Wednesday, March 20, 2019

NHỮNG YẾU ĐIỂM MÀ CÁC GIẢNG SƯ CẦN PHẢI NHỚ.


1.      Tâm niệm vị tha vì đạo, không cần danh lợi cá nhân.
2.      Cử chỉ phải đàng hoàng và gương mẫu.
3.      Phải luôn luôn hoan hỷ (dù gặp nghịch cảnh) và kiên nhẫn trong mọi trường hợp.

4.      Khi giảng giọng nói phải rõ ràng và dứt khoát (khoa học và đại chúng).
5.      Từ điệu bộ cho đến giọng nói phải hấp dẫn, lâu lâu phải có những lời nói vui.
6.      Giảng sư phải làm cho lớp giảng linh hoạt, muốn cho mọi người chăm chú nếu phải có bảng đen.
7.      Phải xem bài thật kỹ.
8.      Những điều cần chú ý :
·      Không nên chạm thời cuộc
·      Không nên chạm các đảng phái tôn giáo
·      Không nên chạm tự ái cá nhân.
·      Khi tỷ dụ cái gì xấu phải ám chỉ cho mình, cái gì tốt nên chỉ cho người.
·      Lời nói luôn luôn dè dặt.

MỘT GIẢNG SƯ BAN BỐ GIÁO PHÁP PHẢI CÓ ĐỦ 10 ĐỨC

1.           Khôn khéo biết nghĩa lý của giáo pháp.
2.           Hay vì chúng sanh mà tuyên nói giáo pháp.
3.           Ở trong chỗ đông người không sợ sệt.
4.           Biện tài vô ngại (thông suốt nội giáo lẫn ngoại giáo).
5.           Phương tiện khéo léo để mà nói.
6.           Theo giáo pháp thực hành giáo pháp.
7.           Oai nghi đầy đủ.
8.           Dũng mãnh, mạnh mẽ, ròng rặc tiến tới, không thối lui trong việc giáo hóa.
9.           Thân tâm đừng nghĩ đến sự mỏi mệt.
10.        Thành tựu oai thần của mình và người.


PHƯƠNG PHÁP DIỄN GIẢNG

I. Chuẩn Bị Xa Cho Một Buổi Giảng
Yếu tố tự tạo tối cần cho việc diễn giảng, nhưng việc tập luyện, chuẩn bị cho việc diễn giảng lại càng quan trọng hơn. Chuẩn bị ở đây có nghĩa là đào tạo về nhiều phương diện, nói khác hơn là huấn luyện từ trước, để đến lúc lên pháp tòa không còn ngượng ngịu, ấp úng.
1. Am tường giáo lý – chuẩn bị kiến thức:
- Một luật sư chắc chắn phải am hiểu Luật học.
- Một kinh tế gia chắc chắn phải hiểu tường tận về kinh tế học.
- Một giảng sư, việc đầu tiên là phải am tường giáo lý. Chưa đủ, khác hơn với Luật gia, Kinh tế gia v.v…, một Giảng sư phải thông hiểu càng nhiều càng tốt. Phải gia tâm nghiên cứu, sưu tầm các môn học khác: Tôn giáo, Triết lý, Văn học, Xã hội v.v… Đọc càng nhiều các loại sách: học làm người, tư tưởng Đông Tây, truyện cổ…, những loại sách có thể giúp kiến thức phát triển làm nền tảng vững chắc cho việc diễn giảng (tránh tiểu thuyết).
Nhưng đọc sách phải có nghệ thuật:
-          Ý thức đọc sách tối cần, nhưng có nhiều sách đọc mất thì giờ, đọc bị đầu độc.
-          Đừng đọc nhiều quá mà tiêu hóa không kịp.
-          Đừng đọc nhiều quá cũng đừng đọc ít quá.
-          Đọc với sự chú ý, với trí tìm hiểu, với óc phẩm bình – với ngụ ý đọc để mà học.
-          Đọc và lấy note toát yếu – chép dàn bài ghi tư tưởng hay sưu tập danh ngôn.
-          Tránh lối đọc để khoe “tôi đọc nhiều sách”
2. Luyện trí nhớ:
Trí nhớ cung cấp cho ý tưởng, ý niệm, nhờ đó xây dựng được lý luận – Ký ức nghèo kém quá thì lấy đâu để thuyết giảng. Có nhiều cách luyện trí nhớ, song đây là những phương pháp chính yếu:
a.    Khéo đặt câu hỏi.
b.    Lặp đi lặp lại.
c.    Khắc sâu hình ảnh hoặc cảm tưởng trong trí óc mình.
Ví dụ: Cây mai, cây mận.
d.    Liên tưởng.
e.    Đọc lớn tiếng.
f.      Đọc làm nhiều lần, mỗi lần mỗi phút, mau nhớ và nhớ lâu hơn là đọc một lúc trong vài ba tiếng đồng hồ.
g.    Chịu khó học thuộc lòng.
h.    Tránh những phá hoại trí như thức khuya quá hoăc hút thuốc nhiều.
3.Luyện giọng:
Con nít mới lọt lòng mẹ chỉ biết khóc la, nghĩa là phát ra những âm thanh không có gì rõ rệt, tuy vậy dần dần nó nói được. Một Giảng sư muốn thu hút thính giả từ chỗ mê mờ đến ngộ đạo, đạt đạo, không thể không quan tâm đến giọng nói. Tư tưởng dù hay đến đâu, vẫn không thu đạt được kết quả như ý nếu không diễn đạt được giọng nói tình cảm.
Giọng nói khàn khàn, ồ ồ tiếng trống tiếng mái cà lăm, nói liệu thì chẳng những không lôi cuốn được ai mà vô tình chọc cười cho thính giả. Luyện giọng không khó, nhưng không phải luyện cho được chất giọng mê hồn của ca sĩ, mà cốt để làm hơi phát âm được phong phú, làn hơi dài và ấm, giúp ta phô diễn được phân minh và có điệu nhạc tùy ý nghĩa tâm tình, đạt được những gì muốn nói.
Vì thế nếu giọng nói không được trong, đều và ấm thì nên cố gắng luyện bằng cách:
a.    Tập hét lớn giữa đồng trống hoặc bãi biển.
b.    Tập thể dục, chú trọng hít thở nhiều vào buổi sáng: Đứng thẳng người lên, ưởn ngực tới, hít đầy, thật đầy rồi nín thở vài giây, 30 lần mỗi buổi sáng.
c.    Tập đọc, tập nói nhiều theo giọng điệu tự nhiên.
4. Âm điệu:
Đặc biệt nổi bậc nhất là tiếng nói của con người được lồng khuôn trong âm nhạc. Người ta cảm thông nhau bằng giọng nói; khi van nài, từ chối, khi buồn thảm, vui tươi, khi khoan thai, dòn dã… Trong việc xã giao hằng ngày quan trọng như thế, thì trên pháp tòa cũng không kém. Lời nói có âm điệu, dịu sắc mà hùng, ấm, làm sao cho sáng tỏ ý tưởng, dễ nhận thức hơn, dễ thu hút và gây cảm tình ngay với thính giả.
Nói xuôi xị, ngay đơ như cán cuốc, nói lờ đờ, rên rên… thì khó tìm được thính giả chấp nhận. Vì thế phải chuẩn bị tập đọc thật nhiều, khi một mình trong phòng vắng hay giữa đồng trống, sửa soạn âm điệu, cao, thấp, trầm, hùng. Tập cho đến khi trở thành thói quen.
Lời nói có lúc êm như suối đàn, có lúc hùng cường như thác đổ, hết than thở đến ngạc nhiên, lúc nào cũng pha màu hỉ, nộ, ái, ố, lạc…
5. Làm quen hay đọc sách của nhiều Pháp sư, Giảng sư hay diễn giả danh tiếng:
Đừng bỏ qua những cơ hội tốt mà không tham dự được những buổi thuyết pháp, diễn thuyết của những Pháp sư, Giáo sư tên tuổi, những buổi nói chuyện của những nhân vật lừng danh trong các ngành khoa học, văn chương, nghệ thuật. Mỗi người đều có những bí quyết giúp họ thành công.
Có vị hấp dẫn bằng điệu bộ. Có vị chinh phục bằng giọng nói, bằng những lặng thinh đúng lúc. Có vị thu hút bằng lời văn phong phú, nhẹ nhàng, êm dịu v.v… Tất cả đó là những bài học quý giá nhất của mỗi vị Giảng sư. Cứ mỗi lần dự nghe một buổi diễn giảng là một lần hun đúc thêm cho mình nhiều kinh nghiệm, tích trữ lâu dần thành kho tàng kinh nghiệm quý báu.
