bởi ta, chứ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được.
 
 
 
 
PC. 167:
Chớ theo pháp hạ liệt
Chớ sống mặc buông lung
Chớ tin theo tà kiến
Chớ tăng trưởng tục trần.
 
PC. 167:
Chớ theo điều ty liệt, chớ đem thân buông lung, chớ nên theo tà thuyết, chớ tăng trưởng tục trần.
 
 
 
 
PC. 187:
Đệ tử bậc Chánh giác
Không tìm cầu dục lạc
Dầu là dục chư thiên,
Chỉ ưa thích ái diệt.
 
PC. 187:
Dù là dục lạc ở cõi trời, ngươi cũng chớ sinh tâm mong cầu. Đệ tử bậc Chánh giác chỉ mong cầu diệt trừ ái dục mà thôi.
 
 
 
 
PC. 207:
Sống chung với người ngu
Lâu dài bị lo buồn.
Khổ thay gần người ngu
Như thường sống kẻ thù.
Vui thay gần người trí
Như chung sống bà con.
 
PC. 207:
Đi chung với người ngu chẳng lúc nào không lo buồn. Ở chung với kẻ ngu khác nào ở chung với quân địch. Ở chung với người trí vui như hội ngộ với người thân.
 
 
 
 
PC. 226:
Những người thường giác tỉnh
Ngày đêm siêng tu học
Chuyên tâm hướng Niết-bàn
Mọi lậu hoặc được tiêu.
 
PC. 226:
Những người nguyện ở trong cảnh không khoái lạc, khéo léo nhiếp hộ các căn, ăn uống có tiết độ, vững tin và siêng năng, ma không dễ gì thắng họ, như gió thổi núi đá.
 
 
 
 
PC. 266:
Chỉ khất thực nhờ người
Đâu phải là Tỷ-kheo.
Phải theo pháp toàn diện
Khất thực… thôi không đủ.
 
PC. 266:
Chỉ mang bình khất thực đâu phải là Tỳ-kheo. Chỉ làm nghi thức tôn giáo cũng chẳng phải Tỳ-kheo vậy.
 
 
 
 
PC. 277:
Tất cả hành vô thường
Với tuệ quán thấy vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh.
 
PC. 277:
“Các hành đều vô thường”, khi đem trí tuệ soi xét được như thế thì sẽ nhàm lìa thống khổ. Đó là đạo thanh tịnh.
 
 
 
 
PC. 278:
Tất cả hành khổ đau
Với tuệ quán thấy vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh.
 
PC. 278:
“Các hành đều là khổ”, khi đem trí tuệ soi xét được như thế thì sẽ nhàm lìa thống khổ. Đó là đạo thanh tịnh.
 
 
 
 
PC. 279:
Tất cả pháp vô ngã
Với tuệ quán thấy vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh.
 
PC. 279:
“Các pháp đều vô ngã”, khi đem trí tuệ soi xét được như thế thì sẽ nhàm lìa thống khổ. Đó là đạo thanh tịnh.
 
 
 
 
PC. 282:
Tu thiền trí tuệ sanh
Bỏ thiền trí tuệ diệt.
Biết con đường hai ngả
Đưa đến hữu, phi hữu
Hãy tự mình nỗ lực
Khiến trí tuệ tăng trưởng.
 
PC. 282:
Tu Du-già thì trí phát, bỏ Du-già thì tuệ tiêu. Biết rõ hai lẽ này thế nào là đắc thất, rồi nỗ lực thực hành sẽ tăng trưởng thêm trí tuệ.
 
 
 
 
PC. 320:
Ta như voi giữa trận
Hứng chịu cung tên rơi
Chịu đựng mọi phỉ báng
Ác giới rất nhiều người.
 
PC. 320:
Voi xuất trận nhẫn chịu cung tên như thế nào, ta thường nhẫn chịu mọi điều phỉ báng như thế ấy.  Thật vậy, đời có lắm người phá giới (thường ghét kẻ tu hành).
 
 
 
 
PC. 354:
Pháp thí thắng mọi thí
Pháp vị thắng mọi vị
Pháp hỷ thắng mọi hỷ
Ái diệt thắng mọi khổ.
 
PC. 354:
Trong các cách bố thí, pháp thí là hơn cả. Trong các chất vị, pháp vị là hơn cả. Trong các hỷ lạc, pháp hỷ là hơn cả. Người nào trừ hết mọi ái dục  là vượt trên mọi khổ đau.
 
 
 
 
PC. 364:
Vị Tỷ-kheo thích pháp
Mến pháp, suy tư pháp
Tâm tư niệm chánh pháp
Không rời bỏ chánh pháp.
 
PC. 364:
Tỳ-kheo nào an trú trong lạc viên chánh pháp, mến pháp và theo pháp, tư duy nhớ tưởng pháp,  thì sẽ không bị thối chuyển.
 
 
 
 
PC. 367:
Hoàn toàn đối danh sắc
Không chấp ta, của ta
Không chấp, không sầu não
Thật xứng danh Tỷ-kheo.
 
PC. 367:
Đối với thân, tâm không lầm chấp là “ta” hay “của ta”. Vì không “ta” hay “của ta” nên không ưu não lo sợ. Người như vậy mới đáng gọi là Tỳ-kheo.
 
 
 
 
PC. 375:
Đây Tỷ-kheo có trí
Tu tập pháp căn bản
Hộ căn, biết vừa đủ
Giữ gìn căn bản giới
Thường gần gũi bạn lành
Sống thanh tịnh tinh cần.
 
PC. 375:
Nếu là Tỳ-kheo sáng suốt, dù ở trong đời, trước tiên vẫn lo nhiếp hộ các căn và biết đủ, lo hộ trì giới luật.
 
 
 
 
PC. 401:
Như nước trên lá sen
Như hột cải đầu kim
Người không nhiễm ái dục
Ta gọi Bà-la-môn.
 
PC. 401:
Người nào không nhiễm đắm những điều ái dục, như giọt nước trên lá sen, như hột cải đặt đầu mũi kim, người như thế Ta gọi là Bà-la-môn.
 
 
 
 
PC. 406:
Thân thiện giữa thù địch
Ôn hòa giữa hung hăng
Không nhiễm giữa nhiễm trước
Ta gọi Bà-la-môn.
 
PC. 406:
Ở giữa đám người cừu địch mà gây tình hữu nghị, ở giữa đám người hung hăng cầm gậy mà giữ khí ôn hòa, ở giữa đám người chấp đắm mà lòng không chấp đắm, người như thế Ta gọi là Bà-la-môn.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.21/9/2015.
Môn oai nghi Sa-di ngày nay


 
 
Nói về oai nghi, thì người có oai nghi là người có phong thái tôn nghiêm. Bất cứ người nào có lòng tự trọng đều có dáng tôn nghiêm. Khi đứng trước những người cảnh sát nghiêm túc, các vị nữ tu Công giáo, các thầy cô giáo xưa… người ta có cảm giác nể phục, kính mến, quý trọng, là do những đối tượng kia đã toát lên một oai nghi nào đó, gây ấn tượng với người tiếp xúc. Không luận là người đời hay người tu hành, hễ ai có phẩm cách thì người đó có sự tôn nghiêm, khiến cho người khác không dám xúc phạm đến lòng tự trọng của họ.

Khái quát về sự học hạnh làm người, tục ngữ Việt Nam có câu “Học ăn, học nói, học gói, học mở...”. Thổi vào câu tục ngữ này một tinh thần Phật giáo, thì cái học hạnh của người xuất gia sẽ là:

Học ăn, học nói, học cười
Học đi, học đứng, học thôi giận hờn
Học quên hai chữ Thua hơn
Thị phi, Nhân ngã… cung đờn vô thanh!
 
Oai nghi là những phép tắc hành xử trang nghiêm khiến người không dám xúc phạm. Oai nghi Sa-di tức là hạnh của người xuất gia giải thoát, đằm thắm trang nghiêm, điều độ trong sinh hoạt hàng ngày theo khuôn phép của nhà Phật. Đối với người xuất gia học đạo, do nói năng, hành động, sinh hoạt đúng với phận sự của mình, các vị ấy có được những oai nghi của một người tu hành. Do có oai nghi của một người tu hành, các vị ấy huân tập được khẩu nghiệp và thân nghiệp thanh tịnh, từ đó dần dần nhiếp phục được ý nghiệp. Vậy những người mới xuất gia cần phải học và hành Môn oai nghi Sa-di, là cách tiến tu đạo nghiệp thiết thật.

Trong các xã hội của nhân loại, hàng Phật tử xuất gia có những vị trí xã hội nhất định. Với những vị trí xã hội của mình, các Phật tử xuất gia phải mang những vai trò xã hội tương xứng. Do đó, một nhà sư cũng có những hạn chế (thân bất do kỷ, thân chẳng do ta) và có những bổn phận nhất định để xã hội chấp nhận được là một nhà sư. Ví dụ khi gặp các nhà sư, mọi người đều chấp tay xá chào rồi gọi là thầy và tự xưng là trò. Khi người ta đã cung kính như vậy, các sư có thể cư xử tệ hơn một vị thầy sao? Hay khi mọi người nhịn ăn, nhịn mặc, lo cho các sư được đầy đủ để yên tâm tu hành, thì các sư có thể không tu sao? Nếu các sư không xứng đáng với sự hy sinh của mọi người, thì nhân quả tất nhiên là các sư phải rời khỏi vị trí của mình. Xem như cuộc sống đã đào thải một kẻ không xứng đáng, theo sự sàng lọc tự nhiên. Vậy người xuất gia cũng cần phải học cách sống trong cuộc đời, để sự tu hành không bị trở ngại và sự hoằng pháp lợi sanh cũng được tốt đẹp.

