Monday, March 18, 2019

Chương 4: HOẰNG PHÁP 2: NGUỒN ĐẠO LÝ.

1. Định nghĩa
Người hoằng pháp phải có một nguồn đạo lý sung mãn tràn đầy để có thể chia sẽ với mọi người mãi mãi. Khi mọi người tiếp chuyện hoặc nghe ta giảng thuyết, họ thấy rõ ta thật sự có trí tuệ sâu sắc, thật sự nhìn vấn đề tinh tế, không phải nói như học thuộc lòng. Khi tiếp chuyện với ta, mọi người cảm thấy được lợi ích, được sự thú vị, giải quyết được một số điều trong cuộc sống.
Muốn như vậy, ta phải tạo cho mình một nguồn đạo lý vô tận ở bên trong vì công việc hoằng pháp là trách nhiệm suốt đời của người đệ tử Phật.
2. Học hỏi
Để có đạo lý trong tâm mình, dường như trước hết ta phải học hỏi rất nhiều. Những giáo lý căn bản phải được học là từ kinh tạng nguyên thủy ban đầu của Phật như luật Nhân quả Nghiệp báo, Tứ Diệu đế, Bát Chánh đạo, Mười hai Nhân duyên, Ngũ căn Ngũ lực, Tứ Niệm xứ... Đây là những chân lý không thể sai lầm mà chư Phật khi xuất thế đều phải tuyên giảng. Dù sau này ta có học thêm được những đạo lý mới nào khác thì điều bắt buộc là giáo lý đó không được trái với những giáo lý nguyên thủy trên đây. Có một quan điểm rất đáng buồn là nhiều tông phái sau khi tiếp nhận những giáo lý mới, đã xa rời giáo lý gốc khiến cho sự tu hành trong đạo Phật lệch dần qua ngoại đạo tà kiến mà không hay. Ngày nay, nhờ các phương pháp sử học hiện đại, chúng ta hiểu thêm về giá trị của kinh điển nguyên thủy cao quý biết chừng nào. Vì vậy, tuy hệ thống kinh tạng Nikaya có vẻ khó hiểu và cô đọng, ta vẫn phải quyết tâm nghiên cứu tường tận để thiết lập một chánh kiến cho cuộc đời tu hành của mình.
Song song với việc tu hành theo năm tháng để có kinh nghiệm, đạo tâm của ta ngày càng phát triển, ta sẽ bắt đầu nghiên cứu học hỏi kinh tạng phát triển Đại thừa. Nếu kinh tạng Nikaya nhấn mạnh đến sự tinh tấn cho những người thiện căn dày dặn thì kinh tạng Đại thừa nhấn mạnh đến sự bồi tạo công đức song song với việc thúc liễm nội tâm. Kinh Đại thừa kết hợp sự nhiếp tâm bên trong và công đức hóa độ chúng sinh bên ngoài. Đây là quan điểm cực kỳ tiến bộ của Phật giáo trong thời kỳ phát triển. Những người thực hành theo quan điểm đó thì được gọi là Bồ tát, nhưng Bồ tát cũng có nhiều mức độ quả vị khác nhau. Ý niệm về thời gian của Bồ tát là vô nghĩa vì Bồ tát không bao giờ đòi hỏi phải nhanh chóng chứng ngộ. Đây là dấu hiệu của trí tuệ cao xa. Tuy nhiên, nhiều bài kinh thuộc hệ thống đại thừa lại hay nói về Nghĩa Không của vạn hữu và gây hiểu lầm lớn, khiến cho nhiều người trở nên thụ động, không quan tâm đến việc gây tạo công đức và giáo hóa chúng sinh. Điều này khiến cho đạo Phật suy yếu dần. Chỉ những ai có khả năng nhìn xuyên qua khỏi những chữ "Không" đó thì mới thấy cả một chân trời hạnh nguyện vô tận của Bồ tát.
Kế nữa, chúng ta học các luận bản của các vị Đại sư về sau này, cả Nam tông và Bắc tông để theo dõi sự ứng dụng của những thời đại sau Phật, và cận đại. Dĩ nhiên ta không có thời gian nghiên cứu tất cả kinh luận của Phật giáo vì sự đồ sộ phong phú trong đó, nhưng ta sẽ chọn những luận bản tiêu biểu nhất để xem qua. Ta cũng hiểu vì sao bắt đầu có sự phân phái của Đạo Phật kéo dài đến hôm nay. Ban đầu đạo Phật chỉ là duy nhất, nhưng theo kiến giải và hoàn cảnh mỗi nơi mỗi lúc mà tông phái xuất hiện. Ta cũng hiểu là ta không được phép gây thêm sự ngăn cách giữa các tông phái nữa, mà phải đi tìm sự hợp nhất trở lại cho một đạo Phật chung đồng về sau.