6.Thu thập tài liệu.
Nhiều tài liệu quý báu ta biết từ lâu, xem qua từ lâu, nhưng lúc cần dùng thì quên mất. Soạn bài giảng nếu tài liệu thiếu kém quá làm sao nội dung bài giảng vững chắc, phong phú được. Vì thế, ngoài kinh điển đã học, để giúp trí nhớ nên lấy những ý chính, những điều cần chú ý ghi vào cái thẻ, gọi là thẻ tài liệu. Dùng thẻ này để chép những ý tưởng thâm thúy, những kinh nghiệm, lời văn và thích dụng. Ngoài ra còn dũng một thẻ thư tịch để ghi những điều cần nhớ về một cuốn kinh, cuốn sách như tên tác giả, năm xuất bản, tên nhà xuất bản.
Một vài quy tắc cần yếu khi lập thẻ:
a.    Dùng những thẻ cứng khoảng 8 đến phân 12 phân, sắp đứng vào những hộp dài hay những hộp chuyên để đựng thẻ.
b.    Dùng một mặt của thẻ, chừa mặt sau ra để thêm bớt điều gì.
c.    Mỗi thẻ ghi một đề, ghi tổng hợp, toát yếu.
d.    Muốn trích một đoạn văn bản phải ghi rõ: tên tác giả, nhà xuất bản, đoạn mấy, trang mấy.
e.    Đừng tham lam khi lập thẻ – chỉ ghi những gì thực trọng yếu thôi.
f.      Nếu toát yếu những bài giảng nổi tiếng, chép kỹ một số danh ngôn, để có dịp trưng dẫn làm hậu thuẫn.
g.    Phải thường đọc đi, đọc lại các điều ghi trong thẻ để khi hữu dụng mới nhớ mà dùng.
h.    Thẻ thường dùng ít nhất 4 màu: xanh, đỏ, trắng, vàng:
Xanh: Để khi những lời tán thưởng đường lối của mình.
Đỏ: Để ghi những lời có tính cách phản đối.
Trắng: Ghi những lời, điều mà mình chấp nhận và cho là đúng.
Vàng: Ghi những điều còn nghi ngờ.
7. Bồi bổ sức khỏe:
Chuẩn bị xa cho việc diễn giảng, vấn đề sức khỏe cũng không  thể không lưu ý. Giảng là trình bày những ý tưởng, những giáo lý sâu sắc của Phật đà. Nhưng làm sao có tư tưởng đó nếu đầu óc bệnh hoạn, tinh thần suy nhược, không thu nhập được kiến văn. Làm sao lời nói giàu âm hưởng nếu bộ phổi tép, suy nhược. Làm sao có văn khí lôi cuốn nếu thân thể uể oải, con người nặng như chì.
Không phải đợi đến lúc gần lên pháp tòa rồi mới tẩm bổ vài ly nước cam tươi, chích thuốc bổ, ngủ nghỉ dạo mát mà điều cần là phải chuẩn bị sức khỏe từ lâu trước.
- Cần dinh dưỡng, ăn uống tiết độ.
- Đừng làm việc quá mệt.
- Tránh thức khuya quá.
- Ít ăn tiêu, gừng.
- Gìn giữ các cơ quan phát thanh: cửa họng, thanh quản, màng gà, lưỡi, răng và môi.
8. Trau dồi tư cách:
Giáo lý giỏi, giọng tốt, sức khỏe đầy đủ, âm điệu rung cảm đến đâu nhưng thiếu chuẩn bị tư cách là coi như mất tất cả.
Thiếu gì người nói hay, thiếu gì người có tướng tốt, thiếu gì người tài ba lỗi lạc, nhưng nghe đến cái “tên” người ta đã lắc đầu, bĩu môi khinh bỉ…
Trong giảng đường pháp sư đang thao thao bất tuyệt, đang phun châu nhả ngọc mà thính giả tỏ ra lạnh nhạt, lại còn bàn tán xôn xao: “Thiếu tư cách”…
Như vậy, có phải do học vấn học uyên thâm, nói lời hoa mỹ, bộ tướng đẹp đẽ mà có thể chinh phục được nhân tâm đâu?
Biết vị nào có “đời tư” bê bối, một tác phong “ghẻ lở”, hoặc tiềm ẩn, hoặc phát hiện trên pháp tòa, đều bị thính giả nghi kỵ và nghe như nước đổ lá môn. Bản tính con người tự nhiên hướng về sự kính phục con người đạo đức của tư cách thanh nhã. Nếu ai có được điều kiện này, buổi giảng tự nhiên được thính giả lưu ý.
Ai có thể tin phục được người tham lam đi giảng đức công bình, từ bi, bác ái? Người hung ác đi dạy làm việc thiện? Người giọng điệu đầy kiêu khí, kiêu mạn mà dạy quần chúng khiêm nhường, lễ độ, nhẫn nhục.
Có tự giác mới có khả năng giác tha. Có tánh thiện từ trong tâm linh mới thánh hóa được kẻ khác.
II. Trước Một Buổi Giảng
1. Đặt đề tài sửa soạn dàn bài:
Dù lỗi lạc đến đâu trong khi giảng cũng phải có một dàn bài trước. Dàn bài hoặc viết, hoặc cưu mang trong trí… mà nhất định phải có.
Thuyết pháp là gì? Là một dịp để bàn với Phật tử, với những người chưa hiểu đạo được am hiểu giáo lý đạo Phật, dồn vào tâm não họ một ý lực, hướng dẫn hành vi và lời nói của họ quay về với đạo, am hiểu giáo lý sâu sắc để thực hành.
Khi đặt chủ đề rõ rệt mới tập trung ý tưởng lại thành một mặt trận duy nhất để chinh phục. Các ý con phải được trật tự hóa để yểm trợ cho ý mẹ. Các ý mẹ được thống nhất hóa trong một hệ thống để biện minh cho chủ đề.
Tránh tham lam, đang bàn đề này lại lo xét đề khác hay phải cái tật bị chi tiết dẫn dắt làm rơi chủ đề.
Có nhiều cách làm dàn bài nhưng đại khái đều dựa vào những nguyên tắc chính yếu này:
a.    Nhất  trí dồn về biện minh một vấn đề.
b.    Các ý mẹ gồm nhiều ý con liên lạc nhau tự nhiên bằng những mối dây nguyên nhân, kết quả.
c.    Các phần chia trong dàn bài, tùy điểm quan trọng mà phân chia dài ngắn, nhưng bao giờ cũng phải cân đối, tránh đầu voi, đuôi chuột.
d.    Coi chừng lặp lại vô ích.
e.    Ý hay, chuyện lạ, lời đẹp đến đâu mà không ăn thua gì đến vấn đề thì phải hy sinh.
f.      Đại khái một dàn bài có 3 phần: Nhập đề – Thân đề – Kết luận.
·       Nhập đề: Nên gồm 3 phần: Mở đề – Đặt đề – Chuyển đề.
·       Thân đề: Gồm các phần định nghĩa, giải thích, phân loại trình bày ý kiến các tôn giáo khác, người khác…, dẫn chứng để bài phá, để đề cao lập trường, chuyển đoạn khéo.
·       Kết đề: Tóm tắt, mở rộng vấn đề và gợi hành động quả quyết, chiết trung.
Nhập đề: có hai lối nhập:
1.       Trực khởi: Định nghĩa – Giải thích.
2.       Lung khởi: Bằng cách suy diễn, quy nạp tương đồng, tương phản v.v… (coi chừng thời gian).
Thân đề: Muốn được một thân đề thường thường phải dùng các phương pháp như: 1) Suy Luận. 2) Tỷ dụ. 3) Lý chứng danh ngôn.
1) Suy luận: Tam đoạn luận – Lưỡng đạo luận – Liên châu luận.
a. Tam đoạn luận: là phép rất thường dùng trong môn toán học với định đề hễ A và B đều bằng C thì A và B cùng bằng nhau.