Phàm làm người xuất gia có 2 phần hạnh xuất gia giải thoát và hạnh đối nhân xử thế. Do vậy Môn oai nghi Sa-di có hai phần ý nghĩa:

– Về mặt tu tập, Môn oai nghi Sa-di là môn học hạnh xuất gia giải thoát, dùng sự tập hạnh để rèn tâm cho những người mới xuất gia.

– Về mặt xã hội, Môn oai nghiSa-di là môn học cách xử thế phải đạo của người xuất gia, để biết cách sống như một nhà sư, xứng đáng với những mong đợi của mọi người, hài hòa nên một đoàn thể Tăng-già tốt đẹp.

Môn oai nghi Sa-di là hạnh đức trau dồi của lớp học trò tập sự Sa-di trong khoảng thời gian mới xuất gia học đạo. Bổn phận của người làm Sa-di là tập giữ giới Sa-di và theo thầy học hạnh khất sĩ để chuẩn bị làm một vị khất sĩ chân chính. Như các trẻ em mới chào đời đều cần sự chăm lo và giáo dưỡng của gia đình, xã hội qua nhiều năm tháng thì mới thành nhân, hàng Sa-di mới sanh vào nhà đạo cũng vậy, cũng cần nhiều cơm thiền sữa pháp và sự uốn nắn rèn luyện của Tăng đoàn thì mới có thể thành một vị khất sĩ chân chính. Với ý nghĩa này, Môn oai nghi Sa-di đã đem lại nhiều ích lợi thiết thật cho các Sa-di. Thế nên:

Uốn cây từ thuở còn non
Cần chăm giới hạnh thuở còn Sa-di.
 
Môn oai nghi Sa-di là một môn học chính của hàng Sa-di, do đức Phật Thích-ca dạy đại ý và thị hiện, nhiều đời Tổ sư triển khai áp dụng. Đến đời nhà Minh ở Trung Quốc, hòa thượng Châu Hoằng (1532–1612, còn gọi là đại sư Liên Trì, hành đạo tại núi Vân Thê ở Hàng Châu…) đã tổng hợp thành 24 bài học cho Sa-di, trong đó nêu các phép tắc hành xử:

– Những cách lễ lạy, tụng niệm, ngồi thiền, học pháp, thọ bát, cư xử với mọi người… Sa-di đều phải tập theo nghi thức.

– Làm việc không được tự ý.

– Chẳng nên đến chỗ người thế tục khi không cần thiết. Cũng không sinh hoạt, tiệc tùng, cười giỡn, xu hướng theo người đời… Thân phận Sa-di khác biệt với người thế tục, nên Sa-di cần phải ý thức về vấn đề ly gia cắt ái. Nếu ở cấp độ xuất gia đầu tiên là xuất thế tục gia mà Sa-di chưa làm được, thì Sa-di khó mà tiến xa hơn trên con đường của chư Phật (Phật đạo).

– Sa-di cần giữ một khoảng cách vừa phải đối với các Ni cô. Với các Tỳ-kheo Ni, Sa-di chỉ là hàng đàn em. Trong bảy chúng Phật tử, Tỳ-kheo Ni chỉ đứng sau hàng Tỳ-kheo.

– Khi tắm rửa, đi vệ sinh, ngủ nghỉ, sinh hoạt cá nhân, ở riêng trong phòng… Sa-di cũng cần giữ ý tứ.

– Với thầy, Sa-di khác nào một đứa con đạo đức của thầy. Thầy là người sanh thân giới mạng huệ cho Sa-di, giúp Sa-di đi lên con đường của chư Phật, giải thoát khỏi sự giả dối đảo điên ngàn đời của kiếp nhân sinh, ân đức này còn lớn hơn biển trời. Sa-di cần kính thầy như Phật, dù thầy chưa thật là Phật thì Sa-di cũng được vô lượng công đức do tâm hiếu kính đó…

– Với bạn pháp, các pháp hữu sẽ là những người tác thành đạo nghiệp cao cả cho Sa-di. Ăn cơm có canh, tu hành có bạn, Sa-di phải biết chọn bạn tốt và phải trân trọng những thiện hữu tri thức đó…

– Với thân quyến của Sa-di trong đời này là những chúng sanh có nhiều nhân duyên với Sa-di, Sa-di có trách nhiệm giúp đỡ lục thân của mình về mặt đạo đức, nhưng Sa-di chớ nên lưu luyến.

– Với mọi Phật tử, Sa-di trân trọng:

Mỗi người mỗi nước mỗi non
Bước vào cửa đạo như con một nhà.
 
Trong nhà đạo, đức Phật Thích-ca là bậc cha lành của chúng ta, ngài thương các con bình đẳng, mỗi lúc đều hằng mong đưa con ra khỏi nhà lửa Tam giới. Hàng Sa-di thọ giới pháp trên các Phật tử nên xứng làm anh làm chị của những người mới thọ ba quy y và năm giới cấm. Tuy vậy nhưng Sa-di cũng chớ cho rằng mình lớn hơn ai. Sa-di nên xưng trò hoặc xưng pháp danh với các Phật tử và đừng gọi Phật tử nào là con hết…

Trong đời sống đa diện ngày nay, liệu hăm mấy bài oai nghi cổ truyền có đủ cho hàng Sa-di ứng dụng không? Có thể nói ngay là chắc rằng không đủ. Nên hướng giải quyết là ta cần phải nắm vững những nội dung chính và những ý thức căn bản, lại cần phải hiểu đạo lý của oai nghi, từ đó linh hoạt áp dụng Môn oai nghi Sa-di vào những hoàn cảnh sống khác nhau.

Do đời sống biến chuyển, xã hội có nhiều việc phát sinh, nên sự ứng dụng của Môn oai nghi Sa-di phải được triển khai thích hợp. Ví như ngày nay khi đi xe đò, không nên ngả lưng ghế bằng hoặc thấp hơn ghế kế bên, nhất là khi ngồi kế bên là người khác phái. Hay khi lái xe 2 bánh không nên lạng lách. Không nên dắt xe ra, leo lên ngồi rồi gật đầu chào thầy và xin phép đi đâu. Khi nghe điện thoại, câu “A-lô” đầu tiên nên thay bằng câu “A-di-đà Phật”, vì như thế sẽ ngầm nhắc nhở người đang đối thoại với nhà sư nên giữ ý tứ. Khi tập quyền dưỡng sinh không nên mặc quần áo ngắn như người đời. Khi đi xe buýt có ai nhường ghế cho thì nên nhã nhặn cám ơn, chớ quên cám ơn, cũng đừng nói “Chứng minh công đức…” hay “Cảm niệm công đức…” gì khiến người không hiểu. Gặp phương tiện giao thông là xe giường nằm thì Sa-di dứt khoát không nên đi. Khi kẻ lạ nào gởi cho một tin nhắn rác thì Sa-di cứ bấm liền lệnh Xóa v.v… Những việc thế này đều do nắm vững đạo lý của Môn oai nghi mà tùy nghi hành xử vậy.

Oai nghi là những thiện nghiệp thuộc về thân tướng. Như nói về chơn thân thì không hạn cuộc trong tứ đại, ngũ uẩn. Các bậc đại giác ngộ thấu rõ bản lai diện mục có những oai nghi vượt oai nghi. Những oai nghi này là diệu dụng của trí tuệ giải thoát hiển lộ ra. Như thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn, khi nghe hòn sỏi văng vào cây trúc phát ra tiếng động, lúc đó ngài đã giác ngộ và làm bài kệ có câu: “Nơi nơi không dấu vết, Oai nghi ngoài sắc, thanh.”. Oai nghi ngoài sắc thanh là chỗ siêu thoát của người học oai nghi. Trong Kinh Kim Cương, đức Phật đã bảo ông Tu-bồ-đề rằng: “Nếu có người nói Như Lai hoặc đến, hoặc đi, hoặc ngồi, hoặc nằm… người ấy không hiểu nghĩa Pháp thân ta nói. Bởi vì sao? Vì Như Lai không từ đâu đến, cũng không đi về đâu, nên gọi là Như Lai.” (Như Lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai.)

Vậy oai nghi là điều cần thiết, dù là thiện nghiệp hay là vô tác thì cũng ứng từ tâm mà ra, không hẳn là thấp hay cao. Dù muốn hay không, người tu hành cũng phải tập theo Phật hạnh. Nếu là người chơn tu thì tự nhiên sẽ có Phật hạnh, ứng theo tâm thanh tịnh của người ấy. Vậy ai ai cũng cần phải giữ hạnh, giữ cho mình và giữ cho mọi người xung quanh.

