Saturday, February 27, 2016

Việc đại sự của người xuất gia, những gì nên làm, không nên làm đến đây đều đã nêu rõ. Nắm hiểu được như vậy rồi thì chỉ còn một việc là tự thân mỗi người phải cố gắng quyết chí tu tập hành trì. Ý chí đó phải được xác lập từ lúc xuất gia và không ngừng vun bồi, củng cố qua năm tháng. Có như thế mới mong thành tựu được ý nguyện ban đầu. Bằng không được vậy, thời gian nhanh chóng trôi qua thì hết một đời cũng không thể hé mở được cánh cửa giải thoát.

Như dây leo nương thân cây cao mà lên được tầng cao chót vót, người xuất gia phải biết vững niềm tin nơi Tam bảo, ký thác cả đời mình nương theo Chánh pháp, nhờ đó mới có thể được phần lợi ích cho mình cũng như rộng làm lợi ích cho bao nhiêu người khác. Nếu không gấp rút lo việc tu tập, chẳng những một đời này mất phần lợi lạc mà nhiều kiếp về sau cũng phải chìm đắm trôi lăn trong khổ não.

Được sinh làm người, chỉ cần có quyết tâm thì đạo giải thoát dù khó khăn cũng không phải là không thực hiện được. Nếu người khác đã có thể đạt đến, thì mình cũng nên lập chí làm nên. Không nên tự hạ thấp mình mà nhụt tâm, thối chí.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/2/2016.MHDT.
Người xuất gia nếu có đủ quyết tâm và trí tuệ, có thể chọn theo con đường thẳng tắt của Thiền môn. Đây là con đường cực kỳ khó khăn, nhưng cũng là con đường có thể giúp người tu nhanh chóng thẳng đến bờ giải thoát, vì thế mà nói là “vượt thẳng qua những pháp môn dùng làm phương tiện”.

Điều quan trọng cần nói ở đây là người tu nhất thiết phải hết sức tỉnh táo trong việc tự biết lấy mình. Phải có đủ năng lực, trí tuệ và ý chí quyết tâm trong việc cầu đạo. Chuyên cần nỗ lực trong công phu hành trì, hiểu sâu được tông chỉ, ý thú của Thiền đạo thì mới có thể đi đúng đường mà đạt đến chỗ giải thoát. Bằng như tự cho mình là bậc thượng căn thượng trí nhưng thật ra lại không đủ sức để vượt thẳng đến cội nguồn, thì việc lầm đường lạc lối rất dễ xảy ra.


Thử hình dung như một người quyết chí muốn qua sông, tự lượng biết sức mình rồi mới lao xuống dòng nước để bơi thẳng qua mà chẳng cần nhờ cậy đến thuyền bè. Nếu quả là người trí lực đầy đủ, tất nhiên sẽ rút ngắn được thời gian mà điểm đến cũng không khác chi người đi thuyền. Tuy nhiên, nếu không lượng đúng sức mình thì rõ ràng là bờ kia chẳng bao giờ đến được.

Người tu thiền tự dựa vào sức mình, cầu đạo giải thoát cũng bằng phương tiện thẳng tắt cũng giống như người bơi qua sông kia vậy.

Bằng như tự biết sức mình không thể bơi thẳng qua sông, thì tốt hơn nên nhờ đến thuyền bè, đến người đưa đò... Bằng cách này dù có chậm chạp hơn, nhưng nếu đã quyết tâm thì chắc chắn cũng sẽ có ngày đến được bờ bên kia.

Vì thế, việc tu thiền xưa nay vẫn được thừa nhận là pháp môn tối thượng, huyền diệu hơn hết, nhưng không phải ai cũng có thể có đủ khả năng để nương theo.

Đối với những người không đủ trí lực để nương theo Thiền đạo, nên chọn lấy việc chuyên cần học hỏi, hành trì theo giáo pháp. Theo con đường này cần phải hiểu rõ tông chỉ, nắm vững nghĩa lý trong kinh giáo và theo đó mà rộng truyền giáo hóa cho người khác. Nhờ nương theo việc giáo hóa mà tự mình cũng được phần lợi ích tăng tiến. Như vậy gọi là “tự giác, giác tha”. Cũng lấy việc tự mình tu tập và giáo hóa người khác mà làm phương tiện báo đền ơn đức Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/2/2016.MHDT.
Vì thế, một khi đã quyết chí xuất gia, không sợ thân mình nhiều lỗi, chỉ sợ nết cũ khó chừa. Dù có bao nhiêu thói hư tật xấu mà chịu một lòng nghiêm trì giới luật, học hỏi chuyên cần, thì chẳng lo gì ngày một tinh tấn hơn. Bởi Phật chế giới luật vốn dĩ là vì người có lỗi, không phải dành cho các bậc thánh tịnh hạnh. Chỉ cần một lòng tin tưởng giữ theo, cho dù người có nhiều tật xấu đến đâu rồi cũng dần dần sẽ được trở nên oai nghi thanh tịnh.

Người xuất gia phải xem việc cúng dường của thập phương tín thí như món nợ lớn. Một lòng cầu đạo giải thoát thì không lo gì nợ kia không trả hết; nhưng nếu lơ là giải đãi, quyết chẳng tránh đâu được có ngày phải trả lại đủ cho người từng hạt gạo, cọng rau đã từng thọ nhận.

Tự mình có đủ nhân duyên để đứng vào hàng tăng chúng vốn đã là một phước báu phải tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp, không phải ai cũng dễ dàng có được. Vì vậy mà người xuất gia phải ngày đêm ghi nhớ mục đích đã đề ra cho cả một đời mình, phải rèn luyện cho mình thành bậc pháp khí trụ cột trong đạo pháp. Có như vậy mới không uổng đi chí nguyện ban đầu.

Việc tu tập tuy là phải nương theo sự dẫn dắt của bổn sư, nhưng được gần gũi với những người bạn tốt cũng là điều lợi lạc vô cùng to lớn. Bởi vậy mà so sánh như người “đi giữa đám hơi sương, tuy không ướt áo nhưng lúc nào cũng được ẩm mát”. Với sự dẫn dắt của bậc minh sư, nếu được thêm những bạn đồng tu khéo biết cùng nhau sách tấn thì việc tiến tới trên đường đạo có thể nói là không khó lắm. Lời tục nói: “Chọn bạn mà chơi”, cũng không ngoài ý này.

Người bạn hiền thường hay nói thẳng, vì là muốn giúp điều tốt cho mình. Vì thế, phải biết tự răn mình, biết nhận nghe những lời can gián, phê phán từ người khác. Nếu chỉ muốn được nghe toàn những lời ngon ngọt êm tai, thì việc sa đọa chắc chắn không bao lâu sẽ đến mà thôi.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/2/2016.MHDT.
Tuy rằng tâm nguyện, ý chí của người xuất gia là to lớn không cùng, nhưng nếu không khéo nghiêm trì giới luật, vâng theo lời giáo huấn của bổn sư thì thật rất dễ lầm đường lạc lối. Trong văn này, Tổ sư nêu lên những ý chung, mà khi xét lỗi riêng đời nay không ít người mắc phải.

Lỗi đầu tiên dễ mắc phải nhất là sự tự mãn, kiêu căng. Người xuất gia vừa thọ đại giới xong, oai nghi hình tướng đầy đủ thì ai ai cũng đều cung kính, trân trọng, cho đến những bậc quyền thế của thế gian đôi khi cũng quỳ lạy lễ bái. Nhiều người không biết rằng sự cung kính đó bước đầu vốn dĩ có được chỉ là nhờ nơi hình tướng tăng sĩ, còn oai nghi đức hạnh thật sự của mỗi người là việc không phải tự nhiên có được. Vì không phân biệt được chỗ khác biệt này, nên thay vì chuyên cần tu tập, tinh chuyên giới luật để xứng đáng với cương vị bậc xuất gia, lại sanh tâm kiêu mạn tự cho rằng mình đã có được oai đức hơn người. Nghĩ như thế nên xem việc thập phương tín thí cúng dường chu cấp vật thực cho mình chỉ là chuyện đương nhiên phải vậy! Tâm đã kiêu mạn như thế nên không thể theo con đường khổ hạnh tinh chuyên, chỉ biết sống buông thả theo vật dục, theo những tình cảm thế tục thông thường không khác, quên mất rằng những điều ấy thảy đều là những nguyên nhân chuốc lấy khổ não về sau!

Nếu biết nhớ lại chí hướng lúc xuất gia, nhớ lại những trách nhiệm nặng nề khi bước chân vào con đường xuất thế, thì chẳng thể nào lơ là buông thả được. Phật dạy rằng, người xuất gia lấy đạo nghiệp thay cho sự nghiệp của thế tục, phải biết tự thân tiến mãi không ngừng trên đường tu tập. Bởi vậy luôn phải ghi nhớ trong lòng câu “tam thường bất túc”, “chuyện ăn mặc, ngủ nghỉ đừng bao giờ hưởng thụ đầy đủ”. Nếu chỉ biết mong cầu “no cơm ấm áo” thì thật là uổng phí cả một đời, cho dù có sớm kinh tối kệ thì rốt cùng cũng chẳng có được chút ích lợi gì.