Ví dụ: Làm người (A) thì phải chết (B). Tôi (C) là người (A), vậy tôi (C) sẽ chết (B)
Nghĩa là: A=B
C=A
Vậy là    C= B
Ta đưa ra một chân lý chung (làm người thì ai cũng phải chết: đoạn thứ nhất, rồi đưa một chân lý riêng (tôi là người: đoạn thứ nhì) và kết luận rằng chân lý chung áp dụng vào trường hợp riêng đó được (Vậy tôi sẽ chết: đoạn thứ ba)
Hết thảy có ba đoạn: nên gọi là Tam đoạn luận.
b. Lưỡng đoạn luận:(pháp song quan) khi muốn bác lý luận của ai, dồn họ vào chỗ bí. Ta lấy một điều gì chứng minh là đúng và chứng minh rằng điều trái với điều ấy là sai hoặc xấu, hoặc không thể có được.
Ví dụ: Muốn khuyên người không nên đánh bạc, ta có thể lý luận:
“Nếu ta tập đánh bạc thì một là ta phải chống cự với máu cờ bạc, hai là ta phải để cho nó sai khiến ta. Chống với nó thì ta sẽ phải khổ sở lắm vì ta luôn luôn phải phấn đấu với ta; còn để nó sai khiến ta sẽ mất hết cả nhân phẩm của ta đi. Cho nên đừng tập thói đó là hơn cả.
c. Liên châu luận:
Ta sắp những xét đoán của ta thành một chuổi, cứ kết thúc của xét đoán thứ nhất thành tiền đề của xét đoán thứ nhì, kết thúc của xét đoán thứ nhì thành tiền đề của xét đoán thứ ba v.v…
Ví dụ: Ai không nghi ngờ gì hết (A) thì không tìm tới để hiểu biết (B). Ai không tìm tới để hiểu biết (B) thì không thấy gì hết (C). Không thấy gì hết (C) thì không biết gì hết. Có mắt như đuôi (D). Vậy ai không nghi ngờ gì hết (A) thì là người đui (D).
Tóm lại: A = B (1)
B = C (2)            Vậy A = D
C = D (3)
(B) là kết thúc của xét đoán thứ nhất (1) thành ra tiền đề của xét đoán thứ hai (2)…
2. Tỷ dụ: dùng các tỷ dụ rút trong lịch sử – văn chương cổ kim – kinh nghiệm thực tế – chuyển cổ.
3. Lý chứng danh ngôn: Dùng những ca dao tục ngữ, tư tưởng của những vĩ nhân, thánh nhân, triết gia, Phật ngôn để yểm trợ cho tư tưởng của mình.
Có hai lối trương dẫn danh ngôn: 1- Mặc nhiên, minh nhiên. Mặc nhiên: trương dẫn mà không có xuất xứ câu văn được trích. Minh nhiên: trương dẫn có chỉ rõ xuất xứ.
KẾT ĐỀ: Phần kết không kém phần quan trọng cho buổi giảng, vì nó đúc kết các lý chứng minh đã được trình bày để nhấn mạnh cho thính giả chấp thuận. Vì thế, kết để cố nhiên không vượt ra ngoài toát yếu.
B. Tìm ý: Khi đặt đầu đề để làm dàn bài, khi làm dàn bài xong mà định đề cập từng điểm của dàn bài thì các ý tưởng đến. Nhưng trí ta có khi như nắng hạn, ý đi đâu mất, óc như đặc lại rồi có lúc đến như mưa rào như nước lụt. Cứ việc ghi hết, chưa đến lúc lựa chọn, thì hễ ý nào có liên quan đến đầu đề ta cứ ghi. Nhưng chú ý kém lựa chọn đừng tiếc. Ngạn ngữ Pháp nói “Ai ôm nhiều quá, siết không chặt”. Vì thế, bất kỳ lúc nào, Ở đâu, nếu có ý lạ nảy ra đều ghi liền. (Lý Hạ đời Đường làm thơ trên lưng ngựa, nghĩ câu nào chép ra câu ấy. Một thi  nhân Trung Quốc đương đại tiện, tìm ra một vần thơ hay, ghi liền lên nhà xí).
C. Tìm các ý con: Đã có ý mẹ, phải dùng óc phân tich để ý con nảy ra. Muốn có ý con nảy ra thì phải nhìn vấn đề theo nhiều phương diện. Đặt câu hỏi: Ai? Cái gì? Tại sao? Ở đâu? Cách nào? Khi nào? Ra sao?
- Đòi hỏi phải đọc và phân tích nhiều bài.
- Suy nghĩ để kiếm ý, ý sẽ tuôn ra. Nhưng rồi có lúc ý không có gì hết, chứ đừng nói tuôn ra. Y cạn – cắn bút, nhưng đừng ngả lòng. Hãy nuôi mãi vấn đề trong trí mà đừng bận tâm suy xét nữa. Làm các việc khác rồi sẽ nghĩ đến, có khi ý đến một cách phong phú và tân kỳ. Tại sao vậy? Tại sự sắp sếp thứ tự của tiềm thức. Có những điều ta đọc nhiều lần mà lúc cần không nhớ, xong vài bữa sau coi lại nhớ rất lâu. Tiềm thức nó phong phú mà ẩn tàng. Nó sẵn sàng cung cấp tài liệu cho ý thức và nhờ vậy ta có các ý tưởng.
- Đọc sách báo, coi lại các thẻ đã ghi, các tập toát yếu bài giảng…
Chú ý: Cần nhất là rõ ràng. Nhưng ý nào chưa được minh bạch phải suy nghĩ lại, nhưng suy nghĩ lại vẫn còn lơ mơ thì bỏ.
D. Ăn uống, sắp đến giờ giảng thì đừng ăn no quá, ăn uống no làm cho mệt, dễ bị ợ, dễ quên. Cử những món ăn cay ngọt thái quá để cổ khỏi bị khan. Nên uống nước lã hay nước nấu chín thay vì cà phê, trà đậm. Tốt hơn dùng nước cam tươi.
Tránh những chất gì ăn hay uống vào có thể làm cho bị ợ hay biến chứng bất thường.
Đ. Ngủ nghỉ: Ngủ đều đặn trước ba bữa hay ít nữa hai bữa từ 9 giờ tối đến 5 giờ sáng.
Trưa ngủ khoảng một tiếng đồng hồ.
Đừng nói chuyện, tiếp khách nhiều trước giờ giảng.
Không làm việc gì có tánh cách vận động mạnh, hoặc những việc có tánh cách làm cho phải băn khoăn, suy nghĩ nhiều. Tránh những chuyện buồn bực.
- Vứt tất cả, không cho một việc làm nào được gọi là quan trọng hơn giờ giảng.
T. Tinh thần thư thái: chuẩn bị đề tài, sửa soạn xong dàn bài ít nhất vài ngày trước. Đừng để nước đến chân mới nhảy (trừ trường hợp đặc biệt). Soạn bài xong, thỉnh thoảng coi lại đại cương. Đi lại nơi vắng vẻ, tĩnh mịch. Vừa dạo vừa coi lại những chi tiết cần.
Hãy trầm tĩnh bằng đức can đảm. Có thể tự cho một cách quá lối và nói: “Tất cả thính giả coi như cỏ rác và tôi nói cho những điều họ cần biết và yêu cầu tôi nói” để giữ thế quân bình trong tâm trí, làm cho bớt sợ, bớt hồi hộp.
Coi lại lối phục sức… kính đeo mắt, y hậu, khăn mousoile không quá sặc sỡ, cũng không quá lượm thượm, vì có thể làm cho thính giả có dịp bàn tán. Tóm lại trước khi lên pháp tòa phải giữ gìn sức khỏe và lo cho tâm hồn thảnh thơi sảng khoái.
G. Nơi diễn giảng: Thường thì ta không dính líu đến phòng tổ chức diễn giảng. Ta chỉ được mời đến giảng, hơn là ta đứng ra tổ chức buổi giảng. Nói cách khác là can thiệp vào sự sắp đặt phòng giảng, nơi giảng. Vì giảng sư và ban tổ chức ít khi đi đôi với nhau, vì thế có nhiều khi thất bại.
- Nếu ban tổ chức am hiểu được nghệ thuật thì còn tốt, nhưng phần nhiều họ chỉ biết chưng dọn, cung cấp tiện nghi và không biết gì về âm hưởng, về cách sắp sếp thính giả ngồi, đứng như thế nào, cao thấp ấm cúng; Auparleur bắt như thế nào cho thính giả và diễn giảng có thể nghe rõ ràng.
- Vừa tổ chức thuyết pháp vừa tổ chức ca kịch, chiếu phim cùng một lúc.
- Trên pháp tòa thì để đủ thứ hình, đủ thứ bàn làm cho thình giả cứ nhìn mãi cái đẹp mà lãng quên đi phần diễn giảng.