Khi đi xuất gia, người ta chưa cần làm Bồ-tát hay làm thiền sư gì, mà trước hết chỉ cần làm một Sa-di như pháp. Oai nghi Sa-di là học theo khuôn mẫu thân tướng của chư Phật, chư Thánh, xuất phát từ những yêu cầu thật tế của cuộc sống. Oai nghi Sa-di hiển hiện nơi lục căn thanh tịnh, phân tích ra là bảy nghiệp của thân, khẩu. Như có người cho rằng tư tưởng Đại thừa là không chấp nên không cần học oai nghi Sa-di, thì quan niệm này thật sai lầm, khác gì ông Phạm chí Trường Trảo ngày xưa thừa nhận cái “Không thừa nhận gì hết” của ông! Thật ra, không chấp phải nói cho đầy đủ là Tu mà không chấp, chớ chẳng phải không có tu. Hàng Bồ-tát thường hành lục độ vạn hạnh nhưng tâm thường không trụ bốn tướng, nên lục độ của các ngài đạt đến mức Ba-la-mật, vạn hạnh của các ngài đạt đến mức viên mãn, thể hiện tâm đức vô ngã hoàn toàn. Nếu ai nói rằng hàng Bồ-tát không trì giới thì người này mang tội phỉ báng Phật pháp, chắc rằng phải đọa địa ngục. Tự cuộc sống sẽ cho ta biết cần phải giữ giới hay không, nào phải tranh luận gì!

Nói đến sự học oai nghi tất phải đề cập đến việc dạy oai nghi. Các học đường tại các nước Đông Á đều trân trọng phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn.”. Tương tự vậy, nhà Phật cũng đề cao phép tắc “Tiên học luật nghi, hậu học kinh luận.”. Hàng Sa-di ở trong giáo hội ví như những búp măng non, mà hàng Tỳ-kheo ví như những cây tre đã vươn cao tỏa bóng. Phương pháp giáo dục Tre đỡ măng là một phương pháp giáo dục cổ truyền của Phật giáo: một thầy kèm một trò, thầy vừa là thân giáo sư () vừa là cha (phụ), trò vừa là hàng hậu học (đệ) lại vừa như con (tử). Thầy dạy trò bằng khẩu giáo và nhất là thân giáo mô phạm, còn trò thì trọn lòng theo thầy mà học:

Bước đầu bổn phận làm trò
Cả thân, tâm, trí dâng cho người thầy
Tùy thầy uốn nắn, chuyển xoay
Đặng mình diệt hẳn riêng tây ý xằng.
 
Sự giáo dục oai nghi của nhà Phật không hề tầm thường, nó đòi hỏi cao ở cả thầy lẫn trò. Phật giáo đã đào tạo được nhiều lớp người kế thừa chính là nhờ những phương pháp giáo dục toàn diện cả thân tâm, trí đức... Phương pháp một thầy kèm một, hai trò đã có quy định rõ trong Luật tạng Phật giáo. Người làm thầy mà không dạy dỗ đệ tử như pháp là trái với công lý, là có tội với Phật pháp. Kẻ làm trò mà bướng bỉnh không vâng lời thì cũng bị tội đọa. Dạy không nghiêm thầy phải đọa, dạy không nghe lỗi ở trò (Giáo bất nghiêm sư ư đọa, giáo bất thính tội ư nhân.).

Cần tạo môi trường tốt cho các Sa-di thành tựu oai nghi. Môi trường của Sa-di là những cơ sở tự viện, tịnh xá, học viện, thiền viện và cả giáo hội. Môi trường tốt có được là do những sự tổ chức tu học tốt của các bậc thầy ở các nơi. Ở mỗi cơ sở thì sự giáo dục mang tính gia giáo như đã nói ở trên, còn ở mức độ rộng hơn thì Phật giáo cũng đã tổ chức thành công. Ví như trường Cao đẳng Huệ Nghiêm trước đây, chư Tăng về học ở nơi đó đều phải chịu sự quản thúc của trường, dù là trong hay ngoài giờ học. Do sự nghiêm minh của trường Huệ Nghiêm mà nơi ấy đã đào tạo được nhiều bậc Tăng tài lương đống. Lại như Tịnh xá Trung Tâm ở quận Bình Thạnh, đây là một trung tâm đào tạo Tăng tài của Hệ phái Khất Sĩ ngày nay. Ở Trung Tâm, ngoài giờ đi học tại các trường Phật học trong Thành phố, chư Tăng sinh đều phải tuân thủ theo giờ giấc tu tập và sinh hoạt của đại chúng. Điều này rất tốt mà các điểm đào tạo Tăng đều nên tổ chức như thế…

Ngày nay, cũng có một số Tăng, Ni không giữ được các mối quan hệ tốt đẹp với mọi người. Có những vị xuất gia đã bất cần, xem thường những cảm nhận của hàng Phật tử. Lại có những vị đi quá trớn trong mối quan hệ thầy trò, khiến cho nhiều Phật tử không thấy được hình ảnh xuất gia cao đẹp nơi vị ấy nữa. Cả hai trường hợp đều không phải cách của người xuất gia tu Phật. Đồng thời, cũng có những người tu hành vì quá xem trọng hình thức mà trở nên lề mề, y như ông cụ non. Người như thế này ở ngoài đời cũng khó mà sống được với mọi người. Lại cũng có những tu sĩ trẻ đi, đứng, nằm, ngồi phóng túng, hành xử trái oai nghi, mang lại những hậu quả rất đáng tiếc cho cuộc đời tu hành của những vị ấy... Nói chung là thời nào cũng có những chuyện thái quá bất cập linh tinh, chính vì vậy mà mới có chuyện tu sửa rèn luyện!

Sa-di là lớp mầm non của Phật giáo, là những thế hệ kế thừa sự nghiệp của Phật giáo. Nên công tác đào tạo Sa-di là một Phật sự quan trọng và thường xuyên của Giáo hội Phật giáo. Để nung đúc, rèn luyện giới hạnh cho hàng Sa-di, các bộ luậtcủa nhà Phật từ xưa đã chú trọng và quy định nhiều phép tắc. Vấn đề của Môn oai nghi Sa-di ngày nay là mặt triển khai áp dụng, ví dụ có thể bỏ bài Quanh lò hơ lửa, thêm một vài bài về Sử dụng tin học hay Lái xe chẳng hạn… và nhất là phải nghiêm – minh.

Vậy bài viết này cũng thuộc về mảng Phật học ứng dụng.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.21/9/20015.

Trang 21 — Tì-ni sa-di oai nghi kỉnh sách 1939 Ấn bản In ...

sach.nlv.gov.vn/sach/.../sach?a...
HẠ THIÉN OAI NGHI MÔN ( THIEN SAU CỮA OAI NGHI). Phật chổ Sa-Di niốD mãng nhị thập dục thọ cụ túc giải thời (Phật dạý Thãụ Sa-Di tuỗi đả hai mươi, khi .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.21/9/2015.

Thursday, September 17, 2015

[DOC]luat ty nai da thsm - HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI ...
www.vbu.edu.vn/.../luat%20ty%20nai%20da%20thsm...
CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THẾ HỮU BỘ. TỲ NẠI DA ... nhau thực hành pháp thiện bằng trí tuệ vô lậu để giải thoát đau khổ, sợ hãi, đem an ... giới bản hai bộ tăng ni, pháp truyền giới, thuyết giới, tự tứ an cư, thọ y công đức, kiết ... Tập sách này tập hợp những phần việc trên của luật Nhất Thiết Hữu Bộ do luật Nghĩa Tịnh  ...HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.17/9/2015.