Chỗ nương dựa trước tiên của người xuất gia nhất thiết phải là giới luật. Trước khi Phật nhập Niết-bàn cũng đã ân cần dặn dò hàng đệ tử về sau phải lấy giới luật làm thầy, xem đó như Phật còn tại thế. Thật đáng tiếc có những người tự cho mình là lợi căn thượng trí, chỉ muốn nghiên tầm những nghĩa lý sâu xa mà không chú trọng đến việc tinh chuyên giới luật. Đây là một sai lầm rất lớn mà bất cứ ai khi đã mắc vào đều khó lòng tăng tiến trên đường tu tập. Bởi vì giới luật vốn dĩ là cái nền móng chắc chắn nhất định phải có để thực hành bất cứ pháp môn nào.

Chỉ riêng một việc không nghiêm trì giới luật là gốc của muôn ngàn lỗi lầm sai trái khác. Tự thân chẳng giữ được phép tắc oai nghi, trí huệ cũng không do đâu mà sinh khởi; chẳng những đã không có chút lợi lạc cho riêng mình, lại còn gây cản trở việc tu tập của mọi người chung quanh. Một mai tuổi cao tác lớn, thành bậc lão thành trong tăng chúng nhưng lại chẳng có gì để cho kẻ hậu học noi theo. Có ai đến hỏi nghĩa lý sâu mầu trong kinh điển cũng chẳng biết lấy gì mà giảng giải. Hơn thế nữa, vì tâm kiêu mạn chưa được dứt trừ, nên không thể tự thấy biết lỗi mình, thường đem tâm sân hận mà đáp lại với người muốn giúp mình sửa lỗi. Những sai lầm này, tuy là đối với mỗi người đều có chỗ khác biệt tinh tế, nhưng tựu trung cũng không ngoài những điều mà Tổ sư đã nêu ra trong văn này.

Điều quan trọng được nhấn mạnh ở đây không phải là sự so sánh hơn thua cùng người khác, mà là tính chất khẩn thiết, nhanh chóng của cuộc sống vô thường ngắn ngủi này. Thoắt chốc đời sống đã qua đi, thọ mạng không còn, cái khổ già nua, bệnh hoạn lại có thể ập đến tưởng như trong chớp mắt. Một khi lìa bỏ kiếp này, vốn liếng một đời chẳng có gì để mang theo, liền chịu sự dắt dẫn của nghiệp lực mà trôi lăn vào ác đạo.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/2/2016.MHDT.

Lời nói đầu.


Bài văn này được thiền sư Quy Sơn Linh Hựu viết ra nhằm sách tấn việc tu học của đồ chúng, nên gọi là văn cảnh sách, và lấy tên ngài để làm tựa. Từ xưa nay vẫn gọi là “Quy Sơn cảnh sách văn”.

Mặc dù đã ra đời từ hơn ngàn năm qua nhưng bài văn vẫn còn được truyền tụng, nhờ vào nội dung vô cùng sâu sắc, thâm áo và văn chương súc tích, lưu loát. Không những thế, đây còn là một áng văn rất được trân trọng trong chốn thiền môn, hầu như bất cứ ai khi mới bước chân vào con đường tu học cũng đều phải học thuộc nằm lòng.

Tuy khá ngắn gọn, nhưng tính hàm súc của văn chương đã cho phép bài văn nêu lên rất trọn vẹn chủ đề muốn nói. Bằng một cách diễn đạt gây nhiều xúc cảm thay vì là răn đe, quở trách, những lời khuyên dạy của Tổ sư thật gần gũi và thân thiết, khiến người nghe không khỏi rung động trong lòng.

Hơn thế nữa, cấu trúc văn từ cũng hết sức hoàn chỉnh, âm vận hài hoà, vừa đọc lên đã có thể cảm nhận được phần nào ý văn qua âm điệu. Quả thật là một áng văn trác tuyệt xưa nay ít có.

Với mong muốn giới thiệu cùng quý độc giả một bản văn hay trong văn chương Phật giáo, cũng là để nhắc nhở cho nhau nghe những lời răn dạy của bậc Tổ sư ngày trước, nên chúng tôi không nệ chỗ học kém cỏi, cố gắng chuyển dịch bản văn này sang tiếng Việt để nhiều người có thể dễ dàng tìm đọc.

Ngoài ra, chúng tôi cũng giới thiệu đôi nét về hành trạng của Tổ Quy Sơn – người đã sáng lập ra tông Quy Ngưỡng, một trong các tông phái quan trọng của Thiền Trung Hoa. Qua đó, chúng ta có thể hiểu thêm về giá trị và bối cảnh ra đời của tác phẩm.

Đồng thời, nhằm giúp cho những ai chưa quen thuộc lắm với chữ Hán cũng có thể sử dụng được phần nguyên tác để hiểu sâu hơn nội dung bản văn, chúng tôi cũng biên soạn thêm phần Tham khảo chữ Hán.

Do sở học có giới hạn, chúng tôi biết chắc sẽ không sao tránh khỏi ít nhiều sai sót khi thực hiện công việc này. Tuy nhiên, với tâm nguyện mong muốn cho hết thảy mọi người đều được lợi lạc nhờ nơi sự giáo hóa của chư Phật Tổ, chúng tôi mong rằng sẽ nhận được sự tha thứ, chỉ dạy từ các bậc tôn túc và quý độc giả xa gần. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/2/2016.MHDT.
LỜI KHUYẾN TU CỦA TỔ QUY SƠN LINH HỰU
(QUY SƠN CẢNH SÁCH).
 


1. NHẬN THỨC VÔ THƯỜNG
Vì nghiệp buộc mà nên thân vóc
Do hình hài khó thoát khổ thân
Tinh cha, trứng mẹ tạo nên
Cơm ăn, nước uống, nhờ duyên hình thành.
 
Bốn đại chủng tương quan, tương thuộc
Rồi đồng thời xung khắc lẫn nhau
Vô thường, già, bệnh đến mau
Sớm còn tối mất, giây sau đổi đời.
 
Như sương móc vừa rơi thắm thoát
Nắng đầu ngày bổng chốc thành không!
Giây leo, cây mọc bờ sông
Tuổi đời ngắn ngủi, vô thường đến nhanh.
 
Mỗi tâm niệm diệt sanh chóng mặt
Ngày tháng dường chỉ một sát-na
Kiếp người hơi thở vào ra
Chớ nên bỏ mặc, trôi qua biếng lười.
 
2. LÀM NGƯỜI THONG DONG
Xa cha mẹ, mấy khi phụng dưỡng
Lìa người thân, hương đảng, tông đường
Không còn nghĩa vụ nối dòng
Không màng chính trị, chuyên ròng công phu.
 
Quyết cạo tóc cầu sư học đạo
Giữ niềm chơn, hoằng pháp độ sinh
Chuyển nghiệp đời, quý hòa bình,
Hướng về giải thoát, rộng thênh con đường.
 
Vừa thọ giới tự phong “đại đức”
Chẳng nghĩ công đàn việt cúng dâng
Cơm: thí chủ, của: mười phương
Không tự dưng có, huênh hoang được gì!
 
Ăn vừa dứt, thị phi phù phiếm
Chụm đầu vào toàn chuyện thế gian
Ham vui, ấy chính khổ nhân
Nỗi trôi bao kiếp nhiễm trần, khó thông.
 
Thời gian mất, tháng năm lần lữa
Hưởng thụ nhiều, khó bỏ thói quen
Chạy theo danh sắc hại tâm
Chứa gôm tài vật, lụy thân huyễn này?
 
Xưa Phật dạy các thầy tu sĩ
Đạo trang nghiêm, thân thể tịnh thanh
Chuyện ăn, mặc, ngủ: chớ tham
Thường không đầy đủ; chuyên tâm tu hành.
 
Kẻ phàm tục đắm tham, khó dứt
Tháng ngày trôi, phút chốc bạc đầu.
Mới tu chưa hiểu đạo mầu,
Học tu, tham vấn; chớ sầu áo cơm.
 
3. VƯỢT THÓI PHÀM TỤC
Phật chế Luật khai tâm, chuyển hóa
Gìn oai nghi, sạch tựa tuyết băng
Dừng sai, giới hạnh trắng trong
Hiểu rành điều cấm để không phạm vào.
 
Quyết nuôi dưỡng “tâm đầu” gìn giữ
Tế hạnh đều đầy đủ hành trì
Niệm tâm trong lúc đứng, đi
Vượt qua thói tệ; Tỳ-ni nằm lòng.
 
Buông giới luật, không thông kinh giáo
Uổng một đời, láo ngáo luống trôi
Kệ kinh chẳng chút đoái hoài
Đạo mầu khó ngộ, tháng ngày khổ đau.
 
Tuổi tác lớn, tự cao, bụng rỗng
Không bạn lành; ngạo mạn, huênh hoang
Kinh chẳng thuộc, nghĩa chẳng thông
Chẳng hay tự chủ, buông lung tháng ngày.
 