- Phải sắp đặt cách nào cho giảng sư thành trung tâm điểm, thành mục tiêu sáng rực cho trăm ngàn cặp mắt gắn chặt vào. Chung quanh pháp tòa không nên để cái gì hết, sau giảng sư làm tấm màn vàng, một lá cờ Phật giáo làm cho nổi bật.
- Không nên để hai người ngồi trên pháp tòa, làm chi phối cặp mắt thính giả.
Có nhiều nơi tổ chức, vì muốn cho thính giả ấm cúng, ban tổ chức biến nó thành ngục thất, thiếu ánh sáng và làm nghẹt thở.
Không gì bất tiện bằng thuyết pháp về đêm mà bỗng nhiên tắt điện.
Ngược lại thì có nơi trống trãi, rộng rãi quá…, có chỗ thì bật đèn sáng cho pháp tòa còn thính giả thì tối om.
Khi nói, giảng sư cần nhìn thính giả để biết phản ứng của họ. Một nụ cười cảm tình của họ không làm cho mình cao hứng sao? Nếu họ bất mãn cũng biết mà tìm cách mua lại trong họ cảm tình. Nếu dưới thính giả để tối om thì làm sao nắm bắt được những hình ảnh cử chỉ ấy?
Tóm lại, tuy giảng sư không liên hệ với ban tổ chức, song phải để ý đến những gì có thể tạo nên thất bại một buổi giảng.
- GIỜ THUYẾT GIẢNG: Giờ thuyết giảng thường thường không được vị giảng sư định như ý. Chùa hay ban tổ chức mời giảng vào dịp nào đó, vì thế mình khó chọn được thời gian thích hợp theo ý muốn. Tuy nhiên, điều căn bản phải thấy rằng ngày nghĩ thích hợp hơn ngày làm việc, buổi tối hơn buổi sáng, buổi sáng hơn buổi chiều, buổi chiều hơn buổi trưa.
Tóm lại tối kỵ nhất là buổi trưa.
III. Trong Khi Giảng:
1. GIỚI THIỆU: thường khi sắp lên pháp tòa có mấy lời giới thiệu của Ban tổ chức hay vị đại diện tại địa phương. Chuông trống Bát Nhã cung thỉnh giảng sư.
Việc cung thỉnh giảng sư có nơi làm rườm rà quá, có nơi lại quá đơn giản cũng làm cho giảng sư giảm đi một phần hứng khởi hay hồi hộp.
Người giới thiệu thì lè nhè tràng giang đại hải, đôi khi họ dựa vào đề tài của mình rồi bàn rộng ra rồi toát yếu, thấy cái gì khó hiểu họ giải thích, tiếp đó ca tụng giảng sư một cách lố bịch. Nói huyên thiêng, nói hoài không chịu thôi. Có nhiều lúc giaảng sư phải đứng bên họ hết mỉm cười, phải nhìn lên trần nhà, sốt ruột chờ đợi.
Cần giới thiệu không? Không cần khi thính giả đã biết tên tuổi của giảng sư quá nhiều, giới thiệu thêm nhiều mà lố bịch. Chỉ cần giới thiệu khi thính giả không biết mình là ai. Giới thiệu để thính giả tin tưởng và tạo cảm tình từ lúc ban đầu.
Nhưng đừng để người giới thiệu vì nể nang mà giới thiệu to quá, ngược lại với tin tưởng, cảm tình thành ra thiếu thiện cảm.
Nếu bị thổi phồng nhiều quá, việc đầu tiên của mình là nói ít lời khiêm tốn, gần như chối từ với thính giả rằng “tôi thật chưa xứng đáng gì với lời giới thiệu…”
Tuy nhiên, đã không giới thiệu thì thôi, còn định giới thiệu thì đừng nói cộc lốc “Đây ông X… Đây Đại đức…”
Tóm lại: Lời giới thiệu cần: 1) rõ rệt; 2) đầy đủ; 3) tế nhị; 4) vắn tắt; 5) duyên dáng.
2. PHẢI NỞ MỘT NỤ CƯỜI: Khi viết ta chỉ diễn tả tư tưởng bằng lời, bằng nét bút. Khi nói không những diễn tả bằng lời mà bằng tất cả giọng nói cử chỉ, bằng tất cả bề ngoài của ta nữa.
Giờ quan trọng tới: Khoan thai bước lên pháp tòa cùng một lúc với 3 hồi chuông trống Bát Nhã. Hai người bưng Lễ hay Bình hoa đi trước với bao nhiêu niềm tôn kính, dưới thính giả hàng ngàn cặp mắt đang chăm chăm nhìn thẳng vào mình… Hồi hộp, nhưng phải giữ lại tư thế, đi nghiêm trang, mắt nhìn thẳng, ngực hơi đưa ra trước. Đầu ngẫng lên và nụ cười nở trên môi.
Thử tưởng tượng mình sắp được hoằng truyền một chân lý mà mình hằng ấp ủ, hằng thiết tha hôm nay mới có dịp tung lồng ngực trước hàng ngàn thính giả và biết đâu đấy, trong những người ngồi dưới kia đang tò mò nhìn ngắm, tìm hiểu ta?
Có người nào dại dột khi gieo hạt giống mà không hy vọng không? Không vui tươi khi hột giống đã nẩy mầm không? Vậy, hãy mỉm cười, vả lại, một nụ cười không mất tiền mua, không mất vốn mà lợi rất nhiều. Nó là nhịp cầu đầu tiên nối mình với thính giả. Nhờ nó mà chưa nói với thính giả nửa lời, vị giảng sư đã gây được thiện cảm với quần chúng rồi.
Nếu còn hồi hộp, cười để sự hồi hộp tan biến. Chỉ trong vài phút sau là tim sẽ hết đập, hết ngượng ngịu và sẽ hăng hái, thao thao bất tuyệt.
Đừng tự ty mặc cảm, đừng nghĩ rằng dưới đó còn nhiều người giỏi hơn ta, phải nghĩ rằng: “họ chỉ biết vấn đề này, mà không biết vấn đề khác”, nhưng cười thực là tế nhị, nếu không khéo thì cái cười ấy sẽ là dịp để buổi giảng mình thất bại. Thính giả sẽ bàn tán: “Thầy mà làm duyên”! Nghiêm trang quá thì sống sượng mà không thu hút được cảm tình trong thính giả. Hãy nói: “Vấn đề quá tế nhị tôi xin nhường lại cho mỗi vị sau này tự tìm hiểu” rồi tự đặt mình trong vị trí và nụ cười thích hợp.
3. KHIÊM TỐN: Một thái độ không thể thiếu bất kỳ lúc nào, nhất là khi đứng trên pháp tòa. Khiêm tốn không những làm vừa lòng khán giả mà còn làm tăng thêm giá trị của mình.
4. ĐỪNG LẶP ĐI LẶP LẠI.
5. ĐỪNG LÀM THÍNH GIẢ NGƯỢNG: Tránh những lời, những câu chuyện làm cho thính giả ngượng ngùng.
6. TRÁNH GIỌNG SƯ TÀNG: nghĩa là giọng nói, thái độ tỏ ra ngoài mình không còn ai nữa (tự cao).
7. ĐỪNG CHO MÌNH LÀ BÁCH KHOA TỰ ĐIỂN.
8. ĐỪNG KIÊU KHÍ.
9. ĐỪNG TỰ QUẢNG CÁO.
10. ĐỪNG CHỈ TRÍCH.
11. ĐỪNG NÓI NGHỊCH, CHỐNG CHẾ.
12. ĐỪNG NHẠO BÁNG.
13. ĐỪNG VỤNG VỀ, MỜ Ớ.
14. PHẢI BIẾT KHEN.
15. PHẢI BIẾT ĐỔI GIỌNG, ĐỔI THÁI ĐỘ.
IV. Những nguyên nhân thất bại của một buổi giảng.
a. Thời gian: Tổ chức một buổi giảng phải hợp với hoàn cảnh địa phương. Làm sao Phật tử có thể đi dự thuyết pháp vào những giờ làm việc được nếu tại đó đa số là công chức, giữa mùa nếu đa số là nghề nông? Những giờ nóng bức quá thì bất tiện, nhưng cũng đừng quên lưu ý những mùa mưa gió lầy  lội. (Trừ trường hợp đặc biệt Phật Đản, Vu Lan v.v…)
b. Địa điểm:
- Pháp tòa gần nơi náo nhiệt quá (gần chợ, gần đường xe chạy v.v…) thì giảng sư đại tài đến đâu cũng khó thành công.