Friday, September 4, 2015

CHƯƠNG X
TẠNG THẮNG PHÁP
I. BỘ PHÁP TỤ (DHAMMASANGANĪ)
Bộ Pháp Tụ (Dhammasanganī), cuốn sách đầu tiên của Thắng Pháp, và Paṭṭhāna, cuốn cuối cùng, là hai cuốn quan trọng nhất trong bảy cuốn của Thắng Pháp, cung cấp như là cốt tử tinh hoa của Thắng Pháp.
Dự định Phân Loại trong Dhammasanganī:
(1) Mātikā Dhammasanganī liệt kê tất cả các pháp (hiện tượng) nghĩa là, Tâm và Tâm sở, và Vật Chất (rūpa). Liệt kê những hiện tượng, chúng được sắp xếp dưới những tiêu đề khác nhau để làm rõ bản chất chân thực chức năng và quan hệ hổ tương cả nội giới (trong ta) và ngoại giới của chúng. Dhammasanganī bắt đầu với danh sách hoàn tất những tiêu đề gọi là Mātika. Mātika phục vụ như bản phân loại các tâm không những trong Dhammasanganī mà còn trong toàn bộ hệ thống Thắng Pháp.
Mātika gồm tất cả là 122 nhóm, trong đó 22 nhóm đầu tiên được gọi là Tika hay Triad (Tam Pháp), những pháp đó được chia thành dưới các mẫu đề; và 100 pháp còn lại gọi là Duka hay Dyad, những pháp đó được chia dưới tiêu đề là Nhị Mẫu Đề.
Các ví dụ của Tam Mẫu Đề là:
(a) Tam Pháp Thiện
- Pháp thiện, kusala
- Pháp bất thiện, akusala
- Pháp duy tác, abyakata
(b) Tam Pháp Thọ có câu hữu
- với thọ lạc
- với thọ khổ
- với thọ trung tính
Các ví dụ của Nhị Mẫu Đề là:
(a) Nhị Mẫu Đề Căn
- các pháp là các căn (hetu)
- các pháp không phải là các căn (na-hetu)
(b) Nhị Mẫu Đề có căn: Pháp
- câu hữu với căn
- không câu hữu với căn
Kết thúc Mātika là danh sách các phạm trù pháp có tên là Suttantika Mātika làm thành 42 nhóm pháp được tìm thấy trong các bài kinh.
(2) Bốn Phần Căn cứ vào Matika nầy của Tam Mẫu Đề và Nhị Mẫu Đề, Dhammasanganī được chia thành bốn phần:
- Cittupāda Kanda: Phần về sự sanh khởi của tâm và tâm sở.
- Rūpa Kanda: Phần liên quan đến vật chất.
- Nikkhepa Kanda: Phần tránh chi tiết hoá
- Atthakathā Kanda: Phần phụ chú tóm tắt.
Trong bốn phần, hai phần đầu, đó là Cittuppāda Kanda và Rūpa Kanda tạo thành phần chính yếu của cuốn sách. Chúng đưa ra mẫu nghiên cứu kỹ lưỡng vào bản chất, đặc điểm chức năng và mối tương quan của mỗi pháp được liệt kê trong Mātika, bằng cách cung cấp việc phân tích mẫu ôn lại Tam Mẫu đề đầu tiên, đó là, đó là Tam Mẫu Đề Thiện, Bất Thiện và Duy Tác Pháp. Cittuppāda Kanda liên quan đến việc liệt kê hết thảy của tất cả những trạng thái tâm dưới các đề mục Thiện và Bất Thiện; Rūpakanda liên quan đến tất cả các trạng thái của vật chất đến dưới đề mục Duy Tác; Asankhata Dhātu (Niết Bàn) cũng được nói đến, không thể dùng ngôn từ để bàn về nó.
Nikkhepa Kanda, phần thứ ba, mô tả không quá chi tiết cũng không quá ngắn gọn, bản tóm tắt sự phân chia tất cả các Tam Mẫu Đề và Nhị Mẫu Đề, hầu nội dung và ý nghĩa đầy đủ của chúng sẽ trở nên bao quát và toàn diện.
Atthakathā Kanda, phần cuối của cuốn sách có cùng bản chất với phần ba, là một bản tóm tắt các pháp dưới những tiêu đề khác nhau của các nhóm Tam Mẫu Đề và Nhị Mẫu đề. Nhưng trong đó cung cấp tính cách cô đọng hơn. Như vậy bản phụ lục cuốn sách đầu tiên của Thắng Pháp để dễ ghi nhớ.
(3) Thứ tự và phân loại của các loại tâm được luận trong Cittuppāda Kanda
Trước hết, Cittuppāda Kanda giới thiệu các loại tâm được sắp xếp dưới ba tiêu đề của Tam Mẫu Đề đầu tiên, đó là, (i) Thiện Pháp nghĩa là Tâm Thiện và các tâm sở (iii) Duy Tác Pháp nghĩa là Tâm Không Xác định và các tâm sở của nó. Danh sách các tâm sở của mỗi pháp là khá dài và lập lại.
Việc diễn tả các loại tâm được diện theo loại đặc biệt, ví dụ- Thiện Pháp, trong hình dạng hỏi và đáp, liên quan đến cõi giới của tâm: Dục Giói (kamāvacara); Sắc giới (Rūpavacara), Vô sắc giới (Arūpavacara); Tebhūmaka liên quan đến Tam giới; hay Siêu Thế Giới (Lokuttara), không liên quan đến Tam Giới nầy.
Loại tâm của mỗi cõi lại được chia thành nhiều loại khác nhau, ví dụ; có tám loại tâm thiện dục giới: tâm thiện thứ nhất; tâm thiện thứ hai, v.v..., mười hai loại tâm bất thiện; tám loại tâm thiện Dị Thục Vô Nhân và tám loại tâm Dị Thục Hữu Nhân dưới tiêu đề Tâm Duy Tác.
Sau đó những loại khác nhau nầy được phân tích thêm tuỳ thuộc:
- Dhamma Vavatthana Vara nghĩa là tính chất đặc biệt, hoặc là câu hữu với hỷ v.v... nghĩa là với hỷ (somanassa), ưu (domanassa), lạc (sukha), khổ (dukkha), hay xả (upekkha)
- Kotthasa vara, nhóm pháp. Có 23 phạm trù của pháp, có kết quả từ nhóm tổng hợp pháp thành phạm trù riêng như là Khandhas: Ngũ Uẩn, Āyatana :Lục Căn, dhātu :Tứ Đại...
- Suññata Vāra, nhấn mạnh vào sự kiện rằng không có ta (atta) hay Jīva) sự sống đằng sau tất cả các pháp nầy; chúng chỉ những hỗn hợp, hình thành do nhân và duyên, không có vật chất nào tồn tại.
Phương pháp tương tự được phỏng theo các loại tâm bất thiện và duy tác.
(4) Rūpa Kanda Bởi Dhammasanganī xếp các pháp (danh) cũng như vật chất trong hệ thống phân loại tương tự như nhau, Rūpa Kanda chỉ là sự tiếp nối sự phân chia của Pháp dưới những tiêu đề của Tam Mẫu Đề đầu tiên, có phần đầu tiên là Cittuppāda Kanda. Trong Cittuppāda Kanda, các pháp được liệt kê dưới tiêu đề 'Duy Tác' chỉ được làm một phần bởi vì loại pháp 'Duy Tác' chỉ được làm một phần bởi vì loại pháp Duy Tác gồm không những chỉ những trạng thái tâm, không thiện cũng không bất thiện mà còn tất cả các trạng thái của vật chất và Asankhatā Dhātu hay Niết Bàn. Pháp dưới tiêu đề Duy Tác đã bị bỏ ra khỏi Cittuppāda Kanda, được bàn kỹ trong Kanda nầy.
Phương pháp ở đây tương tự như, có sự khác nhau đối với tâm sở, những vật cấu thành vật chất, đó là bốn yếu tố chính (tứ đại) và những đặc tính vật chất chiết ra từ chúng cùng với những đặc điểm và những mối quan hệ của chúng được phân tích và xếp loại.
II. PHÂN TÍCH BỘ (VIBHANGA PĀḶI)
Cuốn thứ hai của Tạng Thắng Pháp -Phân Tích Bộ (Vibhanga) cùng với cuốn thứ nhất bộ pháp tụ (Dhammasanganī) và cuốn thứ ba Dhātukathā, hình thành một nền tảng có liên quan hệ chặt chẽ cho sự hiểu biết sâu sắc và thích hợp Giáo Lý của Đức Phật. Trong lúc Dhammasanganī có đôi mắt chim nhìn thấy toàn cảnh của các nhóm Tam Mẫu đề, Nhị Mẫu Đề với sự sắp đặt có hệ thống hơn dưới những tiêu đề được phân loại, Vibhanga và Dhātukathā giới thiệu cận cảnh của phần được chọn lọc trong những nhóm đó giới thiệu chi tiết tỉ mỉ hơn.
Như vậy, Koṭṭhāsa Vāra trong Dhammasanganī giải thích cái gì và bao nhiêu āyatana, dhātu, āhāra, indriya, jhānanga,v.v.. được kể trong Nhóm Tam Mẫu Đề và Nhị Mẫu Đề. Nhưng nó không cung cấp tin tức hoàn tất về pháp nầy. Chính Phân Tích Bộ cung cấp kiến thức đầy đủ về chúng, kể ra bản chất đích thực của mỗi pháp, những thành phần và mối quan hệ của nó đối với những pháp khác.
Phân Tích Bộ được chia thành 18 chương, mỗi chương đề cập đến phương diện đặc biệt của Pháp, phân tích và điều tra đầy đủ vào mỗi thành phần.
Sự sắp đặt và liệt kê thành nhóm và tiêu đề theo hệ thống tương tự như trong Bộ Pháp Tụ.. Do đó, Phân Tích Bộ (Vibhanga) được xem như Chú Giải của Bộ Pháp Tụ (Dhammasanganī).
Phân Tích Bộ (Vibhanga) giải thích toàn diện những phạm trù sau đây của Pháp.
(i) Uẩn
(ii) Xứ
(iii) Lợi
(iv) Sự Thật
(v) Căn
(vi) Duyên Khởi
(vii) Niệm Xứ
(viii) Sammappadhana
(ix) Thần Thông
(x) Giác Chi
(xi) Đạo
(xii) Thiền
(xiii) Vô Lượng Tâm
(xiv) Học G iới
(xv) Tuệ Phân Tích
(xvi) Trí
(xvii) Hỗn Hợp Nhóm
(xviii) Tâm Pháp
Mỗi phạm trù được phân tích và thảo luận trong hay tất cả ba của phương pháp phân tích sau đây: Suttanta bhājanīya - ý nghĩa của các từ và sự phân loại các pháp được quyết định theo phương pháp Kinh (Suttanta); Abhidhamma bhājanīya - ý nghĩa của từ và sự phân tích các pháp được quyết định theo phương pháp Abhidhamma (Thắng Pháp); Pañcha pucchaka, thảo luận trong hình thức hỏi đáp.
Danh sách ở trên cho thấy 18 phạm trù và chúng được chia thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất gồm từ số (i) - (vi) liên hệ đến những cấu thành của tâm và vật chất và hai định luật có bản chất mà chúng thường xuyên phải chịu đó là Luật Vô Thường và Luật Nhân Duyên. Nhóm thứ hai gồm từ số (vii) - (x) liên quan đến thực hành đời sống phạm hạnh đưa chúng sanh thoát khổ và vòng sanh tử luân hồi. Sáu phạm trù còn lại phục vụ như phần phụ lục cho hai nhóm trước, cung cấp tin tức đầy đủ và những chi tiết cần thiết.
III. DHĀTUKATHĀ PĀḶI