Quen lớn tiếng, nói lời vô phép
Không kính, nhường hạ lạp thấp cao
Ăn xong dậy trước, bỏ sau
Uống ăn khua bát, ồn ào khó nghe.
 
Trái phép tắc, hạnh tu chẳng có
Ngồi, đứng, đi như thể người đời
Làm thì động chúng, rối bời
Sống không gương mẫu, không ai[1] nễ mình.
 
Được nhắc nhỡ, biện minh đủ lẽ
« Nào tôi tu núi cả, hang sâu »
Không rành pháp Phật nhiệm mầu,
Thói đời vẫn nhiễm, đạo cao chẳng rành.
 
4. KHÔNG HOANG PHÍ CUỘC ĐỜI
Đó là bởi sơ tâm biếng nhác
Chạy theo đời, nhiễm mắc thói đời,
Lớn già, quê kệch, lôi thôi
Gặp việc chẳng biết, hỡi ơi, bí lù.
 
Kẻ hậu học hỏi thưa rát cổ
Chẳng biết gì, nên chả giúp gì
Nói sai kinh, bị người chê
Cho là vô lễ, sân si, lấn người.
 
Một mai bệnh, hỡi ơi, khổ cực
Bao đớn đau trói buộc tấm thân
Sớm lo, tối hoảng tinh thần
Tương lai mờ mịt, biết đường nào đây ?
 
Ra nông nỗi, tiếc đời ta bạc
Đào giếng ư, lúc khát khô mồm ?
Hận mình chẳng sớm tu nhân
Đến khi già bệnh, lỗi lầm triền miên.
 
Khi chết đến, thân liền tan rã
Tâm hoang mang, lo sợ mà thôi
Cũng như lồng thủng chim bay
Tâm do nghiệp kéo, đầu thai tức thời
 
Như con nợ bị lôi, mất sức
Nghiệp nặng ghì, lê bước theo sau
Ác nhiều sinh ở cõi sầu
Thiện sinh cõi phúc, khổ đau giả từ.
 
Dòng tâm niệm trôi đi không dứt
Quỷ vô thường bất giác kề bên
Thời gian không kéo dài thêm
Mạng người sẽ chết, chớ quên điều này. 
 
Trong ba cõi luân hồi khó thoát
Phải tái sinh bao kiếp nỗi trôi
Nghiệp duyên, sinh tử vậy thôi
Trầm luân lên xuống, lâu dài biết bao.
 
Vì thương xót, lòng đau như cắt
Khó nín thinh, khuyên nhắc mấy lời
Chúng ta cách Phật bao đời
Sinh thời tượng pháp, nhiều người chẳng siêng
 
Chẳng quản ngại tài hèn, trí kém
Khuyên người sau tinh tấn tu thân
Nếu không bỏ thói kêu căng
Con đường chuyển hóa xa dần, khó xong.
 
5. GƯƠNG HẠNH THOÁT TỤC
Người tu học hướng phương trời rộng
Thân và tâm khác bọn phàm phu
Nối truyền giống Phật, dẹp ma
Bốn ân quyết trả, cứu ba đường phàm.
 
Chưa được thế, là tăng sĩ dỏm
Hạnh và lời trống rỗng, đáng thương
Tốn hao tín thí, cuống cuồng
Cả đời lựng khựng, tựa nương chỗ nào?
 
Làm tăng sĩ, hạnh cao, tướng đẹp
Do nhiều đời gieo hạt giống lành
Cớ sao chẳng quý thời gian!
Khoanh tay chểnh mãng, bỏ hoang cuộc đời?
 
Sự nghiệp đạo chẳng hoài, lười biếng
Chẳng công phu, tu tiến được sao?
Đời này luống uổng qua mau
Nhân nào quả nấy, đời sau tiêu tàn!
 
Mặc pháp phục, song thân từ giả
Hướng tâm về chí cả, trời cao
Sớm hôm nghĩ nhớ đạo mầu
Tiếc từng giây phút, lúc nào cũng tu.
 
Làm cho được cột nhà Phật pháp
Vì hậu sinh, gương mẫu tấm thân
Giữ gìn phong độ tu hành
Những người như thế xứng hàng chân tăng.
 
Mọi lời lẽ thấm nhuần kinh pháp
Luận đàm gì cũng khớp thánh nhân
Hình dung đỉnh đạc, đàng hoàng
Nêu cao chí khí, thênh thang đạo vàng.
 
Hành trình lớn, cần nương bạn tốt
Gạn đục trong, thanh lọc mắt, tai
Gần nhau, chọn bạn mà chơi
Biết điều chưa biết, sáng ngời thấy nghe.
 
Sanh thân vóc là do cha mẹ
Trưởng thành nhờ thầy cả, bạn hiền
Đi trong sương móc thường xuyên
Tuy không ước áo, lạnh mèm tấm thân.
 
Chơi kẻ ác lớn thêm nghiệp ác
Nhân xấu thường phải chuốt khổ đau
Chết rồi chìm đắm cõi sầu
Trôi lăn nhiều kiếp, biết bao giờ ngừng?
 
6. CĂN BẢN THIỀN TẬP
Lời ngay thẳng trái ngang thính giác
Nghe xong rồi khắc cốt ghi tâm
Vun trồng đức hạnh, ẩn danh
Lánh xa huyên náo, tinh thần sáng trong.
 
Khi đã muốn tham thiền, học đạo
Hãy vượt lên phương tiện sơ môn
Nghiên tầm nghĩa lý tâm tông
Đạo mầu tỏ ngộ, nguồn chơn nằm lòng.
 
Học thầy giỏi, sống nương bạn tốt.
Thiền tông cao khó đạt, khó thông
Dụng tâm tinh tế hết lòng
Chánh nhân đốn ngộ, thoát vòng trầm luân.
 
Đó là thoát hăm lăm cảnh giới
Không kẹt vào ba cõi bụi hồng
Trong ngoài các pháp đều không
Từ tâm biến hiện, danh suông thôi mà!
 
Tâm chẳng dính, sa đà theo cảnh
Thì cảnh nào bám dính được tâm
Nương theo pháp tánh thậm thâm
Chẳng buông, chẳng nắm cảnh trần thong dong.
 
Mắt thấy sắc, tai đương nghe tiếng
Gìn thản nhiên, chẳng vướng cõi lòng
Tích môn và cả bản môn
Ứng dụng đầy đủ, vẹn tròn đạo tâm.
 
Người như vậy xứng danh tu sĩ
Mặc pháp y chẳng phí chút nào
Trên đền đáp bốn ân sâu
Dưới thương ba cõi, dãi dầu độ sanh.
 
Nếu kiếp kiếp giữ tâm không chuyển
Quả Phật kia sẽ chứng được thôi
Ra vào ba cõi độ người
Noi gương mô phạm, cứu đời trầm luân.
 
7. TÂM NGUYỆN NGƯỜI TU
Lối học đó thậm thâm, mầu nhiệm
Lòng dặn lòng, thể nghiệm thực hành.
Hạng trung chưa thể tựu thành
Tâm nghiền thánh giáo, ôn tầm nghĩa chơn.
 
Nắm nghĩa lý, tuyên dương chánh pháp
Độ người sau, báo đáp Phật ân.
Chuyên tu, chớ phí thời gian
Nương công hạnh ấy, làm nhân cứu mình.
 
Biết nương tựa thắng nhân, hạnh tế
Xứng vào hàng pháp khí Tăng đoàn.
Nhìn xem dây sắn quấn quanh
Bám cây tùng bách, ngang tầm trời cao.
 
Để lợi ích, nương vào giới đức
Chớ buông lơi, thiếu sót, lỗi lầm
Giữ gìn phong cách tu tâm
Nhân nào quả nấy, thậm thâm khó lường.
 
Chớ luống uổng tháng năm vô ích
Dòng đời trôi vùn vụt qua nhanh
Quý từng tích tắc thời gian
Quyết lòng tu tiến, ngày càng thăng hoa.
 
Chớ lạm dụng đàn na cung dưỡng
Khó đáp đền bốn trọng ân kia
Chứa nhiều, tâm bít, u mê
Bị đời khinh rẻ, cười chê tháng ngày.
 
« Người trượng phu, ta đây cũng thế
Chớ khinh mình mà tự thoái lui. »
Bằng không luống uổng một đời
Tự ti vô ích cho người và ta.
 
Chí nguyện lớn phát ra mạnh mẽ
Hoài bão hùng, nối chí cao nhân
Chớ theo lè thói hư hèn
Đời ta ta quyết, chớ nương người ngoài.
 
« Dứt vọng thức, buông duyên ngoại tại
Cảnh và tâm hết đối chọi nhau
Tâm không, cảnh tịch: Nhiệm mầu. »
Chỉ vì bế tắc quá lâu, chẳng rành.
 
8. GIÚP NHAU THOÁT KHỎI SINH TỬ
Hãy nghiền ngẫm lời văn Cảnh sách
Giành chủ quyền coi sóc bản thân
Vượt qua lề thói nghiệp trần
Một khi quả trổ, trốn quanh khó lòng.
 