- Phòng chật quá, lại nóng bức thính giả ngồi sao yên?
- Phòng rộng quá, thính giả lại quá ít làm sao giảng sư giảng hấp dẫn được?
- Không cho ghế cho thính giả ngồi (trong phòng hay trên mãnh đất không mấy tốt).
- Coi chừng quạt máy (nơi ít thoáng khí), chỉ quạt cho một số người, còn thì ngồi toát mồ hôi.
- Thính giả đông nhưng đa số là con nít dưới 10 tuổi, đã thế lại đứng trước hoặc ngồi trước.
- Tổ chức giảng trước hoặc sau văn nghệ.
c. Âm thanh: Một vấn đề không thể không lưu ý, vì chính nó đóng góp quan trọng nhất trong buổi giảng. Micro hỏng, nghẹt, máy để gần phòng giảng. Auparleur ít quá, chỉ bắt miệng Auparlur đưa ra phía trước mà không dành một cái đối diện trước pháp tòa.
d. Ánh sáng:
1. Sáng quá làm chói mắt người giảng và thính giả.
2. Lờ mờ khó chịu.
đ. Bài giảng:
Chỉ có những bậc thiên tài mới có thể nói dài mà không làm thính giả ngán. Mà ngay các vị ấy, nếu muốn bảo vệ uy tín lâu dài cũng không được phép nói quá dài.
Hầu hết mỗi buổi giảng thành công đều phải nói trong thời gian vừa phải: 2 giờ tối đa, 40 phút tối thiểu. Đừng để đến lúc thính giả sửa cà vạt, coi đồng hồ, ngáp, ăn trầu v.v… mới lo kết lụân.
Phải làm sao cho thính giả ra về còn thấy tiếc.
-Tránh lối kết mà không kết lại tán rộng thêm ra.
-Nếu  kéo dài đến hai tiếng hoặc hơn thế nữa là chỉ dùng trong trường hợp dành thì giờ cho thính giả chất vấn (nhưng điều này cũng cần cẩn thận).
-Đế tài giảng không hợp với trình độ, không hợp với thời gian hoàn cảnh, nói cách khác hơn khế lý mà không khế cơ.
-Phù hợp với thính giả bình dân mà không hợp với trí thức. Phải xem xét căn cơ của họ hướng về tu thiền hay tu tịnh độ, thích sinh hoạt xã hội hay thích tụng niệm.
-Dùng ngoại nhữ quá nhiều làm cho thính giả có mặc cảm không tốt. Vì thế, nên cần dùng một cách khéo léo để chứng minh mà thôi.
-Thiếu căn bản giáo lý – Bài giảng rời rạc.
e. Tác phong: nhiều vị vừa bước lên pháp tòa đã bị tiếng xầm xì, vì thính giả thấy tướng phát ghét. Bộ mặt vút vắt nhún vai, khạc nhổ, lối đi có vẻ phàm tục quá. Mở lời ra lại biểu lộ tánh kiêu căng. Thính giả sáng tai lắm. Họ hiểu ngay bụng dạ người thuyết giảng và thành kiến ngay với những điều sắp giảng. Nếu ta sơ hở một vài tác phong ghẻ lở.
- Thành thật và tiết độ để gây thiện cảm hơn hết. Đừng tự hạ mình thái quá, vì thái quá thành ra giả dối, đừng thổi phồng khách sáo quá, vì  thổi phồng khách sáo quá không ai kính phục.
- Không có điệu bộ là thất bại, nhưng thái quá thành ra lố bịch khó coi, khó chịu nhất là vừa ra bộ nhướng mắt, vừa nói lời sỗ sàng thiếu dè dặt, thiếu kín đáo, không hợp với giáo lý.
- Hấp tấp, vội vàng, uống nước bị sặc, sặc rồi ho, ho rồi nói, tiếng ra chưa khỏi miệng lại ho tiếp… làm thính giả cười rầm.
Tóm lại, một vài cử chỉ nhỏ nhặt, nếu sơ ý vụng về có thể làm tổn hại đến buổi giảng không ít.
g. Rờ tai và 120 tiếng chúng ta:
Có nhiều vị rất tài, nhưng không thể khỏi có một vài tật. Rờ tai hay nói tiếng chúng ta quá nhiều, có vị rờ mũi hoặc nói tiếng ĐÓ THÌ LÀ RẰNG, VẬY THÌ v.v… nhiều quá. Có nhiều thính giả họ lưu ý những tật ấy, rồi ghi lại, đồng thời làm trò cười cho thính giả khác, bằng cách nhắc lại những tiếng và diễn tả lại những tật đó một cách mỉa mai. Không trách thính giả khó n vì nếu đặt mình trong vị trí thính giả thì sao? Chắc cũng không khỏi phiền, vì thế cần lưu ý chữa những tật ấy càng sớm càng tốt.
h. Giảng như đọc sách: Thực ra giảng là nói lại những điều có đôi khi hàng thính giả đã biết rồi, mà nếu giảng như gió, bài hay như vặn máy thu thanh để nghe thì khó thu thập được vì nếu chỉ cần biết thì người ta mua sách về nhà đọc, đâu cần phải đi nghe giảng
Trừ trường hợp đặc biệt những buổi giảng hay của các vị Hòa Thượng, Thượng Tọa cao cấp đầy đủ uy tín, giới hạnh, ngoài ra phải biết tâm lý quần chúng không mấy bình tâm để gắng nghe nếu sự diễn đạt ấy không có gì khác lạ, không có một biệt tài nào để lôi cuốn họ, vì thế, tránh lối giảng như đọc sách, như học sinh trả bài.
i. Kể chuyện:
Kể chuyện quả là một phương pháp tối cần giúp cho nghệ thuật diễn giảng được phong phú. Nhưng nếu không đạt được một nghệ thuật kể chuyện cao, nghĩa là kể thiếu mạch lạc, thiếu duyên dáng, đưa chuyện vào bị trơ trẽn, sống sượng, làm cho câu chuyện từ thâm thúy tế nhị đến buồn cười vô duyên, là thất bại rồi.
Câu chuyện có ý nghĩa, có kết thúc cả một buổi giảng và làm cho thính giả dễ nhận, dễ nhớ hơn. Tại sao không trau dồi thêm nghệ thuật kể chuyện, nếu chưa được tinh vi?.
k. Đạo văn: Có thể thất bại vì ăn trộm văn của người khác. Họ thuộc bài giảng của người khác rồi nói lại y nhưnthế, hoặc ăn cắp của người này một đoạn, người khác một đoạn lắp thành bài giảng của mình. Đành rằng ai cũng phải ăn cắp, nhưng nên nhớ, ăn cắp cũng là một nghệ thuật, nói cách khác là ăn cắp một cách khéo léo và tế nhị.
L. Âm điệu và giọng nói:
Thực ra là vấn đề này đòi hỏi ở bản tính mỗi vị, cái sẵn có nơi mỗi người đã trở thành thói quen.
Tuy nhiên trong buổi giảng mặc dù lời lẽ hay đến đâu, tác phong đẹp biết mấy, hoàn cảnh chung làm hoàn cảnh thuận tiện nhưng nếu giọng nói không được ấm, nói giọng nói cà lăm. Nói chậm quá hay nhanh quá, uốn giọng đổi tiếng làm mất tự nhiên thì dù muốn dù không cũng làm giảm sút giá trị một buổi giảng.
Tóm lại nghệ thuật giảng muốn đạt được thành công, gieo nhiều âm hưởng tốt đẹp và lâu dài, đòi hỏi vị giảng sư phải chịu khó am tường giáo lý sâu sắc, bồi bổ sức khỏe, trau dồi tư cách tác phong. Thường xuyên nghiên cứu sưu tầm, chịu khó nhận chuyện bình phẩm của người khác.
Tránh mọi tự ái, tự kiêu, tự đại, tự phụ và những tật vụn vặt(nếu có).
Được như vậy, chính công trình tu học trong nhiều năm không đến nỗi buông lỏng quá đáng.
Qua phần lý thuyết đến phần thực hành cần đòi hỏi nhiều khó khăn và tế nhị. Với tư cách một người anh, đã từng bước qua những đoạn đường cam go của nghệ thuật, rút tỉa được ít nhiều kinh nghiệm, tôi xin trao lại anh em. Kết quả hay không còn thiện chí và khả năng sáng tạo của anh em nữa.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.ASTRALIA,SYDNEY.21/3/2019.

Monday, March 18, 2019

Đôi điều suy nghĩ về công tác hoằng Pháp.