Tông phái nào buộc lòng phải nói mình là hay nhất; kinh điển nào cũng phải nói mình là thù thắng nhất, và đó là chuyện bình thường. Ta phải bình thản thoát ra ngoài những lề thói đó để khách quan xem xét mọi thứ, chứ không vì lời tán dương đó mà ta tự hạn cuộc mình trong một góc cạnh nhỏ bé nào. Một bản kinh dù hay đến đâu cũng không thể đại diện cho toàn bộ chân lý của Phật; một tông phái dù hay đến đâu cũng không thể bao trùm hết mọi đạo lý của Phật. Ta phải luôn nhắm đến một đạo Phật chung đồng cho muôn đời sau.
3. Tham khảo
Ngoài kinh luận của Nguyên thủy và Đại thừa phải học hỏi, chúng ta phải tham khảo thêm các kiến thức của khoa học thế giới. Dĩ nhiên khoa học chưa phải đã khám phá đến tận cùng chân lý của vũ trụ, nhưng những điều mà khoa học đã tìm thấy vẫn luôn là mực thước vững chắc. Đó cũng là tinh hoa trí tuệ của loài người qua biết bao nhiêu thời đại. Nếu ta ngạo mạn khinh thường khoa học tức là ta xem thường trí tuệ của loài người, và quả báo là nhiều đời sau ta sẽ không có trí tuệ.
Khoa học có 2 loại: Tự nhiên và Nhân văn.
Khoa học tự nhiên gồm các môn Hóa, Vật lý, Toán, Sinh vật, Địa lý, Kỹ thuật, Môi trường,...
Khoa học Nhân văn gồm các môn Sử, Xã hội, Văn, Triết, Luật, Đạo Đức, Tâm lý...
Dĩ nhiên không ai có đủ thời gian và khả năng để tìm hiểu hết mọi môn học như thế, nhưng người làm công tác hoằng pháp phải biết căn bản mỗi môn như thế. Chính nhờ kiến thức tương đối rộng rãi đó mà khi thuyết giảng, giáo lý ta nói ra có thể chặt chẽ, hợp lý, và phù hợp với văn minh của nhân loại. Như vậy người trí thức mới có thể được thuyết phục để chấp nhận lời nói của ta. Điều ta phải cám ơn Phật là Phật đã để lại cho muôn đời một hệ thống chân lý tuyệt vời khiến cho khoa học càng tiến bộ thì đạo Phật càng được sáng tỏ, không giống như một số tôn giáo bị lạc hậu khi khoa học tiến bộ.
Đối với những ai giỏi Toán thì lại càng là một lợi thế cho công việc hoằng pháp. Người giỏi Toán biết gạn lọc về đạo lý và lý luận khi họ còn là học Tăng hay học Ni. Đến khi bắt đầu đi giảng dạy, họ luôn cẩn thận khi đưa ra một luận cứ, có nhìn trước nhìn sau, rào trước đón sau. Chính họ đã tự phản biện để tìm chỗ sơ hở của mình trước khi đưa một bài giảng ra với công chúng. (sẽ nói tiếp về sau). Vì vậy lý luận của họ rất vững chắc.
Tạp chí sách báo xuất bản định kỳ cũng là nguồn tham khảo tốt cho người làm công tác hoằng pháp. Ta có thể chọn một vài tạp chí hay tờ báo có uy tín để xem đều đặn giúp cho ta theo dõi được diễn biến xảy ra ở mọi nơi. Không phải ta xem để thỏa mãn tính tò mò, mà để đối chiếu giữa giáo lý đạo Phật với tình hình xã hội. Giáo lý sẽ trở nên khô khan và thiếu thực tế nếu ta không chịu thường xuyên đối chiếu với tình hình thế giới. Mỗi khi nghe về một diễn biến xã hội, ta phải suy luận xem Nghiệp báo đã chi phối như thế nào, phải đánh giá xem loài người còn thiếu đạo lý gì, phải tự hỏi xem đạo Phật cần phải làm những gì trong hiện tình như thế. Ai biết thường xuyên đối chiếu giữa giáo lý và diễn biến xã hội sẽ là một giảng sư tài ba của tương lai.
Ví dụ khi ta nghe nói về chuyện các nhà sư Phật giáo ở miền Nam Thái lan bị bọn Hồi giáo chặt đầu, ta phải suy nghiệm trên 5 phương diện như sau:
- Nhân quả riêng của nhà sư đó ra sao.
- Sự cực đoan dã man của Hồi giáo do đâu mà có.
- Đạo Phật sẽ như thế nào nếu Hồi giáo cứ sử dụng bạo lực để lấn chiếm dần giống như thế kỷ thứ 8.
- Đạo Phật phải làm gì để tự bảo vệ trước việc Hồi giáo lấn dần bằng bạo lực.
- Có thể thay đổi giáo lý Hồi giáo được không...