Âm thanh thuận tiếng vang hòa thuận
Hình thẳng ngay, bóng dáng thẳng ngay
Nhân nào quả nấy xưa nay
Không thể không sợ, có ngày đến ta.
 
Kinh đã dạy : « Trải qua ngàn kiếp
Nghiệp đã gieo chẳng mất đi đâu
Nhân duyên hội ngộ, đáo đầu
Ai làm nấy chịu, khổ đau bám rình. »
 
Trong ba cõi, nghiệp hình ràng buộc
Ám hại ta chẳng khác sát nhân
Ngày đêm nỗ lực chuyên cần
Kẻo không, năm tháng trôi nhanh được gì?
 
Thấy họa, tội, tôi đây tha thiết
Khuyên người sau tâm huyết thực hành
Làm bạn đạo khắp tử sinh
Tâm thành ghi lại lời Minh thế này:
 
“Thân huyễn khác nào nhà mộng,
Rỗng không hình hài bóng sắc
Truy nguyên quá khứ không cùng
Hướng về tương lai không chắc.
 
Ẩn hiện nơi này, nơi khác
Lên xuống ba đường cực nhọc
Nếu không thoát khỏi ba vòng
Khổ đau bao giờ mới dứt?
 
Mãi mê tham luyến thế gian
Năm uẩn gặp duyên chồng chất
Từ lúc sinh ra đến chết
Hầu như không gì giữ được!
 
Chỉ vì còn kẹt vô minh
Rốt cuộc chìm trong mê hoặc
Hãy quý từng phút từng giây
Cuộc đời vô thường bất trắc.
 
Đời này luống qua vô ích
Đời sau gặp nhiều ngăn lấp
Vướng kẹt mê này mê khác
Hoành hành đều do sáu giặc.
Qua lại, loanh quanh sáu đường
Ba cõi xuống lên lăn lóc
Quyết chí tầm sư học đạo
Siêng năng nương bậc cao đức.
 
Quán chiếu, làm chủ thân tâm
Diệt trừ tất cả gai góc
Đời như gió thổi mây bay
Trần lao quá nhiều áp lực.
 
Nghiên cứu thực hành Kinh Phật
Quyết lòng đạt được tuệ giác
Đến khi tâm cảnh đều quên
Xóa mờ làn ranh ký ức.
 
Dẹp yên sáu giặc giác quan
Đi, đứng, nằm, ngồi: Tĩnh mặc
Một khi tâm đã không sinh
Muôn pháp trong ngoài đều dứt.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.27/2/2016.MHDT.

Qui Son Canh Sach - HT Thanh Tu Dich - Pháp Âm Giải Thoát

phapamgiaithoat.com/ebook/Qui Son Canh Sach - HT T…DOC file · Web view
Hòa Thượng Thanh Từ Việt Dịch. Nguồn . http://www.thuvienhoasen.org. Chuyển sang ebook 7-6-2009. Người thực hiện : Nam Thiên – namthien@gmail.com.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.27/2/2016.MHDT.

Wednesday, February 24, 2016

Tìm hiểu về "Cách tính Nhập mộ và Trùng tang" .



Theo cổ nhân, sinh gặp giờ, ngày tốt xấu ảnh hưởng tới vận mệnh bản thân còn giờ chết xấu, tốt ảnh hưởng tới con cháu. Đồng thời dân gian cho rằng người chết vẫn luôn quanh quẩn phù hộ độ trì cho cháu con nhưng gặp phải ngày giờ chết xấu hay gặp thần trùng thì ngược lại, hồn lại về "bắt" con cháu song điều đó có thể "hóa giải" đwowcj nhờ việc xem ngày chọn giờ làm các việc liên quan đến tang lễ. Do vậy, ngoài việc xem thân nhân chết có “phạm giờ” không dân ta luôn chú ý nhờ thầy hay tự tính giờ “Nhập mộ”, phòng “Trùng tang” nhằm trấn trùng, hóa giải.
1. Cơ sở tâm linh của việc xem ngày, giờ chết:
Theo quan niệm của dân gian, sự chết được tin là do linh hồn rời khỏi thể xác còn khoa học ngày nay xác định cái chết bằng việc xác định sự ngừng hoạt động của 3 cơ quan là: Phổi, Tim và Não. Nhưng cổ nhân cho rằng, Con người sống gồm hai phần là Hồn 魂 và Thể Phách 魄. Hồn phách (H: 魂魄, A: The soul and astral body, P: L'âme et corps astra, tức linh hồn và chơn thần) dùng thể xác làm nơi trú ngụ. Những người già cả, chết tốt lành đúng số (考終命, khảo chung mệnh) thì hồn rời khỏi xác và không hiện về. Ngược lại một người rơi vào tình trạng hồn rời khỏi xác mà phạm phải năm (tuổi), tháng, ngày hoặc giờ xấu thì linh hồn không siêu thoát được về nơi cực lạc. Khi đó Xác thì trong Mộ mà Hồn của Vong lại lang bang ở ngoài, không nơi không chốn nương nhờ cứ quanh quẩn nơi người thân và bị "ma xui, quỷ khiến" bắt người thân đi.
Phật gíao coi sự chết là Tử (zh. sĭ 死, ja. shi, sa., pi. maraṇa), là sự sinh diệt, thăng trầm của tất cả các hiện tượng, các Pháp. Sự sống và sự chết của con người hay của chúng sinh đều theo luật: Thành (成, hình thành), Trụ (柱, tồn tại duy trì), Hoại (壞, hư hỏng), Không (空, tiêu mất). Đó chính là quy luật tiến hóa của vũ trụ trong cái vòng Trường Sinh.
Trong Tử Vi có ba vòng quan trọng cần để ý là vòng Thái Tuế (an theo Chi năm sinh, Ðịa Chi), vòng Lộc Tồn (an theo Can năm sinh, Thiên Can) và vòng Trường Sinh (an theo Cục, nghĩa là nạp âm của cung an Mệnh). Ở một khía cạnh nào đó, vòng Trường Sinh tiêu biểu cho Mệnh, vòng Lộc Tồn cho Thân và Vòng Thái Tuế cho Hạn.
Theo các sách cũ, vòng Tràng Sinh gồm có 12 sao: Trường sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Khi an vào Địa Bàn, vòng Trường sinh đi liên tục thành một vòng luân hồi phản ánh một đời người bao gồm 12 Kỳ của quá trình sống từ sinh ra đến chết cũng như từ lúc hấp hối đến lúc đầu thai sang kiếp khác:
BẢNG 12 GIAI ĐOẠN VÒNG TRƯỜNG SINH:

GIAI ĐOẠN
CUỘC SỐNG
SỰ CHẾT
Trường Sinh
Con người được sinh ra
Người sống thành thi xác
Mộc Dục
Còn bé cần được chăm bẵm
Mới chết cần được tắm rửa
Quan Đới
Đi học, được dạy dỗ
Được khâm liệm
Lâm Quan
Đi làm, lập danh vọng
Được nhập vào áo quan
Đế Vượng
Cực thịnh về công danh, tiền
Được kèn trống nổi lên
Suy
Chuẩn bị nghỉ việc
Được người nhà khóc thuơng
Bệnh
Nghỉ hưu, ốm đau
Hồn cỏng vảng vất
Tử
Tắt thở
Hồn lìa xác
Mộ
Chôn cất, mồ mả
Hồn, Xác nhập vào lòng đất
Tuyệt
Dứt cuộc sống trần tục
Phần mền thi xác rữa nát
Thai
Đầu thai kiếp khác
Hồn đầu thai nơi khác
Dưỡng
Trong bụng Mẹ
Dưỡng dục thai nhi
Trong 12 thời nói trên, khi ứng dụng cho tang ma, quan trọng nhất các kỳ:
- Mộc dục với việc Tắm rửa cho người chết trước khi khâm liệm;
- Quan Đới, Lâm Quan: Khâm liệm, đặt vào quan tài mà phát tang;
- Mộ với việc đưa người chết về nơi “cư ngụ” mới của họ.
Dựa vào việc xác định ngày, giờ nào hợp với Kỳ nào của vòng trường sinh, có thể định giờ khâm liệm, phát tang, chôn cất cho phù hợp. Việc tính Nhập mộ, Trùng tang cũng vậy.
2. Khái niệm về Trùng tang:
Tồng kết kinh nghiệm, cổ nhân cho rằng trong thực tế, với mỗi người chết sẽ xẩy ra các trường hợp như sau:
- Thiên di: nếu ở Cung : Tý - Ngọ - Mão - Dậu : là dấu hiệu có sự di dời hình thức tồn tại do trời định, là lúc "trời" đưa đi. Dự báo con cháu sẽ phải chia ly, tài sản phân tán, tranh chấp kiện tụng.
- Nhập mộ: khi gặo Cung : Thìn - Tuất - Sửu – Mùi. Là dấu hiệu phải "ra đi", "nằm xuống" vĩnh viễn, không còn liên quan gì đến trần ai. Dự báo vong chết không phạm trùng tang. mãn kiếp sa bà, con cháu làm ăn thịnh vượng, phát tài , sai lộc.
- Trùng tang: nếu gặp các Cung: Dần - Thân -Tỵ - Hợi, Là dấu hiệu "ra đi" không hợp số phận, không dứt khoát, hãy còn "ảnh hưởng" tới trần ai.Dự báo sẽ có người thân chết theo.
Như vậy, "Trùng tang là tình trạng trong thời gian chưa mãn Đại Tang, hoặc chưa mãn tang bà con gần, lại tiếp theo 1 cái đại tang hoặc 1 cái đại tang gần khác". Hoặc có thể gọi trùng tang là tang chủ phải mang ít nhất 2 vòng khăn tang trong cùng một thời điểm. Trong nhà, người thân vừa nằm xuống lại có nguy cơ liên táng là đáng lo ngại. Dân gian cho rằng trùng tang là người qua đời gặp ngày giờ xấu, cần hoá giải để tránh nguy cơ. Trong đó:
- Trùng tang ngày là nặng nhất (Tam xa-7 người chết theo),
- Trùng tang Tháng là nặng nhì (Nhị xa-5 người chết theo),
- Trùng tang Giờ là nặng thứ ba (Nhất xa-3 người chết theo),
- Trùng tang Năm là nhẹ nhất.
3. Chú ý khi tính Nhập mộ, Trùng tang:
Sách Tam giáo Chính Hội viết: “Nam nhất Thập khởi Dần, thuận liên tiến, Nữ nhất Thập khởi Thân, nghịch liên tiến, Niên hạ sinh Nguyệt, Nguyệt hạ sinh Nhật, Nhật hạ sinh Thời. Ngộ Tý - Ngọ - Mão - Dậu Thiên di. Dần - Thân - Tỵ - Hợi Trùng tang. Thìn - Tuất - Sửu - Mùi Nhập mộ cát dã”. Nếu được Tứ nhập mộ thì tránh được trùng tang.
Điểm khởi đầu và thứ tự bấm Cung của Nam và Nữ khác nhau:
* Nam giới: Từ cung Dần khởi thuận chiều kim đồng hồ tính theo thứ tự Dần - Mão - Thìn - Tỵ - Ngọ - Mùi - Thân - Dậu - Tuất - Hợi - Tý - Sửu. Nghĩa là: 10 tuổi tại cung Dần, tiếp 20 tuổi tại Mão, 30 tại Thìn, 40 tại Tỵ, Ngọ: 50 tuổi, Mùi: 60 tuổi, Thân: 70 tuổi, Dậu: 80 tuổi, Tuất: 90 tuổi...
* Nữ giới: Từ cung Thân khởi đi theo chiều ngược kim đồng hồ, theo thứ tự sau: Thân - Mùi - Ngọ - Tỵ - Thìn - Mão - Dần -Sửu - Tý - Hợi - Tuất - Dậu. Nghĩa là : 10 tuổi vào cung Thân, tiếp cung Mùi: 20 tuổi, cung Ngọ: 30 tuổi, cung Tỵ: 40 tuổi, cung Thìn: 50 tuổi, Mão: 60 tuổi, Dần: 70 tuổi, Sửu: 80 tuổi, Tý: 90 tuổi...
* Đồng thời cứ được 1 Nhập mộ trở lên là yên tâm, vì “nhất mộ sát tam trùng” (một Nhập mộ xoá được 3 Trùng tang). Hoặc được 2 Thiên di thì cũng không lo vì “nhị thiên di sát nhất trùng” (2 Thiên di xoá được 1 Trùng tang).
4. Cách tính Nhập mộ:
Có 4 bước tính theo thứ tự: Năm-Tháng-Ngày-Giờ:
Niên nhập mộ: khởi đầu 10 tuổi từ Dần với đàn ông theo chiều Thuận chiều kim đồng hồ; đàn bà khởi đầu từ Thân và Ngược chiều kim đồng hồ. Khi hết tuổi tròn chục các năm lẻ tính vào cung tiếp theo đến tuổi năm người đó mất. Nếu vào cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là được năm nhập mộ.
Nguyệt nhập mộ: tháng Giêng năm mất được bấm liền vào sau cung tuổi cho đến tháng chết. Nếu gặp cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là được tháng nhập mộ.
Nhật nhập mộ: mồng Một tháng mất được bấm liền vào sau cung tháng cho đến ngày chết. Nếu gặp cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là được ngày nhập mộ.
Thời nhập mộ: giờ Tý ngày mất được bấm liền vào sau cung ngày cho đến giờ chết. Nếu gặp cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là được giờ nhập mộ.
Nếu cả năm, tháng, ngày, giờ đều vào một trong các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là được “Tứ nhập mộ”, tốt, tránh được lúc chết vướng phải giờ xấu.
5. Cách tính Trùng tang:
Có 2 cách tính Trùng tang:
- Thứ Nhất, Trùng tang có thể là thời gian lúc mất, trùng năm (như người tuổi Dần mất năm Dần), trùng ngày (như người tuổi Sửu mất ngày Sửu), trùng giờ (như người tuổi Ngọ mất giờ Ngọ).
- Thứ Hai, là cách tính Trùng tang theo Địa Chi giống như tính Nhập mộ kể trên.
Lập Bảng sau dễ nhớ và theo 4 bước:
* Đầu tiên tính tuổi chết theo chẵn chục (10, 20...) khi hết tuổi chẵn tính tiếp các tuổi lẻ theo thứ tự 1,2,3...đến tuổi mất, tính đến đâu thì ghi lại cung đó;
* Sau đó tính tiếp đến tháng chết vào cung ngay sau cung tính năm, khởi từ tháng Giêng, ghi lại cung đó;
* Rồi tính tiếp đến ngày chết vào cung ngay sau cung tính tháng khởi từ ngày mùng 1, ghi lại cung đó;
* Sau cùng đến giờ chết vào cung ngay sau cung tính ngày khởi từ Tý, ghi lại cung đó. Chú ý giờ âm lịch chỉ chia một ngày ra 12 giờ: Tý (23-01 giờ), Sửu (01-03 giờ)...Hợi (21-23 giờ).
Sau khi tính xong thì kết luận.
6. Tổng hợp lại:
Nếu căn cứ vào phép tính Trùng tang như trên thì cả nam và nữ những người chết mà có tuổi âm lịch (=năm Dương lịch hiện tại - năm sinh theo Dương lịch + 1) bằng: 10, 13, 16, 19, 22, 25, 28, 31, 34, 37, 40, 43, 46, 49, 52, 55, 58, 61, 64, 67, 70, 73, 76, 79, 82, 85, 88, 91... sẽ rơi vào trùng tang. Từ đó quy nạp ngược lại theo hệ Can Chi thì những người có tuổi:
- Tý, Ngọ, Mão, Dậu nếu chết vào một trong các năm TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU thì rơi vào trùng tang;
- Hoặc: Dần, Thân, Tỵ, Hợi nếu chết vào một trong các năm DẦN, THÂN , TỴ, HỢI thì rơi vào trùng tang;
- Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nếu chết vào một trong các năm THÌN - TUẤT - SỬU - MÙI có nghĩa là chết vào các năm “xung” (tứ hình xung) sẽ bị trùng tang.
7. Cách hoá giải Trùng tang:
Dân gian cho rằng trùng tang là người qua đời gặp ngày giờ xấu, cần hoá giải, làm cho người "ra đi" không còn "khả năng" gây "ảnh hưởng" xấu đến người thân thiết đang sống.
Tìm 1 bộ bài Tổ tôm cũ (tức là đã chơi cũ rồi) bỏ mấy con Bát sách đi, số còn lại lấy rải đều ở 4 góc quan tài trong lúc đang liệm.
* Dùng bộ bài Chắn gồm 120 quân bỏ 20 quân Yêu đi, tức là bỏ bộ Nhất và bộ Nhị, chứ không bỏ Bát sách. Kèm theo là 1 cuốn lịch Tàu hoặc bộ sách Trương Thiên Sư, và bộ Bùa trùng tang.
* Sau khi tính ra người mất bị phạm trùng tang thì những người thuộc tam hợp chi cùng với chi trùng tang phải tránh mặt lúc liệm xác. VD: trùng tang tại Tị, vậy tam hợp của Tị là Dậu và Sửu bị phạm. Những người thuộc tam hợp tuổi với người mất bị trùng tang phải tránh . VD: người mất tuổi Hợi thì tam hợp Mão Mùi bị phạm. Ngoài tránh mặt lúc "liệm" thì còn cần phải tránh cả lúc "nhập quan", "đóng cá" và đặc biệt là cả tránh lúc "hạ huyệt, lấp đất".
* Trước khi liệm: Dùng 6 lá Linh phù Lục tự Đại minh (OM MANY PADME HUM) có kích thước 31 x 10.5 cm viết theo chiều dọc từ trên xuống dán vào thành trong của quan tài tại đầu, chân, hai bên vai, hai bên hông. Những Linh phù này có tác dụng trấn tà khí của Linh hồn. Khi chôn: Vong Nam 7, Vong Nữ 9 quả trứng vịt đã luộc chín, để trên nắp quan tài trên vùng bụng, dùng một cái niêu đất úp lên trứng, sau đó lấp đất. Cách này dùng để thu nốt những Tà khì còn sót lại. Lưu ý Linh phù được viết trên giấy vàng chữ đỏ.
* Sau khi chôn người ta lại dùng 108 cọc tre đực dóng trên mộ, 36 cọc tre hoá đóng ở nhà. Trên mộ cột thêm 1 con quạ hoặc gà mái đen.
* Một số người còn cho rằng có thể áp dụng phương pháp làm huyệt giả, đổ tỏi vào huyệt khi lấp đất hay dùng thần chú, Bát quái trận đồ trấn âm trạch để hoá giải…
* Trùng nặng thì người ta dùng con cóc màu vàng đang chửa để luyện thành thần tướng hộ vong.
* Trường hợp nặng hơn thì người ta dùng bộ gạo nếp nặn thành 12 ông thần trùng, sau khi làm phép thì dùng dao chặt đầu rồi nặn thành 1 hình nhân, dùng quan tài bằng lúc lác tẩm liệm rồi dùng 1 quả trứng vịt cắm 13 cây kim, đoạn dùng bè chuối; chọn giờ thiên giải thì thả xuôi ra sông.
Nhưng thực ra, “sống” và “chết” chỉ là hai hiện tượng trong tiến trình luân hồi bất tận. Vì thế, về “trùng tang” có lẽ là do tâm tưởng. Nên chuyện hoá giải trùng tang cũng là gỡ đi sự lo lắng trong tâm tưởng của con người. Nhưng tập tục này ăn sâu vào tâm thức mọi người nên không một ai dám coi nhẹ. Do vậy nếu việc xem, trấn yểm, hóa giải không qua phiền phức, tốn kém, vi phạm pháp luật thì cũng không nên gạt bỏ. Âu cũng là một việc tích đức, tu thiện Âm Dương lưỡng lợi càng hay!.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.25/2/2016.MHDT.