Dù cuốn thứ ba của Tạng Thắng Pháp là một luận thuyết nhỏ, nó được xếp cùng hai cuốn đầu tiên hình thành tam thuyết quan trọng, phải được tiêu hoá kỹ để hiểu đầy đủ Thắng Pháp. Vibhanga, cuốn thứ hai, có một chương hoàn toàn dành để phân tích các dhātu, nhưng chủ đề của dhātu quá quan trọng đến nỗi luận thuyết riêng biệt nầy dành cho nó sự quan tâm thấu đáo hơn. Phương pháp phân tích ở đây khác hẳn với phương pháp được dùng trong Vibhanga.
Dhātukathā nghiên cứu cách các pháp được liệt kê trong Tam Mẫu Đề và Nhị Mẫu Đề của Mātika liên quan đến ba phạm trù Khandha, āyatana và dhātu. Những phạm trù nầy được thảo luận trong 14 cách nghiên cứu phân tích bao gồm 14 chương của Dhātukathā..
IV. NHÂN CHẾ ĐỊNH (PUGGALAPAÑÑATTI PĀḶI)
Thắng pháp quan tâm chính đến việc nghiên cứu các sự thật trừu tượng bằng những thuật ngữ tuyệt đối. Nhưng khi diễn tả các pháp trong những phương diện khác, nó không thể chỉ sử dụng thuật ngữ tuyệt đối. Rõ ràng thuật ngữ quy ước của ngôn ngữ hằng ngày phải được sử dụng có quy ước; loại thứ nhất liên quan đến những thuật ngữ diễn tả các pháp thực sự tồn tại trên thực tế và loại thứ hai mô tả những pháp không tồn tại trên thực tế.
Ba cuốn sách đầu tiên của Thắng Pháp điều tra sự thật tuyệt đối của trong một hệ thống có kế hoạch của việc phân tích chi tiết dụng những thuật ngữ như Khandha, Āyatana, Dhātu, Sacca, Indriya. Những thuật ngữ nầy chỉ những biểu thị để diễn đạt những vật có tồn tại và do đó được xếp vào loại như là sử dụng quy ước của loại thứ nhất. Đối với loại sử dụng quy ước thứ hai thuộc về việc diễn đạt như đàn ông, đàn bà, cá nhân,v.v.. chúng không tồn tại trên thực tế, nhưng dĩ nhiên là thiết yếu để truyền thông tư tưởng.
Do đó, nó trở nên cần thiết để phân biệt hai loại sự thật rõ ràng nầy. Nhưng như những thuật ngữ Khandha, Āyatana, Dhātu, Sacca và Indriya có liên hệ tỉ mỉ trong ba cuốn đầu, chúng chỉ đề cập ngắn gọn ở đây. Những thuật ngữ được dùng trong loại thứ hai liên hệ đến những cá nhân được đề cập nhiều hơn và kỹ hơn trong luận thuyết nầy; do vậy tựa của nó là Puggala paññatti, sự chế định của mỗi cá nhân. Những loại cá nhân khác nhau, cách liệt kê chúng được dùng trong Tăng Chi Bộ Kinh.
V. KATHĀVATTHU PĀḶI
Kathāvatthu, như Puggalapaññatti, ngoài hệ thống thông thường của Thắng Pháp. Nó không đề cập đến bản chất khó hiểu của pháp. Nó liên quan chủ yếu đến những tà kiến như "Người tồn tại, Ngã tồn tại, Linh Hồn tồn tại" - nổi bật ngay trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế hay những tà kiến như "Ala Hán rớt khỏi quả vị Ala hán" nổi lên sau khi Đức Phật Niết Bàn.
Khoảng 218 năm sau khi Phật Niết Bàn có tất cả là 18 phái, tất cả đều tuyên bố là những giáo lý của Đức Phật. Trong số nầy chỉ có Thượng Toạ bộ thực sự là chính thống, trong lúc đó những phái còn lại đều phạm tội ly giáo. Hoàng đế Asoka bắt đầu thanh lọc và sa thải những phần tử không trong sạch ra khỏi Tăng Đoàn với sự hướng dẫn và trợ giúp củaTrưởng Lão Moggaliputta Tisa- đã đắc A la hán. Dưới sự chỉ đạo của ngài, Tăng đoàn tổ chức hoà hợp Lễ Bát Quan Trai mà nó không được tổ chức trong bảy năm qua vì sự bất hoà chia rẽ và sự hiện diện của những Tỳ khưu giả mạo trong Tăng đoàn.
Ở hội nghị đó, Đại Đức Moggaliputta Tissa giải thích những quan điểm và viết ra năm trăm lời tuyên bố chính thống và năm trăm lời tuyên bố của những quan điểm nầy được một ngàn vị trưởng lão được chọn và tham gia Hội Nghị Kết Tập Tam Tạng lần thứ ba, để hình thành Thắng Pháp Tạng.
VI. YAMAKA PĀḶI
Dhammasanganī, Vibhanga và Dhātukathā khảo sát Pháp và phân loại chúng như chúng tồn tại trong thế giới thực tại, gọi là Sankharaloka (Hành Giới), puggala paññatti và Kathāvatthu liên hệ đến chúng sanh và những nhân cách cũng tồn tại trong thế giới riêng của thực tại rõ ràng gọi là Sattaloka (Chúng Sanh Giới). Nơi pháp của Hành Giới và chúng sanh của Chúng Sanh Giới cùng tồn tại có tên là Okāsa Loka (Hiện Giới). Yamaka bắt đầu định nghĩa và phân tích sự tương quan của các pháp và những nhân cách khi chúng tồn tại trong tam giới nầy.
Cuốn nầy được hoàn thành trong dạng câu hỏi đôi vì vậy có tên là Song Đối (Yamaka). Tiến trình thuận của chuyển đổi (anuloma) và tiến trình nghịch (patiloma) được áp dụng để quyết định việc hoàn tất quy nhập và giới hạn của một từ trong mối tương quan của nó với những pháp khác. Bản chất lập lờ của một từ (samsaya) được tránh nhờ chỉ rõ, bằng sự sắp đặt những câu hỏi được cân nhắc đặc biệt như thế, những nghĩa khác của từ không thích hợp như thế nào.
Những cặp song đối sau đây có thể được lấy làm ví dụ.
Đối với câu hỏi 'Có phải tất cả các vật chất có thể được gọi là Vật Chất Uẩn (Rūpakkhandha) không?' Câu trả lời là 'vật chất cũng được dùng trong những diễn đạt như 'bản chất đáng yêu' (piya rūpa), của bản chất như thế (eva rūpa), nhưng ở đó không có nghĩa là Vật Chất Uẩn (Rūpakkhandha).
Nhưng đối với câu hỏi 'Có phải tất cả Vật Chất Uẩn (Rūpakkhandha) được gọi là vật chất không? Câu trả lời là 'phải', bởi vật chất uẩn là thuật ngữ rất rộng và gồm cả những thuật ngữ như Piya rūpa, eva rūpa, etc.
VII. PAṬṬHĀNA PĀḶI
Patthāna là cuốn thứ bảy và cuốn cuối của Thắng Pháp, được gọi là Mahā Pakārana, ' Đại Bổn' tuyên bố địa vị chiếm giữ tối cao và đỉnh cao tuyệt vời nó đạt được trong việc điều tra truy cứu của và bản chất tuyệt đối của tất cả các pháp trong Vũ Trụ.
Dhammasanganī liệt kê tất cả các pháp nầy và tuyên bố chúng dưới những nhóm Tam Mẫu Đề và Nhị Mẫu Đề. Vibhanga phân tích chúng để chỉ những pháp chứa trong những phạm trù chính của Khandha, āyatana, dhātu, v.v... Dhātukathā nghiên cứu mối tương quan của các pháp được liệt kê trong Mātikā với mỗi bộ phận cấu thành của những phạm trù chính nầy của Khandha, āyatana và dhātu. Song Đối (Yamaka) quyết định tính mơ hồ, lưỡng nghĩa của mối quan hệ trong và ngoài (nội ngoại) của mỗi pháp. Patthāna hình thành cuốn cuói Thắng Pháp đêm lại tất cả những mối quan hệ như thế trong hình thức cùng hợp tác để chỉ rằng tất cả các pháp không tồn tại như những tại biệt nhưng chúng tạo thành một hệ thống có sắp xếp tốt trong đó đơn vị nhỏ nhất duyên những đơn vị còn lại của nó và cũng duyên trở lại. Việc sắp xếp hệ thống nầy là quá ư rắc rối, phức tạp, sâu sắc, thâm thuý và không thể thăm dò được.
ĐỀ CƯƠNG PAṬṬHĀNA - HỆ THỐNG CÁC MỐI QUAN HỆ Patthāna, là chữ kép của từ 'pa' và 'thāna' nghĩa là hệ thống các mối quan hệ. Luận thuyết vĩ của Patthāna sắp xếp tất cả các pháp hữu vi. (22 Tam Mẫu Đề và 100 Nhị Mẫu Đề của Matika), dưới 24 loại quan hệ, mô tả và phân loại chúng thành một hệ thống vận hành của các pháp trong vũ trụ. Cả thế được chia thành bốn phần lớn, đó là:
(i) Anuloma Paṭṭhāna: nghiên cứu trường hợp các duyên (paccaya) tồn tại giữa các pháp.
(ii) Paccaniya Paṭṭhāna: nghiên cứu những trường hợp trong đó các quan hệ không tồn tại giữa các pháp.
(iii) Anuloma Paccaniya Paṭṭhāna: nghiên cứu trường hợp trong đó vài mối liên hệ (paccaya) trong đó chúng không tồn tại giữa các pháp, nhưng các trường hợp khác tồn tại.
(iv) Paccaniya Anuloma Paṭṭhāna: nghiên cứu những trường hợp trong đó vài mối quan hệ không tại giữa các pháp, nhưng những trường hợp khác có tồn tại.
Hai mươi bốn mối quan hệ (paccaya) được áp dụng vào bốn phần lớn nầy trong sáu cách sau đây:
(i) Tika Paṭṭhāna: Hai mươi bốn paccaya được áp dụng vào các pháp trong hai mươi bốn nhóm Tam Mẫu Đề của chúng.
(ii) Duka Paṭṭhāna: Hai mươi bốn paccaya được áp dụng vào các pháp trong 100 Nhị Mẫu Đề với hai mươi hai nhóm Tam Mẫu Đề.
(iii) Duka-Tika Paṭṭhāna
(iv) Tika-Duka Paṭṭhāna
Hai mươi bốn paccaya được áp dụng vào các pháp trong hai mươi hai nhóm Tam Mẫu Đề của chúng có 100 nhóm Nhị Mẫu Đề.
(v) Tika-Tika: Hai mươi bốn paccaya được áp dụng vào các pháp trong hai mươi hai nhóm Tam Mẫu Đề với nhau.
(vi) Duka-Duka Paṭṭhāna: Hai mươi hai paccaya được áp dụng với các pháp trong các nhóm Nhị Mẫu Đề của chúng với nhau.
Bốn Paṭṭhāna của bốn phần lớn khi hoán vị với sáu paṭṭhāna của sáu cách kết quả trong hai mươi bốn tiểu luận tạo thành một bản sưu tập khổng lồ Thắng Pháp trừu tượng được biết là Mahāpakarana hay như chú giải gọi nó là "Ānantanaya Samanta Paṭṭhāna' để chỉ sự phong phú và độ sâu không thể dò của nó.
Kết Thúc
-ooOoo-
     