Đức Phật thì có “Viên âm” nên Ngài thuyết giảng tất cả mọi loài đều nghe được ai cũng muốn nghe và tin nhận vâng làm. Chúng ta ngày nay không có viên âm như phật, nhưng về phương pháp Hoằng Pháp chúng ta nên truyền tải giáo pháp bằng “Mỹ âm” tức là lời nói đi đôi với việc làm  hay thân giáo phải song hành với khẩu giáo.
Trong suốt chiều dài lịch sử hơn 2500 năm từ khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo đến nay, đạo Phật đã được đức Đạo sư và chư Tổ tiếp nối truyền bá trên thế giới như một sức sống mãnh liệt. Sự nghiệp Hoằng pháp bắt đầu từ bài pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển, bánh xe Chính pháp bắt đầu được vận hành từ đức Thế Tôn đến năm anh tôn giả Kiều Trần Như. Cử chỉ thanh thoát uy nghiêm của Ngài đã chuyển hóa tâm thức các thầy Tỳ kheo khi xưa và sau đó bài pháp Tứ Diệu Đế đã đưa các vị đó lên hàng thánh quả A La Hán. Điều này chứng minh cho chúng ta một bài học kinh nghiệm quý báu muốn truyền bá chính pháp của đức thế tôn việc trước tiên là thân giáo sau đó là khẩu giáo.
Trên tinh thần đó chúng ta thấy nhiệm vụ Hoằng pháp vô cùng quan trọng. Đạo Phật có được phát triển hay không, rực rỡ như ánh bình minh hay lui vào bóng tối của đêm đen là do trách nhiệm Hoằng pháp của sứ giả Như lai, Hoằng pháp không có nghĩa là chỉ có thuyết giảng trên pháp tòa hay dạy ở các trường Phật học như nhận thức của một số người hiện nay mà còn phải thể hiện qua cuộc sống sinh hoạt của bản thân hàng đệ tử Phật trong mọi phương diện khác nhau, ngôn ngữ, oai nghi tế hạnh, nếp sống khiêm cung từ hòa, làm cho giáo lý của đức phật hòa nhập vào cuộc sống con người hướng con người tới chân thiện mỹ. Như thế mới đạt được chọn vẹn lý tưởng Hoằng pháp lợi sinh mà đức Phật đã chỉ dạy, Hoằng pháp đóng một vai trò như người nhạc trưởng, một vị tiên phong mở đường, phải có sự kiên trì dũng mãnh cùng với sự từ bi trí tuệ như gương sáng của ngài Phú Lâu La đã phát nguyện trước đức Phật: “Con đến đó truyền bá Chính pháp, dù có khó khăn trở ngại, mất mạng đi nữa cũng quyết không từ chối sứ mạng mà đức Thế Tôn đã giao phó…”.
Chính vì thấy rõ tầm quan trọng của việc Hoằng pháp lợi sinh nên mỗi người đệ tử phải tự phát huy và nỗ lực tu tập, tìm hiểu mở rộng kiến thức Phật học mới có thể chuyển hóa tâm thức nghiệp chướng nhiều đời nhiều kiếp của con người, xóa tan màn vô minh tăm tối về ngã chấp và kiến chấp sai lầm của con người.
Từ đó giúp cho con người có được cuộc sống cởi mở sáng sáng suốt, trong sạch, như viên ngọc lưu li để trong nước, biến chuyển những chất độc hại thành liều thuốc bổ dưỡng có lợi ích cho con người, xã hội, giáo pháp của đức Phật từ đó sẽ được lan tỏa từ người này sang người khác một cách bền vững lâu dài.
 
Trong thời đại văn minh tiến bộ của các ngành khoa học nhất là sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin ngày nay, người Hoằng pháp phải đứng vững lập trường, đào sâu nhưng tinh hoa giáo lý của đức Thế Tôn, nói đúng và trung thực những điều Phật dạy, thuần túy không thiên lệch như vị cam lồ tươi mát sẽ đánh thức tâm thức của chúng sinh. Hoằng pháp như thế là lấy cái trung thực thắng cái giả dối, lấy trí tuệ thắng vô minh dùng sư tử âm để làm khiếp sợ và cảm hóa tất cả thú rừng. Đó là cái dũng cái hùng của người Hoằng pháp.
Đạo Phật được lưu truyền và tồn tại trên thế gian này là nhờ vào sự nỗ lực truyền bá của chư vị Tổ sư. Ngày nay đệ tử Phật xuất gia cũng như hàng phật tử tại gia thấy rõ trách nhiệm và tầm quan trọng trong việc truyền bá Chính pháp của đức Thế Tôn không phải việc nhất thời mà phải có kế hoạch lâu dài và phải gắn liền với đời sống tu tập, như thế mới đạt được trọn vẹn lý tưởng Hoằng pháp lợi sinh như đức Phật đã chỉ dạy ngay sau khi thành lập tăng đoàn. “Hãy ra đi, các Tỳ kheo, đem lại sự tốt đẹp cho nhiều người, đem lại sự hạnh phúc cho nhiều người.
Vì lòng từ bi hãy đem lại sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại. Mỗi người hãy đi một ngả, này hỡi các Tỳ kheo, hãy Hoằng dương giáo Pháp, toàn hảo ở giai đoạn đầu, toàn hảo ở giai đoạn giữa, toàn hảo ở giai đoạn cuối cùng, toàn hảo cả hai, tinh thần văn tự”.
Đức Phật thì có “Viên âm” nên Ngài thuyết giảng tất cả mọi loài đều nghe được ai cũng muốn nghe và tin nhận vâng làm. Chúng ta ngày nay không có viên âm như Phật, nhưng về phương pháp Hoằng pháp chúng ta nên truyền tải giáo pháp bằng “Mỹ âm” tức là lời nói đi đôi với việc làm  hay thân giáo phải song hành với khẩu giáo. Người đệ tử phật luôn thể hiện được đức từ bi trong lời nói bên cạnh sắc tướng khả quan làm cho mọi người ai cũng kính phục hoan hỷ vui vẻ nhận thức trở về con đường an vui giải thoát.
Nhiệm vụ Hoằng pháp là nhiệm vụ cao cả, bằng hành động trong thân hoằng, khẩu hoằng và ý hoằng, người đệ tử phật chúng ta cùng nhau phát huy mọi điều kiện để hoàn thiện chức năng Hoằng Pháp tự thân hay chính mình và tất cả mọi người trên tinh thần vô ngã vị tha của đạo Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.19/3/2019.

Chương 4: HOẰNG PHÁP 2: NGUỒN ĐẠO LÝ.

1. Định nghĩa
Người hoằng pháp phải có một nguồn đạo lý sung mãn tràn đầy để có thể chia sẽ với mọi người mãi mãi. Khi mọi người tiếp chuyện hoặc nghe ta giảng thuyết, họ thấy rõ ta thật sự có trí tuệ sâu sắc, thật sự nhìn vấn đề tinh tế, không phải nói như học thuộc lòng. Khi tiếp chuyện với ta, mọi người cảm thấy được lợi ích, được sự thú vị, giải quyết được một số điều trong cuộc sống.
Muốn như vậy, ta phải tạo cho mình một nguồn đạo lý vô tận ở bên trong vì công việc hoằng pháp là trách nhiệm suốt đời của người đệ tử Phật.
2. Học hỏi
Để có đạo lý trong tâm mình, dường như trước hết ta phải học hỏi rất nhiều. Những giáo lý căn bản phải được học là từ kinh tạng nguyên thủy ban đầu của Phật như luật Nhân quả Nghiệp báo, Tứ Diệu đế, Bát Chánh đạo, Mười hai Nhân duyên, Ngũ căn Ngũ lực, Tứ Niệm xứ... Đây là những chân lý không thể sai lầm mà chư Phật khi xuất thế đều phải tuyên giảng. Dù sau này ta có học thêm được những đạo lý mới nào khác thì điều bắt buộc là giáo lý đó không được trái với những giáo lý nguyên thủy trên đây. Có một quan điểm rất đáng buồn là nhiều tông phái sau khi tiếp nhận những giáo lý mới, đã xa rời giáo lý gốc khiến cho sự tu hành trong đạo Phật lệch dần qua ngoại đạo tà kiến mà không hay. Ngày nay, nhờ các phương pháp sử học hiện đại, chúng ta hiểu thêm về giá trị của kinh điển nguyên thủy cao quý biết chừng nào. Vì vậy, tuy hệ thống kinh tạng Nikaya có vẻ khó hiểu và cô đọng, ta vẫn phải quyết tâm nghiên cứu tường tận để thiết lập một chánh kiến cho cuộc đời tu hành của mình.