Tuesday, February 23, 2016

GIỚI-BỔN NI.


TỨ PHẦN LUẬT TỲ-KHEO NI 348 GIỚI
TỲ-KHEO NI, nữ Khất-Sĩ trong ngày rằm và ba mươi của mỗi tháng phải tựu họp lại học luật, không được vắng mặt, mỗi lần đọc phải từ bốn vị sắp lên (một Tăng là bốn vị, một giáo-hội là hai chục vị)
Sa-di tập-sự phải đi ra
Ai vắng mặt phải có người thay lời.
Chư Tỳ-kheo phải tựu đủ.
Vị thượng tọa nói: Ngay hồi sanh tiền, đức Phật có dạy chư (Tăng) Ni, phải họp mặt nhau một tháng hai kỳ, để khuyên răn sám-hối với nhau, mà giữ-gìn đạo-hạnh, chúng ta cúi đầu, tôn trọng Phật Pháp Tăng. Nay chúng ta hội lại theo lệ cũ, mà chúng ta khéo giữ-gìn, để bảo tồn chánh-pháp luôn luôn.
Giới luật thật là mênh-mông, mênh-mông như biển cả, thật là quí giá, quí giá hơn cả vàng bạc, mà người ta hằng tầm tòi chẳng biết mệt nhọc. Ấy vì muốn bảo tồn cái kho quí của giới luật Phật, nên chúng ta họp nhau lại đây, vậy các chư Ni hãy nghe đây, để khỏi phạm giới to hoặc nhỏ, và các ngài: Chư Phật Tỳ-Bà-Thi, Thích-Khí, Tỳ-Xá, Ca-La-Tôn-Đại, Câu-Na-Hàm-Mưu-Ni, Ca-Diếp, Thích-Ca-Mưu-Ni và các Ngài đại-từ đại-bi, đáng cho chúng-sanh sùng bái, xin các Ngài giúp cho tôi nói, tôi muốn nói những điều tôi phải nói và các chư Ni hãy nghe những lời của người quá khứ ở nơi tôi.
Thiếu chơn không đi được, cũng như thế, thiếu luật, không lên cõi thượng-thiên được. Ai muốn sanh lên cõi trên ngay kiếp nầy, phải giữ giới-luật cho kỹ-càng, vì nó là chơn của mình, đưa mình đi.
Tên đánh xe khi qua truông, thấy mất cái chốt ở bánh xe, hay thấy chốt xe gãy thì nó rầu. Kẻ phạm giới luật cũng thế, đến giờ chết thì rầu lắm. Soi gương vui hay buồn, là tùy ở mặt mình tốt hay xấu, đọc giới-luật cũng như thế, người nghe vui hay buồn, là do nơi mình có giữ giới hay phạm giới. Hai bên nghịch giao-chiến, bên nhác thối lui, cũng như thế ai trong sạch thì vững bụng, ai lầm lỗi phải lo sợ, ông vua hơn mọi người, biển cả hơn các thứ ngòi rạch, mặt trăng hơn các ngôi sao, Phật hơn các Thánh hiền, cũng như thế giới-luật đọc hôm nay hơn các giới-luật khác. Vậy nên Đức Phật của chúng ta có lập cái lệ nầy mà không ai được bỏ qua, mỗi kỳ nửa tháng phải đọc giới-bổn một lần.
Vậy thì các sư Ni, tôi xin đọc Giới-Bổn hãy nghe cho kỹ! Hãy xét cho kỹ! Ai thấy mình phạm phải khai ra, còn ai biết rằng mình vô tội cứ lặng thinh. Các sư Ni mà nín, tôi kết luận rằng ai nấy đều trong sạch, dầu tôi có hỏi chung cũng cầm bằng hỏi riêng từng người. Ai có tội, khi hỏi qua ba lần mà không trả lời, người ấy sẽ phạm giới vọng-ngữ. Phật dạy rằng: Ai vọng-ngữ mà chẳng khai ra, không thể nào tấn tới về đạo-đức chúng ta nên tránh chỗ tai hại đó. Ai còn phạm điều gì, và có muốn thanh-tịnh lại, cứ khai ra…rồi sẽ được an-tâm và vui-vẻ, vậy tôi xin đọc đoạn vô đầu:
TỨ-Y-PHÁP
  1. NHÀ SƯ KHẤT-THỰC: phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải và đồ cũ thì được nhận.
  2. NHÀ SƯ KHẤT-THỰC: chỉ ăn đồ xin mà thôi, những ngày hội, thuyết-pháp, đọc Giới-Bổn, được ăn tại chùa.
  3. NHÀ SƯ KHẤT-THỰC: phải nghỉ dưới cội cây, nhưng nếu ai cúng lều, am nhỏ bằng lá, một cửa thì được ở.
  4. NHÀ SƯ KHẤT-THỰC: chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.
BÁT-KÍNH-PHÁP
  1. Ni-cô bao giờ cũng lễ bái chư Tăng (dầu cho lớn tuổi thế mấy cũng vậy).
  2. Ni-cô không được phép trách mắng rầy rà nói hành chư Tăng.
  3. Ni-cô không được phép xen vào việc ưng oan của chư Tăng.
  4. Ni-cô tập sự hai năm, nếu muốn vào hàng xuất-gia thiệt-thọ phải có Giáo-Hội chư Tăng chứng nhận.
  5. Ni-cô nếu phạm giới phải sám-hối giữa hai Giáo-Hội nữ và nam.
  6. Ni-cô phải nhờ Giáo-Hội chư Tăng chứng-minh đọc Giới-Bổn mỗi kỳ nửa tháng.
  7. Ni-cô không được tựu hội nghỉ mùa mưa ở một xứ không có chư Tăng.
  8. Ni-cô phải nhờ chư Tăng sắp đặt chỗ nơi hành đạo, khi dứt mùa mưa.
TỲ-KHEO NI 348 GIỚI
A.- TÁM ĐẠI GIỚI “TRỤC XUẤT”
  1. Cấm dâm dục.
  2. Cấm trộm cắp.
  3. Cấm sát sanh.
  4. Cấm nói láo.
  5. Cấm rờ, đẩy, kéo một người đàn ông.
  6. Cấm đến gần, hoặc hẹn hò với một người đàn ông.
  7. Cấm dấu tội nặng của một Ni-cô khác.
  8. Cấm a-tùng theo một Ni-cô khác phạm đại-giới.
Bạch các Sư-Ni, tôi vừa đọc xong tám đại-giới, chẳng hay trong các Sư-Ni có ai phạm chăng?
(Hỏi 3 lần)
B.- MƯỜI BẢY GIỚI TỔN HẠI TĂNG TÀN “GIÁNG CẤP”
  1. Cấm làm mai cưới gả, sự hẹn hò.
  2. Cấm cáo gian cô khác một tội gì mà không có.
  3. Cấm nghi quấy cô khác một tội gì mà không có.
  4. Cấm kiện thưa đến quan chức.
  5. Cấm cho nhập đạo một người phạm tội đáng chết.
  6. Cấm binh vực một cô phạm đại giới.
  7. Cấm đi xa một mình.
  8. Cấm vì ý riêng, lãnh của đàn ông những thức cần dùng.
  9. Cấm vì ý riêng, mượn kẻ khác lãnh thế của đàn ông những thức cần dùng.
  10. Cấm dùng cách nầy, thế kia mà phá sự hòa-hợp ở Giáo-Hội.
  11. Cấm bênh vực kẻ phá sự hòa-hợp ở Giáo-Hội.
  12. Cấm không nghiêm, làm quấy ác cho kẻ khác bắt chước.
  13. Cấm cưỡng lý, khi làm quấy mà chẳng chịu nghe lời khuyên bảo.
  14. Cấm giấu lỗi một cô khác vì tình thân.
  15. Cấm đốc xúi những cô khác, bảo đừng nghe Giáo-Hội.
  16. Cấm đốc xúi những cô khác hườn giới.
  17. Cấm gây gổ và phiền trách Giáo-Hội.
Bạch các Sư-Ni tôi vừa đọc xong mười bảy giới tổn-hại vậy chẳng hay trong các Sư-Ni có ai phạm chăng?                                                                                                                      (Hỏi 3 lần)
C.- BA CHỤC GIỚI PHÁ SỰ THANH-BẦN “CẤM PHÒNG SÁU BỮA”
  1. Cấm cất dư chăn áo quá mười ngày.
  2. Cấm bỏ rơi chăn áo trong một đêm.
  3. Cấm để dành vải quá một tháng.