 
 

 


Huong dan doc Tam tang
 
 
 
Hướng Dẫn Đọc Tam Tạng Kinh Điển
Gs. U KO LAYYangon, Miến Điện
Phật Lịch: 2546 - Dương Lịch: 2003 - Miến Lịch: 1365
Nguyên tác: "Guide to Tipitaka"
Tỳ khưu ni Huyền Châu dịch
 

CHƯƠNG X
TẠNG THẮNG PHÁP
I. BỘ PHÁP TỤ (DHAMMASANGANĪ)
Bộ Pháp Tụ (Dhammasanganī), cuốn sách đầu tiên của Thắng Pháp, và Paṭṭhāna, cuốn cuối cùng, là hai cuốn quan trọng nhất trong bảy cuốn của Thắng Pháp, cung cấp như là cốt tử tinh hoa của Thắng Pháp.
Dự định Phân Loại trong Dhammasanganī:
(1) Mātikā Dhammasanganī liệt kê tất cả các pháp (hiện tượng) nghĩa là, Tâm và Tâm sở, và Vật Chất (rūpa). Liệt kê những hiện tượng, chúng được sắp xếp dưới những tiêu đề khác nhau để làm rõ bản chất chân thực chức năng và quan hệ hổ tương cả nội giới (trong ta) và ngoại giới của chúng. Dhammasanganī bắt đầu với danh sách hoàn tất những tiêu đề gọi là Mātika. Mātika phục vụ như bản phân loại các tâm không những trong Dhammasanganī mà còn trong toàn bộ hệ thống Thắng Pháp.
Mātika gồm tất cả là 122 nhóm, trong đó 22 nhóm đầu tiên được gọi là Tika hay Triad (Tam Pháp), những pháp đó được chia thành dưới các mẫu đề; và 100 pháp còn lại gọi là Duka hay Dyad, những pháp đó được chia dưới tiêu đề là Nhị Mẫu Đề.
Các ví dụ của Tam Mẫu Đề là:
(a) Tam Pháp Thiện
- Pháp thiện, kusala
- Pháp bất thiện, akusala
- Pháp duy tác, abyakata
(b) Tam Pháp Thọ có câu hữu
- với thọ lạc
- với thọ khổ
- với thọ trung tính
Các ví dụ của Nhị Mẫu Đề là:
(a) Nhị Mẫu Đề Căn
- các pháp là các căn (hetu)
- các pháp không phải là các căn (na-hetu)
(b) Nhị Mẫu Đề có căn: Pháp
- câu hữu với căn
- không câu hữu với căn
Kết thúc Mātika là danh sách các phạm trù pháp có tên là Suttantika Mātika làm thành 42 nhóm pháp được tìm thấy trong các bài kinh.
(2) Bốn Phần Căn cứ vào Matika nầy của Tam Mẫu Đề và Nhị Mẫu Đề, Dhammasanganī được chia thành bốn phần:
- Cittupāda Kanda: Phần về sự sanh khởi của tâm và tâm sở.
- Rūpa Kanda: Phần liên quan đến vật chất.
- Nikkhepa Kanda: Phần tránh chi tiết hoá
- Atthakathā Kanda: Phần phụ chú tóm tắt.
Trong bốn phần, hai phần đầu, đó là Cittuppāda Kanda và Rūpa Kanda tạo thành phần chính yếu của cuốn sách. Chúng đưa ra mẫu nghiên cứu kỹ lưỡng vào bản chất, đặc điểm chức năng và mối tương quan của mỗi pháp được liệt kê trong Mātika, bằng cách cung cấp việc phân tích mẫu ôn lại Tam Mẫu đề đầu tiên, đó là, đó là Tam Mẫu Đề Thiện, Bất Thiện và Duy Tác Pháp. Cittuppāda Kanda liên quan đến việc liệt kê hết thảy của tất cả những trạng thái tâm dưới các đề mục Thiện và Bất Thiện; Rūpakanda liên quan đến tất cả các trạng thái của vật chất đến dưới đề mục Duy Tác; Asankhata Dhātu (Niết Bàn) cũng được nói đến, không thể dùng ngôn từ để bàn về nó.
Nikkhepa Kanda, phần thứ ba, mô tả không quá chi tiết cũng không quá ngắn gọn, bản tóm tắt sự phân chia tất cả các Tam Mẫu Đề và Nhị Mẫu Đề, hầu nội dung và ý nghĩa đầy đủ của chúng sẽ trở nên bao quát và toàn diện.
Atthakathā Kanda, phần cuối của cuốn sách có cùng bản chất với phần ba, là một bản tóm tắt các pháp dưới những tiêu đề khác nhau của các nhóm Tam Mẫu Đề và Nhị Mẫu đề. Nhưng trong đó cung cấp tính cách cô đọng hơn. Như vậy bản phụ lục cuốn sách đầu tiên của Thắng Pháp để dễ ghi nhớ.
(3) Thứ tự và phân loại của các loại tâm được luận trong Cittuppāda Kanda
Trước hết, Cittuppāda Kanda giới thiệu các loại tâm được sắp xếp dưới ba tiêu đề của Tam Mẫu Đề đầu tiên, đó là, (i) Thiện Pháp nghĩa là Tâm Thiện và các tâm sở (iii) Duy Tác Pháp nghĩa là Tâm Không Xác định và các tâm sở của nó. Danh sách các tâm sở của mỗi pháp là khá dài và lập lại.
Việc diễn tả các loại tâm được diện theo loại đặc biệt, ví dụ- Thiện Pháp, trong hình dạng hỏi và đáp, liên quan đến cõi giới của tâm: Dục Giói (kamāvacara); Sắc giới (Rūpavacara), Vô sắc giới (Arūpavacara); Tebhūmaka liên quan đến Tam giới; hay Siêu Thế Giới (Lokuttara), không liên quan đến Tam Giới nầy.
Loại tâm của mỗi cõi lại được chia thành nhiều loại khác nhau, ví dụ; có tám loại tâm thiện dục giới: tâm thiện thứ nhất; tâm thiện thứ hai, v.v..., mười hai loại tâm bất thiện; tám loại tâm thiện Dị Thục Vô Nhân và tám loại tâm Dị Thục Hữu Nhân dưới tiêu đề Tâm Duy Tác.
Sau đó những loại khác nhau nầy được phân tích thêm tuỳ thuộc:
- Dhamma Vavatthana Vara nghĩa là tính chất đặc biệt, hoặc là câu hữu với hỷ v.v... nghĩa là với hỷ (somanassa), ưu (domanassa), lạc (sukha), khổ (dukkha), hay xả (upekkha)
- Kotthasa vara, nhóm pháp. Có 23 phạm trù của pháp, có kết quả từ nhóm tổng hợp pháp thành phạm trù riêng như là Khandhas: Ngũ Uẩn, Āyatana :Lục Căn, dhātu :Tứ Đại...
- Suññata Vāra, nhấn mạnh vào sự kiện rằng không có ta (atta) hay Jīva) sự sống đằng sau tất cả các pháp nầy; chúng chỉ những hỗn hợp, hình thành do nhân và duyên, không có vật chất nào tồn tại.
Phương pháp tương tự được phỏng theo các loại tâm bất thiện và duy tác.
(4) Rūpa Kanda Bởi Dhammasanganī xếp các pháp (danh) cũng như vật chất trong hệ thống phân loại tương tự như nhau, Rūpa Kanda chỉ là sự tiếp nối sự phân chia của Pháp dưới những tiêu đề của Tam Mẫu Đề đầu tiên, có phần đầu tiên là Cittuppāda Kanda. Trong Cittuppāda Kanda, các pháp được liệt kê dưới tiêu đề 'Duy Tác' chỉ được làm một phần bởi vì loại pháp 'Duy Tác' chỉ được làm một phần bởi vì loại pháp Duy Tác gồm không những chỉ những trạng thái tâm, không thiện cũng không bất thiện mà còn tất cả các trạng thái của vật chất và Asankhatā Dhātu hay Niết Bàn. Pháp dưới tiêu đề Duy Tác đã bị bỏ ra khỏi Cittuppāda Kanda, được bàn kỹ trong Kanda nầy.