Song song với việc tu hành theo năm tháng để có kinh nghiệm, đạo tâm của ta ngày càng phát triển, ta sẽ bắt đầu nghiên cứu học hỏi kinh tạng phát triển Đại thừa. Nếu kinh tạng Nikaya nhấn mạnh đến sự tinh tấn cho những người thiện căn dày dặn thì kinh tạng Đại thừa nhấn mạnh đến sự bồi tạo công đức song song với việc thúc liễm nội tâm. Kinh Đại thừa kết hợp sự nhiếp tâm bên trong và công đức hóa độ chúng sinh bên ngoài. Đây là quan điểm cực kỳ tiến bộ của Phật giáo trong thời kỳ phát triển. Những người thực hành theo quan điểm đó thì được gọi là Bồ tát, nhưng Bồ tát cũng có nhiều mức độ quả vị khác nhau. Ý niệm về thời gian của Bồ tát là vô nghĩa vì Bồ tát không bao giờ đòi hỏi phải nhanh chóng chứng ngộ. Đây là dấu hiệu của trí tuệ cao xa. Tuy nhiên, nhiều bài kinh thuộc hệ thống đại thừa lại hay nói về Nghĩa Không của vạn hữu và gây hiểu lầm lớn, khiến cho nhiều người trở nên thụ động, không quan tâm đến việc gây tạo công đức và giáo hóa chúng sinh. Điều này khiến cho đạo Phật suy yếu dần. Chỉ những ai có khả năng nhìn xuyên qua khỏi những chữ "Không" đó thì mới thấy cả một chân trời hạnh nguyện vô tận của Bồ tát.
Kế nữa, chúng ta học các luận bản của các vị Đại sư về sau này, cả Nam tông và Bắc tông để theo dõi sự ứng dụng của những thời đại sau Phật, và cận đại. Dĩ nhiên ta không có thời gian nghiên cứu tất cả kinh luận của Phật giáo vì sự đồ sộ phong phú trong đó, nhưng ta sẽ chọn những luận bản tiêu biểu nhất để xem qua. Ta cũng hiểu vì sao bắt đầu có sự phân phái của Đạo Phật kéo dài đến hôm nay. Ban đầu đạo Phật chỉ là duy nhất, nhưng theo kiến giải và hoàn cảnh mỗi nơi mỗi lúc mà tông phái xuất hiện. Ta cũng hiểu là ta không được phép gây thêm sự ngăn cách giữa các tông phái nữa, mà phải đi tìm sự hợp nhất trở lại cho một đạo Phật chung đồng về sau.
Tông phái nào buộc lòng phải nói mình là hay nhất; kinh điển nào cũng phải nói mình là thù thắng nhất, và đó là chuyện bình thường. Ta phải bình thản thoát ra ngoài những lề thói đó để khách quan xem xét mọi thứ, chứ không vì lời tán dương đó mà ta tự hạn cuộc mình trong một góc cạnh nhỏ bé nào. Một bản kinh dù hay đến đâu cũng không thể đại diện cho toàn bộ chân lý của Phật; một tông phái dù hay đến đâu cũng không thể bao trùm hết mọi đạo lý của Phật. Ta phải luôn nhắm đến một đạo Phật chung đồng cho muôn đời sau.
3. Tham khảo
Ngoài kinh luận của Nguyên thủy và Đại thừa phải học hỏi, chúng ta phải tham khảo thêm các kiến thức của khoa học thế giới. Dĩ nhiên khoa học chưa phải đã khám phá đến tận cùng chân lý của vũ trụ, nhưng những điều mà khoa học đã tìm thấy vẫn luôn là mực thước vững chắc. Đó cũng là tinh hoa trí tuệ của loài người qua biết bao nhiêu thời đại. Nếu ta ngạo mạn khinh thường khoa học tức là ta xem thường trí tuệ của loài người, và quả báo là nhiều đời sau ta sẽ không có trí tuệ.
Khoa học có 2 loại: Tự nhiên và Nhân văn.
Khoa học tự nhiên gồm các môn Hóa, Vật lý, Toán, Sinh vật, Địa lý, Kỹ thuật, Môi trường,...
Khoa học Nhân văn gồm các môn Sử, Xã hội, Văn, Triết, Luật, Đạo Đức, Tâm lý...
Dĩ nhiên không ai có đủ thời gian và khả năng để tìm hiểu hết mọi môn học như thế, nhưng người làm công tác hoằng pháp phải biết căn bản mỗi môn như thế. Chính nhờ kiến thức tương đối rộng rãi đó mà khi thuyết giảng, giáo lý ta nói ra có thể chặt chẽ, hợp lý, và phù hợp với văn minh của nhân loại. Như vậy người trí thức mới có thể được thuyết phục để chấp nhận lời nói của ta. Điều ta phải cám ơn Phật là Phật đã để lại cho muôn đời một hệ thống chân lý tuyệt vời khiến cho khoa học càng tiến bộ thì đạo Phật càng được sáng tỏ, không giống như một số tôn giáo bị lạc hậu khi khoa học tiến bộ.
Đối với những ai giỏi Toán thì lại càng là một lợi thế cho công việc hoằng pháp. Người giỏi Toán biết gạn lọc về đạo lý và lý luận khi họ còn là học Tăng hay học Ni. Đến khi bắt đầu đi giảng dạy, họ luôn cẩn thận khi đưa ra một luận cứ, có nhìn trước nhìn sau, rào trước đón sau. Chính họ đã tự phản biện để tìm chỗ sơ hở của mình trước khi đưa một bài giảng ra với công chúng. (sẽ nói tiếp về sau). Vì vậy lý luận của họ rất vững chắc.
Tạp chí sách báo xuất bản định kỳ cũng là nguồn tham khảo tốt cho người làm công tác hoằng pháp. Ta có thể chọn một vài tạp chí hay tờ báo có uy tín để xem đều đặn giúp cho ta theo dõi được diễn biến xảy ra ở mọi nơi. Không phải ta xem để thỏa mãn tính tò mò, mà để đối chiếu giữa giáo lý đạo Phật với tình hình xã hội. Giáo lý sẽ trở nên khô khan và thiếu thực tế nếu ta không chịu thường xuyên đối chiếu với tình hình thế giới. Mỗi khi nghe về một diễn biến xã hội, ta phải suy luận xem Nghiệp báo đã chi phối như thế nào, phải đánh giá xem loài người còn thiếu đạo lý gì, phải tự hỏi xem đạo Phật cần phải làm những gì trong hiện tình như thế. Ai biết thường xuyên đối chiếu giữa giáo lý và diễn biến xã hội sẽ là một giảng sư tài ba của tương lai.
Ví dụ khi ta nghe nói về chuyện các nhà sư Phật giáo ở miền Nam Thái lan bị bọn Hồi giáo chặt đầu, ta phải suy nghiệm trên 5 phương diện như sau:
- Nhân quả riêng của nhà sư đó ra sao.
- Sự cực đoan dã man của Hồi giáo do đâu mà có.
- Đạo Phật sẽ như thế nào nếu Hồi giáo cứ sử dụng bạo lực để lấn chiếm dần giống như thế kỷ thứ 8.
- Đạo Phật phải làm gì để tự bảo vệ trước việc Hồi giáo lấn dần bằng bạo lực.
- Có thể thay đổi giáo lý Hồi giáo được không...
Rồi ta tự tìm câu trả lời.
Hoặc khi ta chứng kiến một người ít học mà có thể di chuyển cả những công trình phức tạp sang nơi khác, độc đáo hơn cả những người có bằng cấp, thì ta cũng tự suy nghiệm xem nhân duyên gì đã đem đến điều đó.
Nếu ta luôn luôn biết đối chiếu tình hình thế giới với giáo lý đạo Phật thì ta sẽ có nguồn đạo lý vô tận trong việc thuyết giảng mai sau. Nhược điểm của lối học kinh điển mà không đối chiếu với đời sống chung quanh đã khiến cho Tăng Ni sinh ra trường không đáp ứng được với tâm tình của quần chúng.
Vô số những chuyện xảy ra chung quanh ta đều là cơ hội cho ta suy nghiệm đạo lý. Chính sự đối chiếu thường xuyên như vậy khiến cho đạo lý trong tâm ta được củng cố và phát triển đến vô hạn.