Rồi ta tự tìm câu trả lời.
Hoặc khi ta chứng kiến một người ít học mà có thể di chuyển cả những công trình phức tạp sang nơi khác, độc đáo hơn cả những người có bằng cấp, thì ta cũng tự suy nghiệm xem nhân duyên gì đã đem đến điều đó.
Nếu ta luôn luôn biết đối chiếu tình hình thế giới với giáo lý đạo Phật thì ta sẽ có nguồn đạo lý vô tận trong việc thuyết giảng mai sau. Nhược điểm của lối học kinh điển mà không đối chiếu với đời sống chung quanh đã khiến cho Tăng Ni sinh ra trường không đáp ứng được với tâm tình của quần chúng.
Vô số những chuyện xảy ra chung quanh ta đều là cơ hội cho ta suy nghiệm đạo lý. Chính sự đối chiếu thường xuyên như vậy khiến cho đạo lý trong tâm ta được củng cố và phát triển đến vô hạn.
4. Kinh nghiệm tu hành
Tu hành có ý nghĩa rộng rãi từ chuyện sửa chữa lỗi lầm nội tâm sâu kín, đến công phu nhiếp tâm trong thiền định, đến đời sống tử tế với mọi người, đến giải quyết mọi chuyện phức tạp trong đời sống.
Trước hết, tu hành có nghĩa là hoàn thiện đạo đức, dù bất cứ tôn giáo nào, bất cứ vị trí nào. Ai cũng có những khuyết điểm về đạo đức và ai cũng có bổn phận phải hoàn thiện đạo đức của mình. Người nào không có mục tiêu hoàn thiện đạo đức bản thân tức là người ác. Chắc chắn người đó sẽ làm khổ nhiều người chung quanh mình và cuối cùng đưa chính mình về đau khổ.
Trong quá trình hoàn thiện đạo đức bản thân, ta sẽ vượt qua rất nhiều khó khăn chướng ngại, và như vậy, sẽ có rất nhiều kinh nghiệm đầy mồ hôi nước mắt. Ví dụ khi ta phải chiến đấu với sự ích kỷ, ta phải tập san sẽ hy sinh, phải chịu cực khổ để giúp người, phải chấp nhận gánh vác nhiều trách nhiệm cho người. Những điều như vậy hoàn toàn không phải dễ làm.
Từng chút chiến đấu với chính mình để giành lấy điều thiện làm cho ta có kinh nghiệm xác thực, hơn hẳn sự thụ động êm ả trong lý thuyết. Sau này khi hướng dẫn cho người khác, ta sẽ nói được mạch lạc, chi tiết, sâu sắc và rất thuyết phục. Đây là giá trị căn bản của người hoằng pháp. Nhiều người lầm tưởng cho rằng cứ học thật nhiều rồi sẽ giảng hay. Thực tế đã chứng tỏ là không phải vậy. Do đó ai nặng lòng với sự nghiệp hoằng pháp phải biết tu sửa chính mình rất nhiều.
Kế đến là công phu nhiếp tâm trong thiền định. Nhập định tức là thoát ra khỏi bản ngã dần dần. Bản ngã là gì? Bản Ngã là cái tôi, từ cái tôi này mà ta phải tham lam thù hận biết là bao nhiêu; rồi từ tham lam thù hận, ta đã tạo vô số nghiệp để bị trôi lăn trong luân hồi mãi mãi. Vì thế, người càng thoát khỏi bản ngã chừng nào càng thánh thiện chừng nấy. Đỉnh cao của sự tu hành trong đạo Phật chính là chấm dứt bản ngã hoàn toàn. Người thoát khỏi bản ngã thì cũng thoát luôn luân hồi tái sinh, nghĩa là giải thoát thật sự.
Nếu đạo đức cho ta cái nền tảng của sự tu hành thì sự nhiếp tâm trong thiền định cho ta cái cốt lõi chính của sự tu tập, với điều kiện ta phải lấy mục tiêu diệt trừ bản ngã, không chọn lầm mục tiêu khác.
Trên bước đường gian nan tu tập thiền định, ta phải đối diện với sự phản kháng của bản ngã mình rất nhiều lần, rất tinh vi. Mỗi khi ta tiến bộ trong việc nhiếp tâm một chút thì lập tức ta cũng cảm thấy tự hào hơn một chút, và có nghĩa là bản ngã vẫn chiến thắng. Sự tinh tế sâu sắc trong việc nhận diện bản ngã luôn tìm cách trỗi dậy giúp ta có những kinh nghiệm cực kỳ phong phú, và trí tuệ sáng ra từng ngày. Do đó, sau này hướng dẫn giảng thuyết, ta sẽ trình bày rất tỉ mỉ sâu sắc.