Phương pháp ở đây tương tự như, có sự khác nhau đối với tâm sở, những vật cấu thành vật chất, đó là bốn yếu tố chính (tứ đại) và những đặc tính vật chất chiết ra từ chúng cùng với những đặc điểm và những mối quan hệ của chúng được phân tích và xếp loại.
II. PHÂN TÍCH BỘ (VIBHANGA PĀḶI)
Cuốn thứ hai của Tạng Thắng Pháp -Phân Tích Bộ (Vibhanga) cùng với cuốn thứ nhất bộ pháp tụ (Dhammasanganī) và cuốn thứ ba Dhātukathā, hình thành một nền tảng có liên quan hệ chặt chẽ cho sự hiểu biết sâu sắc và thích hợp Giáo Lý của Đức Phật. Trong lúc Dhammasanganī có đôi mắt chim nhìn thấy toàn cảnh của các nhóm Tam Mẫu đề, Nhị Mẫu Đề với sự sắp đặt có hệ thống hơn dưới những tiêu đề được phân loại, Vibhanga và Dhātukathā giới thiệu cận cảnh của phần được chọn lọc trong những nhóm đó giới thiệu chi tiết tỉ mỉ hơn.
Như vậy, Koṭṭhāsa Vāra trong Dhammasanganī giải thích cái gì và bao nhiêu āyatana, dhātu, āhāra, indriya, jhānanga,v.v.. được kể trong Nhóm Tam Mẫu Đề và Nhị Mẫu Đề. Nhưng nó không cung cấp tin tức hoàn tất về pháp nầy. Chính Phân Tích Bộ cung cấp kiến thức đầy đủ về chúng, kể ra bản chất đích thực của mỗi pháp, những thành phần và mối quan hệ của nó đối với những pháp khác.
Phân Tích Bộ được chia thành 18 chương, mỗi chương đề cập đến phương diện đặc biệt của Pháp, phân tích và điều tra đầy đủ vào mỗi thành phần.
Sự sắp đặt và liệt kê thành nhóm và tiêu đề theo hệ thống tương tự như trong Bộ Pháp Tụ.. Do đó, Phân Tích Bộ (Vibhanga) được xem như Chú Giải của Bộ Pháp Tụ (Dhammasanganī).
Phân Tích Bộ (Vibhanga) giải thích toàn diện những phạm trù sau đây của Pháp.
(i) Uẩn
(ii) Xứ
(iii) Lợi
(iv) Sự Thật
(v) Căn
(vi) Duyên Khởi
(vii) Niệm Xứ
(viii) Sammappadhana
(ix) Thần Thông
(x) Giác Chi
(xi) Đạo
(xii) Thiền
(xiii) Vô Lượng Tâm
(xiv) Học G iới
(xv) Tuệ Phân Tích
(xvi) Trí
(xvii) Hỗn Hợp Nhóm
(xviii) Tâm Pháp
Mỗi phạm trù được phân tích và thảo luận trong hay tất cả ba của phương pháp phân tích sau đây: Suttanta bhājanīya - ý nghĩa của các từ và sự phân loại các pháp được quyết định theo phương pháp Kinh (Suttanta); Abhidhamma bhājanīya - ý nghĩa của từ và sự phân tích các pháp được quyết định theo phương pháp Abhidhamma (Thắng Pháp); Pañcha pucchaka, thảo luận trong hình thức hỏi đáp.
Danh sách ở trên cho thấy 18 phạm trù và chúng được chia thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất gồm từ số (i) - (vi) liên hệ đến những cấu thành của tâm và vật chất và hai định luật có bản chất mà chúng thường xuyên phải chịu đó là Luật Vô Thường và Luật Nhân Duyên. Nhóm thứ hai gồm từ số (vii) - (x) liên quan đến thực hành đời sống phạm hạnh đưa chúng sanh thoát khổ và vòng sanh tử luân hồi. Sáu phạm trù còn lại phục vụ như phần phụ lục cho hai nhóm trước, cung cấp tin tức đầy đủ và những chi tiết cần thiết.
III. DHĀTUKATHĀ PĀḶI
Dù cuốn thứ ba của Tạng Thắng Pháp là một luận thuyết nhỏ, nó được xếp cùng hai cuốn đầu tiên hình thành tam thuyết quan trọng, phải được tiêu hoá kỹ để hiểu đầy đủ Thắng Pháp. Vibhanga, cuốn thứ hai, có một chương hoàn toàn dành để phân tích các dhātu, nhưng chủ đề của dhātu quá quan trọng đến nỗi luận thuyết riêng biệt nầy dành cho nó sự quan tâm thấu đáo hơn. Phương pháp phân tích ở đây khác hẳn với phương pháp được dùng trong Vibhanga.
Dhātukathā nghiên cứu cách các pháp được liệt kê trong Tam Mẫu Đề và Nhị Mẫu Đề của Mātika liên quan đến ba phạm trù Khandha, āyatana và dhātu. Những phạm trù nầy được thảo luận trong 14 cách nghiên cứu phân tích bao gồm 14 chương của Dhātukathā..
IV. NHÂN CHẾ ĐỊNH (PUGGALAPAÑÑATTI PĀḶI)
Thắng pháp quan tâm chính đến việc nghiên cứu các sự thật trừu tượng bằng những thuật ngữ tuyệt đối. Nhưng khi diễn tả các pháp trong những phương diện khác, nó không thể chỉ sử dụng thuật ngữ tuyệt đối. Rõ ràng thuật ngữ quy ước của ngôn ngữ hằng ngày phải được sử dụng có quy ước; loại thứ nhất liên quan đến những thuật ngữ diễn tả các pháp thực sự tồn tại trên thực tế và loại thứ hai mô tả những pháp không tồn tại trên thực tế.
Ba cuốn sách đầu tiên của Thắng Pháp điều tra sự thật tuyệt đối của trong một hệ thống có kế hoạch của việc phân tích chi tiết dụng những thuật ngữ như Khandha, Āyatana, Dhātu, Sacca, Indriya. Những thuật ngữ nầy chỉ những biểu thị để diễn đạt những vật có tồn tại và do đó được xếp vào loại như là sử dụng quy ước của loại thứ nhất. Đối với loại sử dụng quy ước thứ hai thuộc về việc diễn đạt như đàn ông, đàn bà, cá nhân,v.v.. chúng không tồn tại trên thực tế, nhưng dĩ nhiên là thiết yếu để truyền thông tư tưởng.
Do đó, nó trở nên cần thiết để phân biệt hai loại sự thật rõ ràng nầy. Nhưng như những thuật ngữ Khandha, Āyatana, Dhātu, Sacca và Indriya có liên hệ tỉ mỉ trong ba cuốn đầu, chúng chỉ đề cập ngắn gọn ở đây. Những thuật ngữ được dùng trong loại thứ hai liên hệ đến những cá nhân được đề cập nhiều hơn và kỹ hơn trong luận thuyết nầy; do vậy tựa của nó là Puggala paññatti, sự chế định của mỗi cá nhân. Những loại cá nhân khác nhau, cách liệt kê chúng được dùng trong Tăng Chi Bộ Kinh.
V. KATHĀVATTHU PĀḶI
Kathāvatthu, như Puggalapaññatti, ngoài hệ thống thông thường của Thắng Pháp. Nó không đề cập đến bản chất khó hiểu của pháp. Nó liên quan chủ yếu đến những tà kiến như "Người tồn tại, Ngã tồn tại, Linh Hồn tồn tại" - nổi bật ngay trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế hay những tà kiến như "Ala Hán rớt khỏi quả vị Ala hán" nổi lên sau khi Đức Phật Niết Bàn.