4. Kinh nghiệm tu hành
Tu hành có ý nghĩa rộng rãi từ chuyện sửa chữa lỗi lầm nội tâm sâu kín, đến công phu nhiếp tâm trong thiền định, đến đời sống tử tế với mọi người, đến giải quyết mọi chuyện phức tạp trong đời sống.
Trước hết, tu hành có nghĩa là hoàn thiện đạo đức, dù bất cứ tôn giáo nào, bất cứ vị trí nào. Ai cũng có những khuyết điểm về đạo đức và ai cũng có bổn phận phải hoàn thiện đạo đức của mình. Người nào không có mục tiêu hoàn thiện đạo đức bản thân tức là người ác. Chắc chắn người đó sẽ làm khổ nhiều người chung quanh mình và cuối cùng đưa chính mình về đau khổ.
Trong quá trình hoàn thiện đạo đức bản thân, ta sẽ vượt qua rất nhiều khó khăn chướng ngại, và như vậy, sẽ có rất nhiều kinh nghiệm đầy mồ hôi nước mắt. Ví dụ khi ta phải chiến đấu với sự ích kỷ, ta phải tập san sẽ hy sinh, phải chịu cực khổ để giúp người, phải chấp nhận gánh vác nhiều trách nhiệm cho người. Những điều như vậy hoàn toàn không phải dễ làm.
Từng chút chiến đấu với chính mình để giành lấy điều thiện làm cho ta có kinh nghiệm xác thực, hơn hẳn sự thụ động êm ả trong lý thuyết. Sau này khi hướng dẫn cho người khác, ta sẽ nói được mạch lạc, chi tiết, sâu sắc và rất thuyết phục. Đây là giá trị căn bản của người hoằng pháp. Nhiều người lầm tưởng cho rằng cứ học thật nhiều rồi sẽ giảng hay. Thực tế đã chứng tỏ là không phải vậy. Do đó ai nặng lòng với sự nghiệp hoằng pháp phải biết tu sửa chính mình rất nhiều.
Kế đến là công phu nhiếp tâm trong thiền định. Nhập định tức là thoát ra khỏi bản ngã dần dần. Bản ngã là gì? Bản Ngã là cái tôi, từ cái tôi này mà ta phải tham lam thù hận biết là bao nhiêu; rồi từ tham lam thù hận, ta đã tạo vô số nghiệp để bị trôi lăn trong luân hồi mãi mãi. Vì thế, người càng thoát khỏi bản ngã chừng nào càng thánh thiện chừng nấy. Đỉnh cao của sự tu hành trong đạo Phật chính là chấm dứt bản ngã hoàn toàn. Người thoát khỏi bản ngã thì cũng thoát luôn luân hồi tái sinh, nghĩa là giải thoát thật sự.
Nếu đạo đức cho ta cái nền tảng của sự tu hành thì sự nhiếp tâm trong thiền định cho ta cái cốt lõi chính của sự tu tập, với điều kiện ta phải lấy mục tiêu diệt trừ bản ngã, không chọn lầm mục tiêu khác.
Trên bước đường gian nan tu tập thiền định, ta phải đối diện với sự phản kháng của bản ngã mình rất nhiều lần, rất tinh vi. Mỗi khi ta tiến bộ trong việc nhiếp tâm một chút thì lập tức ta cũng cảm thấy tự hào hơn một chút, và có nghĩa là bản ngã vẫn chiến thắng. Sự tinh tế sâu sắc trong việc nhận diện bản ngã luôn tìm cách trỗi dậy giúp ta có những kinh nghiệm cực kỳ phong phú, và trí tuệ sáng ra từng ngày. Do đó, sau này hướng dẫn giảng thuyết, ta sẽ trình bày rất tỉ mỉ sâu sắc.
Ta phải nhớ nguyên lý này, càng thoát ra khỏi bản ngã chừng nào, ta càng thánh thiện chừng nấy, và càng có trí tuệ chừng nấy. Chính trí tuệ này sẽ giúp ta rất nhiều trong công việc hoằng pháp ở mai sau.
Một công việc khác, cũng được gọi là tu hành, chính là sự đối xử tử tế với mọi người.
Tu là cái gì nếu ta không thể đối xử tử tế với mọi người chung quanh? Dĩ nhiên muốn đối xử tử tế với mọi người, ta phải thành công trong việc hoàn thiện đạo đức trước đã, cũng như đã thoát dần bản ngã bởi công phu thiền định.
Tuy nhiên khi thật sự đối diện ứng xử với con người, bỗng nhiên ta gặp nhiều sự khác biệt vì tâm tình con người rất khác nhau. Ngay cả trong chính chúng ta, sự khác nhau giữa suy nghĩ và hành động cũng là rất đáng kể. Ví dụ, ta khởi lên được suy nghĩ rằng ta sẽ chia sẽ vật chất với ai gặp khó khăn thiếu thốn; nhưng khi thật sự gặp người đang thiếu thốn, ta lại bị một loạt các yếu tố khác tác động khiến ta bị do dự trong việc giúp đỡ họ. Có thể là lúc đó ta không có nhiều tiền lắm, hoặc người đó thiếu phước quá, tâm người đó hẹp hòi quá khiến ta ngần ngại không thương nổi. Hoặc có khi số tiền ta hạn chế mà người cần được giúp thì nhiều hơn, vân vân...
Thực tế không dễ dàng như ta nghĩ, dù ta chỉ muốn làm điều tốt. Nhưng khi đã quyết tâm sống thương yêu tử tế với người thì ta sẽ vượt qua những khó khăn đó để làm được điều tốt đẹp cho con người. Chính những lúc vượt qua khó khăn để sống tử tế với người, ta lại càng có thêm kinh nghiệm đạo lý để nói với người sau.
Rồi trong cuộc sống bình thường, ta phải giải quyết biết bao nhiêu công việc, phải va chạm với biết bao nhiêu con người. Phải giải quyết mọi việc làm sao cho phù hợp với đạo lý Phật dạy từng chút một là cả một trí tuệ và thích thú. Nếu lúc nào ta cũng tỏ ra hiền lành nhẫn nhịn lại có khi sai với đạo lý vì sự cứng rắn đôi khi rất cần thiết. Đó cũng là lý do tại sao chư Tổ đã đưa hình tượng Hộ pháp cầm gươm đứng trước cửa chùa. Rồi phải luôn luôn bình tĩnh, không nóng giận, không hơn thua, không tham lam... để nói năng hay xử lý công việc mới có thể đúng với đạo được. Bề dày qua nhiều năm tháng cố gắng xử lý mọi việc đúng với đạo lý khiến cho ta hiểu đạo sâu xa hơn. Đây cũng là một yếu tố làm tăng trưởng nguồn đạo lý của nội tâm ta phong phú hơn.
5. Kinh nghiệm hoằng pháp
Cuối cùng là khi bước ra làm công tác hoằng pháp, ta lại còn nhiều cơ hội để rút tỉa kinh nghiệm. Biết bao nhiêu tình huống, bao nhiêu căn cơ, bao nhiêu nhân duyên khiến cho việc hoằng pháp rất thú vị mà cũng rất phức tạp.
Chỉ riêng đi tìm giáo lý đề tài cho hay đã là khó rồi, ngoài ra ta còn phải đối phó với những sự ganh tị, bất đồng, ngờ vực của nhiều người khác. Chưa kể là thời đại hôm nay các tôn giáo cạnh tranh chiêu dụ tín đồ, sẵn sàng bí mật mưu hại những người ưu tú của Phật giáo.
Phải nói là một người muốn làm sứ giả cho Như Lai phải chịu rất nhiều khó khăn cay đắng. Nhiều năm qua đạo Phật ta chọn cách thức hành đạo ít năng động truyền bá, chỉ lo xoay vào trong. Bây giờ tình hình rất khác, không thể duy trì đường lối cũ nữa.
Khi cuộc sống êm ả thanh bình, mọi người đều hướng về Phật Pháp thì ta chuyên sâu tu tập để tìm sự chứng ngộ tâm linh là đúng; nhưng khi cuộc sống nhiễu nhương, Phật Pháp bị đe dọa bởi các tôn giáo cực đoan, còn rất nhiều người chưa biết đến Phật Pháp thì ta phải chọn lối tu Đại thừa, nghĩa là hiểu rằng việc thúc liễm nội tâm vơí việc giáo hóa chúng sinh chỉ là duy nhất không thể tách rời.
Câu hỏi: Làm sao để có nguồn đạo lý vô tận giáo hóa chúng sinh?HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.19/3/2019.