  4. Cấm hỏi xin áo nơi người thí chủ, trừ khi thắc ngặt.
  5. Cầm nhận nhiều chăn áo quá bộ, trừ khi thắc ngặt.
  6. Cấm tự ý kiểu cắt may, khi có một thí chủ định sắm cho.
  7. Cấm tự ý khiểu cắt may, khi có nhiều thí chủ định sắm cho.
  8. Cấm nhận tiền để may áo và hối thúc Giáo-Hội phải may liền.
  9. Cấm nhận tiền bạc vàng hoặc bảo kẻ khác nhận thế.
  10. Cấm buôn bán đồ quí báu.
  11. Cấm buôn bán bất luận vật gì.
  12. Cấm kiếm bát mới tốt nếu cái cũ còn xài được.
  13. Cấm đem chỉ cho thợ dệt xa lạ, dệt áo cho mình.
  14. Cấm ra kiểu ni cho thợ dệt, khi thí chủ dệt áo cho mình.
  15. Cấm giận hờn mà đòi áo lại, khi đã đổi cho người rồi.
  16. Cấm để dành thuốc, dầu, đường quá bảy ngày, trừ khi đau có người cúng.
  17. Cấm lãnh áo trước kỳ, khi đến lệ còn hỏi nửa.
  18. Cấm lấy lén một món gì của Giáo-Hội.
  19. Cấm mua sắm đồ cho một người đàn ông.
  20. Cấm dùng làm của riêng mình, món đồ mà người ta cúng cho Giáo-Hội.
  21. Cấm dùng làm của riêng mình, món đồ mà một cô khác trao ra để giao cho Giáo-Hội
  22. Cấm dùng đồ của thí chủ cho về việc khác, (dùng sái luật đạo không theo ý thí chủ).
  23. Cấm nhơn danh Giáo-Hội mà sắm đồ riêng cho mình.
  24. Cấm có đến hai cái bát để thay đổi.
  25. Cấm chứa nhiều đồ tốt đẹp xuê lịch.
  26. Cấm hứa cho một cô khác, vải bó rịt trong cơn đau mà không cho.
  27. Cấm đổi lấy áo của thí chủ cho, chớ không lấy áo của Giáo-Hội phát, vì áo cho đó tốt hơn.
  28. Cấm bất bình mà đòi áo lại, khi đã cho người rồi.
  29. Cấm dùng may áo mùa Đông bốn xấp vải.
  30. Cấm dùng may áo mùa Hè trên hai xấp rưỡi vải.
Bạch các Sư-Ni tôi vừa đọc xong ba chục giới phá sự thanh-bần, vậy chẳng hay trong các Sư-Ni có ai phạm chăng?                                                                                                            (Hỏi 3 lần)
D.- MỘT TRĂM BẢY MƯƠI TÁM GIỚI HÀNH PHẠT “QUÌ HƯƠNG” 
  1. Cấm cho rằng phải một việc sái.
  2. Cấm chê dè làm cho người rủn chí.
  3. Cấm nói hai lưỡi đâm thọc làm cho người giận nhau.
  4. Cấm ở chung phòng với đàn ông trong một đêm.
  5. Cấm ở chung cùng người chưa thọ giới xuất-gia.
  6. Cấm tụng kinh chung cùng người chưa thọ giới xuất-gia.
  7. Cấm học tội của một Ni-Cô cùng người chưa thọ giới xuất-gia.
  8. Cấm khoe mình đắc đạo có phép thần-thông cùng người chưa thọ đại-giới.
  9. Cấm thuyết pháp với đàn ông năm sáu câu, mà không có đàn bà trí-thức chứng dự.
  10. Cấm đào đất giết thác côn trùng.
  11. Cấm đốn cây phá chỗ thần ở.
  12. Cấm cãi nhiều lời làm cho người phiền nghịch.
  13. Cấm dùng lời chế nhạo và thề thốt.
  14. Cấm dùng đồ của chùa, mà bỏ hư bể.
  15. Cấm dùng đồ của chùa mà không dẹp cất.
  16. Cấm giành chỗ nằm của người khác, khi đi lữ hành.
  17. Cấm đuổi hay sai đuổi khỏi phòng một Ni-Cô không hạp ý mình.
  18. Cấm giăng mùng lót ván để cây rớt trúng người.
  19. Cấm lấy nước dùng mà biết có côn trùng.
  20. Cấm lợp tịnh-thất dùng đồ nhiều quá, chất nặng sập.
  21. Cấm ăn nhiều bữa cơm trong một ngày, trừ khi đau.
  22. Cấm vắng mặt buổi cơm kỳ hội (trừ cơn đau, đi xa, trai tăng, tởi áo).
  23. Cấm lãnh đồ ăn nhiều mà không chia sớt cho vị khác.
  24. Cấm ăn sái giờ, từ quá ngọ đến mai.
  25. Cấm để dành đồ ăn đặng khỏi đi xin.
  26. Cấm dùng và để vào miệng món chẳng phải của cúng dường.
  27. Cấm cố ý làm cho mấy vị khác trễ quá giờ ăn.
  28. Cấm ăn rồi mà ngồi nán lâu nơi nhà có đàn ông.
  29. Cấm lãnh đồ ăn rồi mà còn ngồi lại chỗ kín, nơi nhà có đàn ông.
  30. Cấm ngồi gần đàn ông chỗ chán chường.
  31. Cấm oán ghét kiếm cớ làm cho vị khác bơ-vơ nhịn đói.
  32. Cấm lãnh để nhiều thuốc.
  33. Cấm xem diễn binh tập lính.
  34. Cấm ở chung với quân binh hai ngày, trừ khi có lý cớ gí.
  35. Cấm ưa thích tập tành ngựa, voi, quân binh đấu võ.
  36. Cấm uống rượu men, các thứ rượu, á phiện, thuốc hút, trầu cau.
  37. Cấm tắm rửa một cách quá tự-do và giỡn cợt.
  38. Cấm lấy tay chơn đánh đá người.
  39. Cấm bất tuân và khinh dễ lời quở trách can ngăn.
  40. Cấm dọa nạt làm cho người ta kinh sợ.
  41. Cấm tắm tới hai lần một ngày trong nửa tháng, trừ khi đau dơ nực.
  42. Cấm vô cớ chụm lửa chỗ trống, trừ khi đau lạnh, đêm tối.
  43. Cấm giễu cợt mà giấu, hoặc xúi giấu đồ của người khác.
  44. Cấm lấy lén lại đồ đã cho người rồi.
  45. Chẳng mặc dùng áo chăn đồ vải trắng (chẳng nhuộm xấu).
  46. Chẳng uống nước có côn trùng.
  47. Chẳng cố ý giết mạng thú vật.
  48. Chẳng cố ý làm cho người buồn (mà không khuyên giải).
  49. Chẳng dấu tội của một Ni-Cô khác.
  50. Chẳng khiêu gợi sự rầy rà sau khi đã êm thuận.
  51. Chẳng đi chung với gian nhân (đầu làng nầy tới làng kia).
  52. Chẳng nói dâm dục, không ngăn trở sự thành đạo đắc quả.
  53. Chẳng giao thiệp, đưa đồ, nói chuyện với kẻ nói sái quấy ấy.
  54. Chẳng giữ tại chùa và để hầu mình kẻ nói sái quấy ấy.
  55. Chẳng chối tội hay nói rằng chưa hay kẻ ấy sái quấy.
  56. Chẳng nói phá rằng, đọc Giới-Bổn là phiền hà vô ích.
  57. Chẳng chối tội nói rằng, tại mình không thuộc Giới-Bổn.
  58. Chẳng nói Giáo-Hội nghị xử chẳng công bình.
  59. Chẳng phá khuấy làm gián đoạn buổi hội nghị (đi vắng, đi ra ngoài).
  60. Chẳng cản không cho thi-hành những điều Giáo-Hội đã quyết nghị.
  61. Chẳng học đi học lại chuyện cãi lẫy sau khi đã êm thuận.
  62. Chẳng giận, đánh một Ni-Cô khác.
  63. Chẳng giận xô đẩy, vặn tay một cô khác.
  64. Chẳng giận cáo gian một cô khác phạm giới tổn hại.
  65. Chẳng vào cung vua thình-lình, không chờ đợi nghinh tiếp.
  66. Chẳng lượm, sai lượm của quấy, vật bỏ rơi (trừ khi biết chủ mà giữ giùm).