Khoảng 218 năm sau khi Phật Niết Bàn có tất cả là 18 phái, tất cả đều tuyên bố là những giáo lý của Đức Phật. Trong số nầy chỉ có Thượng Toạ bộ thực sự là chính thống, trong lúc đó những phái còn lại đều phạm tội ly giáo. Hoàng đế Asoka bắt đầu thanh lọc và sa thải những phần tử không trong sạch ra khỏi Tăng Đoàn với sự hướng dẫn và trợ giúp củaTrưởng Lão Moggaliputta Tisa- đã đắc A la hán. Dưới sự chỉ đạo của ngài, Tăng đoàn tổ chức hoà hợp Lễ Bát Quan Trai mà nó không được tổ chức trong bảy năm qua vì sự bất hoà chia rẽ và sự hiện diện của những Tỳ khưu giả mạo trong Tăng đoàn.
Ở hội nghị đó, Đại Đức Moggaliputta Tissa giải thích những quan điểm và viết ra năm trăm lời tuyên bố chính thống và năm trăm lời tuyên bố của những quan điểm nầy được một ngàn vị trưởng lão được chọn và tham gia Hội Nghị Kết Tập Tam Tạng lần thứ ba, để hình thành Thắng Pháp Tạng.
VI. YAMAKA PĀḶI
Dhammasanganī, Vibhanga và Dhātukathā khảo sát Pháp và phân loại chúng như chúng tồn tại trong thế giới thực tại, gọi là Sankharaloka (Hành Giới), puggala paññatti và Kathāvatthu liên hệ đến chúng sanh và những nhân cách cũng tồn tại trong thế giới riêng của thực tại rõ ràng gọi là Sattaloka (Chúng Sanh Giới). Nơi pháp của Hành Giới và chúng sanh của Chúng Sanh Giới cùng tồn tại có tên là Okāsa Loka (Hiện Giới). Yamaka bắt đầu định nghĩa và phân tích sự tương quan của các pháp và những nhân cách khi chúng tồn tại trong tam giới nầy.
Cuốn nầy được hoàn thành trong dạng câu hỏi đôi vì vậy có tên là Song Đối (Yamaka). Tiến trình thuận của chuyển đổi (anuloma) và tiến trình nghịch (patiloma) được áp dụng để quyết định việc hoàn tất quy nhập và giới hạn của một từ trong mối tương quan của nó với những pháp khác. Bản chất lập lờ của một từ (samsaya) được tránh nhờ chỉ rõ, bằng sự sắp đặt những câu hỏi được cân nhắc đặc biệt như thế, những nghĩa khác của từ không thích hợp như thế nào.
Những cặp song đối sau đây có thể được lấy làm ví dụ.
Đối với câu hỏi 'Có phải tất cả các vật chất có thể được gọi là Vật Chất Uẩn (Rūpakkhandha) không?' Câu trả lời là 'vật chất cũng được dùng trong những diễn đạt như 'bản chất đáng yêu' (piya rūpa), của bản chất như thế (eva rūpa), nhưng ở đó không có nghĩa là Vật Chất Uẩn (Rūpakkhandha).
Nhưng đối với câu hỏi 'Có phải tất cả Vật Chất Uẩn (Rūpakkhandha) được gọi là vật chất không? Câu trả lời là 'phải', bởi vật chất uẩn là thuật ngữ rất rộng và gồm cả những thuật ngữ như Piya rūpa, eva rūpa, etc.
VII. PAṬṬHĀNA PĀḶI
Patthāna là cuốn thứ bảy và cuốn cuối của Thắng Pháp, được gọi là Mahā Pakārana, ' Đại Bổn' tuyên bố địa vị chiếm giữ tối cao và đỉnh cao tuyệt vời nó đạt được trong việc điều tra truy cứu của và bản chất tuyệt đối của tất cả các pháp trong Vũ Trụ.
Dhammasanganī liệt kê tất cả các pháp nầy và tuyên bố chúng dưới những nhóm Tam Mẫu Đề và Nhị Mẫu Đề. Vibhanga phân tích chúng để chỉ những pháp chứa trong những phạm trù chính của Khandha, āyatana, dhātu, v.v... Dhātukathā nghiên cứu mối tương quan của các pháp được liệt kê trong Mātikā với mỗi bộ phận cấu thành của những phạm trù chính nầy của Khandha, āyatana và dhātu. Song Đối (Yamaka) quyết định tính mơ hồ, lưỡng nghĩa của mối quan hệ trong và ngoài (nội ngoại) của mỗi pháp. Patthāna hình thành cuốn cuói Thắng Pháp đêm lại tất cả những mối quan hệ như thế trong hình thức cùng hợp tác để chỉ rằng tất cả các pháp không tồn tại như những tại biệt nhưng chúng tạo thành một hệ thống có sắp xếp tốt trong đó đơn vị nhỏ nhất duyên những đơn vị còn lại của nó và cũng duyên trở lại. Việc sắp xếp hệ thống nầy là quá ư rắc rối, phức tạp, sâu sắc, thâm thuý và không thể thăm dò được.
ĐỀ CƯƠNG PAṬṬHĀNA - HỆ THỐNG CÁC MỐI QUAN HỆ Patthāna, là chữ kép của từ 'pa' và 'thāna' nghĩa là hệ thống các mối quan hệ. Luận thuyết vĩ của Patthāna sắp xếp tất cả các pháp hữu vi. (22 Tam Mẫu Đề và 100 Nhị Mẫu Đề của Matika), dưới 24 loại quan hệ, mô tả và phân loại chúng thành một hệ thống vận hành của các pháp trong vũ trụ. Cả thế được chia thành bốn phần lớn, đó là:
(i) Anuloma Paṭṭhāna: nghiên cứu trường hợp các duyên (paccaya) tồn tại giữa các pháp.
(ii) Paccaniya Paṭṭhāna: nghiên cứu những trường hợp trong đó các quan hệ không tồn tại giữa các pháp.
(iii) Anuloma Paccaniya Paṭṭhāna: nghiên cứu trường hợp trong đó vài mối liên hệ (paccaya) trong đó chúng không tồn tại giữa các pháp, nhưng các trường hợp khác tồn tại.
(iv) Paccaniya Anuloma Paṭṭhāna: nghiên cứu những trường hợp trong đó vài mối quan hệ không tại giữa các pháp, nhưng những trường hợp khác có tồn tại.
Hai mươi bốn mối quan hệ (paccaya) được áp dụng vào bốn phần lớn nầy trong sáu cách sau đây:
(i) Tika Paṭṭhāna: Hai mươi bốn paccaya được áp dụng vào các pháp trong hai mươi bốn nhóm Tam Mẫu Đề của chúng.
(ii) Duka Paṭṭhāna: Hai mươi bốn paccaya được áp dụng vào các pháp trong 100 Nhị Mẫu Đề với hai mươi hai nhóm Tam Mẫu Đề.
(iii) Duka-Tika Paṭṭhāna
(iv) Tika-Duka Paṭṭhāna
Hai mươi bốn paccaya được áp dụng vào các pháp trong hai mươi hai nhóm Tam Mẫu Đề của chúng có 100 nhóm Nhị Mẫu Đề.
(v) Tika-Tika: Hai mươi bốn paccaya được áp dụng vào các pháp trong hai mươi hai nhóm Tam Mẫu Đề với nhau.
(vi) Duka-Duka Paṭṭhāna: Hai mươi hai paccaya được áp dụng với các pháp trong các nhóm Nhị Mẫu Đề của chúng với nhau.
Bốn Paṭṭhāna của bốn phần lớn khi hoán vị với sáu paṭṭhāna của sáu cách kết quả trong hai mươi bốn tiểu luận tạo thành một bản sưu tập khổng lồ Thắng Pháp trừu tượng được biết là Mahāpakarana hay như chú giải gọi nó là "Ānantanaya Samanta Paṭṭhāna' để chỉ sự phong phú và độ sâu không thể dò của nó.HET=NAM MO BO SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.5/9/2015.
Kết Thúc.