Ta phải nhớ nguyên lý này, càng thoát ra khỏi bản ngã chừng nào, ta càng thánh thiện chừng nấy, và càng có trí tuệ chừng nấy. Chính trí tuệ này sẽ giúp ta rất nhiều trong công việc hoằng pháp ở mai sau.
Một công việc khác, cũng được gọi là tu hành, chính là sự đối xử tử tế với mọi người.
Tu là cái gì nếu ta không thể đối xử tử tế với mọi người chung quanh? Dĩ nhiên muốn đối xử tử tế với mọi người, ta phải thành công trong việc hoàn thiện đạo đức trước đã, cũng như đã thoát dần bản ngã bởi công phu thiền định.
Tuy nhiên khi thật sự đối diện ứng xử với con người, bỗng nhiên ta gặp nhiều sự khác biệt vì tâm tình con người rất khác nhau. Ngay cả trong chính chúng ta, sự khác nhau giữa suy nghĩ và hành động cũng là rất đáng kể. Ví dụ, ta khởi lên được suy nghĩ rằng ta sẽ chia sẽ vật chất với ai gặp khó khăn thiếu thốn; nhưng khi thật sự gặp người đang thiếu thốn, ta lại bị một loạt các yếu tố khác tác động khiến ta bị do dự trong việc giúp đỡ họ. Có thể là lúc đó ta không có nhiều tiền lắm, hoặc người đó thiếu phước quá, tâm người đó hẹp hòi quá khiến ta ngần ngại không thương nổi. Hoặc có khi số tiền ta hạn chế mà người cần được giúp thì nhiều hơn, vân vân...
Thực tế không dễ dàng như ta nghĩ, dù ta chỉ muốn làm điều tốt. Nhưng khi đã quyết tâm sống thương yêu tử tế với người thì ta sẽ vượt qua những khó khăn đó để làm được điều tốt đẹp cho con người. Chính những lúc vượt qua khó khăn để sống tử tế với người, ta lại càng có thêm kinh nghiệm đạo lý để nói với người sau.
Rồi trong cuộc sống bình thường, ta phải giải quyết biết bao nhiêu công việc, phải va chạm với biết bao nhiêu con người. Phải giải quyết mọi việc làm sao cho phù hợp với đạo lý Phật dạy từng chút một là cả một trí tuệ và thích thú. Nếu lúc nào ta cũng tỏ ra hiền lành nhẫn nhịn lại có khi sai với đạo lý vì sự cứng rắn đôi khi rất cần thiết. Đó cũng là lý do tại sao chư Tổ đã đưa hình tượng Hộ pháp cầm gươm đứng trước cửa chùa. Rồi phải luôn luôn bình tĩnh, không nóng giận, không hơn thua, không tham lam... để nói năng hay xử lý công việc mới có thể đúng với đạo được. Bề dày qua nhiều năm tháng cố gắng xử lý mọi việc đúng với đạo lý khiến cho ta hiểu đạo sâu xa hơn. Đây cũng là một yếu tố làm tăng trưởng nguồn đạo lý của nội tâm ta phong phú hơn.
5. Kinh nghiệm hoằng pháp
Cuối cùng là khi bước ra làm công tác hoằng pháp, ta lại còn nhiều cơ hội để rút tỉa kinh nghiệm. Biết bao nhiêu tình huống, bao nhiêu căn cơ, bao nhiêu nhân duyên khiến cho việc hoằng pháp rất thú vị mà cũng rất phức tạp.
Chỉ riêng đi tìm giáo lý đề tài cho hay đã là khó rồi, ngoài ra ta còn phải đối phó với những sự ganh tị, bất đồng, ngờ vực của nhiều người khác. Chưa kể là thời đại hôm nay các tôn giáo cạnh tranh chiêu dụ tín đồ, sẵn sàng bí mật mưu hại những người ưu tú của Phật giáo.
Phải nói là một người muốn làm sứ giả cho Như Lai phải chịu rất nhiều khó khăn cay đắng. Nhiều năm qua đạo Phật ta chọn cách thức hành đạo ít năng động truyền bá, chỉ lo xoay vào trong. Bây giờ tình hình rất khác, không thể duy trì đường lối cũ nữa.
Khi cuộc sống êm ả thanh bình, mọi người đều hướng về Phật Pháp thì ta chuyên sâu tu tập để tìm sự chứng ngộ tâm linh là đúng; nhưng khi cuộc sống nhiễu nhương, Phật Pháp bị đe dọa bởi các tôn giáo cực đoan, còn rất nhiều người chưa biết đến Phật Pháp thì ta phải chọn lối tu Đại thừa, nghĩa là hiểu rằng việc thúc liễm nội tâm vơí việc giáo hóa chúng sinh chỉ là duy nhất không thể tách rời.
Câu hỏi: Làm sao để có nguồn đạo lý vô tận giáo hóa chúng sinh?HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.19/3/2019.

No comments:

Post a Comment