  67. Chẳng vào làng sái giờ (trừ ra có việc của Giáo-Hội).
  68. Chẳng ngồi ghế cao, nằm giường rộng.
  69. Chẳng dồn ghế, nệm, gối bằng gòn tốt.
  70. Chẳng ăn tỏi, hành, hẹ, nén, kiệu, ngò.
  71. Cấm bất tuân chẳng cạo chơn mày.
  72. Cấm cười bậy.
  73. Cấm nói chuyện thế tục.
  74. Cấm hai cô dùng tay bỡn cợt (trửng giỡn).
  75. Cấm một Ni, một Sư uống nước chung và quạt cho nhau.
  76. Cấm xin cơm mà để giành lại.
  77. Cấm đại tiểu làm dơ cây cối.
  78. Cấm quăng ra ngoài rào, đồ đại tiểu khi đêm.
  79. Cấm đi xem hát.
  80. Cấm nói chuyện với đàn ông chỗ vắng vẻ.
  81. Cấm nói chuyện với đàn ông chỗ chán chường.
  82. Cấm bảo cô khác đi xa để nói chuyện với đàn ông.
  83. Cấm ở nhà cư-gia mà ra đi thình-lình không cho chủ nhà hay.
  84. Cấm vào nhà cư-gia mà chủ nhà chẳng hay biết rồi tự tiện ở đêm nơi đó.
  85. Cấm vào nhà cư-gia mà chủ nhà chẳng hay biết rồi ngồi nằm nơi đó.
  86. Cấm vô nhà người, vào phòng kín với đàn ông.
  87. Cấm đọc bậy với kẻ khác, lời của bà thầy dạy học.
  88. Cấm thề oán tức tối.
  89. Cấm tranh hơn thua, đấm ngực kêu la.
  90. Cấm hai cô nằm chung trừ khi đau.
  91. Cấm hai cô ngủ chung trừ khi cần kíp.
  92. Cấm làm phiền hoặc làm trễ mấy cô khác trong cuộc tụng kinh, hộ niệm, làm lễ giảng đạo.
  93. Cấm chẳng săn sóc người ở gần mình trong cơn đau.
  94. Cấm trong mùa mưa đuổi một cô đi chỗ khác, sau khi mình đã tìm xong chỗ ngụ.
  95. Cấm đi xa lúc mùa mưa (vì làm dơ đồ và giết sâu bọ).
  96. Cấm đã hết mùa mưa mà chẳng đi.
  97. Cấm đi quanh trong vùng nguy hiểm.
  98. Cấm đi quanh trong xứ lộn xộn.
  99. Cấm thân cận và ở chung nhà với đàn ông.
100. Cấm đi xem đền-đài cung-viện của vua.
101. Cấm tắm dưới nước mà chẳng có choàng tắm.
102. Cấm dùng choàng tắm rộng quá thước tấc.
103. Cấm may một cái áo để quá năm ngày.
104. Cấm may áo rồi mà chẳng mặc liền.
105. Cấm nhơn danh Giáo-Hội, phát áo và vải rồi để dành một ít cho mình.
106. Cấm mẳc đồ của một cô khác mà không hỏi trước.
107. Cấm lấy áo của một cô khác mà cho người.
108. Cấm có ý cản trở sự phát áo của Giáo-Hội.
109. Cấm dùng lời nói, cản trở sự phát áo của Giáo-Hội.
110. Cấm làm cách thế cản trở sự phát áo của Giáo-Hội.
111. Cấm có người giải-hòa mà chẳng chịu hòa.
112. Cấm trao tay thí đồ ăn cho kẻ ngoại đạo.
113. Cấm rat ay làm việc nhà cho người cu-gia.
114. Cấm tự tay mình kéo chỉ quay tơ.
115. Cấm nằm ngồi trên giường ván của cư-gia.
116. Cấm nghỉ đêm nơi nhà cư-gia, mà sang sớm đi không cho chủ nhà hay.
117. Cấm đọc chú cho những kẻ pháp phù.
118. Cấm dạy người ta đọc chú.
119. Cấm cho nhập đạo một cô có thai.
120. Cấm cho nhập đạo một cô còn có con nhỏ.
121. Cấm cho nhập hàng Ni-Cô một người chưa đúng hai mươi tuổi tròn.
122. Cấm cho nhập hàng Ni-Cô một người chưa tập sự hai năm.
123. Cấm cho nhập hàng NI-Cô một người phạm đại giới (mặc dầu đúng tuổi và đã tập sự).
124. Cấm cản không cho nhập hàng Ni-Cô một người đã đủ điều kiện.
125. Cấm cho nhập đạo sớm lắm mà chẳng tập-sự.
126. Cấm cho nhập đạo mà chẳng có Giáo-Hội chư Tăng thị nhận.
127. Cấm dấu những sự sơ thất nầy.
128. Cấm đã thâu nhận học trò mà không lo dạy dỗ trong hai năm tập sự.
129. Cấm mới nhập đạo chưa được hai năm mà thâu nhận học trò.
130. Cấm một cô thiếu sức mà truyền giới cụ-túc cho người.
131. Cấm một cô thiếu tuổi mà truyền giới cụ-túc cho người.
132. Cấm một cô thiếu phép mà truyền giới cụ-túc cho người.
133. Cấm phiền trách khi Giáo-Hội chẳng cho phép truyền giới.
134. Cấm nhận một kẻ tập tu vào hàng Ni-Cô thiệt thọ, nếu người nhà kẻ ấy chẳng thuận.
135. Cấm làm cho một thiếu phụ buồn chán sợ-sệt, đặng bỏ gia-đình nhập đạo.
136. Cấm hứa nếu ai dễ dạy thì cho nhập đạo, kế không giữ lời.
137. Cấm hứa nếu ai cúng áo thì cho nhập đạo, kế không giữ lời.
138. Cấm mới nhập đạo chưa được một năm mà thâu nhận người khác cho thọ giới cụ-túc.
139. Cấm sau khi thâu nhận một Ni-Cô mà để qua đêm mới đi trình diện với Giáo-Hội chư Tăng.
140. Cấm vắng mặt ngày đọc giới luật, trừ khi đau.
141. Cấm quên hỏi Giáo-Hội cầu thầy thuyết pháp và đọc Giới-Bổn.
142. Cấm cuối mùa mưa quên đọc lại với Giáo-Hội chư Tăng những điều nghe thấy.
143. Cấm họp nhau trong mùa mưa ở một xứ không có chư Tăng.
144. Cấm vào tịnh-xá chư Tăng mà không xin phép.
145. Cấm nhiếc mắng mấy NiCô khác.
146. Cấm dùng lời thô bỉ gây nên sự rầy rạc ở Giáo-Hội.
147. Cấm khi bịnh không có Giáo-Hội cho phép mà để người khác cắt hoặc bó cho mình.
148. Cấm ăn no rồi mà còn ăn lại nữa.
149. Cấm ganh-ghét các Ni-Cô khác.
150. Cấm dồi mài trang điểm thân mình.
151. Cấm dồi phấn xức dầu.
152. Cấm xúi một Ni-Cô dồi phấn xức dầu.
153. Cấm xúi một kẻ tập tu dồi phấn xức dầu.
154. Cấm xúi học trò dồi phấn xức dầu.
155. Cấm xúi người tại gia dồi phấn xức dầu.
156. Cấm bận áo mỏng thấy mình.
157. Cấm lấy y-phục của người tại gia mặc vào.
158. Cấm mang giày cầm dù đi ra đường.
159. Cấm đi kiệu trừ khi đau.
160. Cấm vào làng mà chẳng mặc áo Ni-Cô.
161. Cấm khi đêm vào nhà cư-sĩ.
162. Cấm vào buổi chiều mở cổng chùa ra đi, không cho mấy cô khác hay.
163. Cấm sau khi mặt trời lặn, mở cổng chùa ra đi, không cho mấy cô khác hay.
164. Cấm vắng mặt ngày hội trong mùa mưa.
165. Cấm cho nhập đạo một cô có bịnh khó.
166. Cấm cho nhập đạo một cô bán nam bán nữ.
167. Cấm cho nhập đạo một cô có bịnh khác thường.
168. Cấm cho nhập đạo một cô mắc nợ hoặc tàn tật.
160. Cấm học cách bói đoán vận mạng sanh nhai theo người thế tục.
170. Cấm dạy người cách bói đoán vận mạng.
171. Cấm đã có ai bảo đi mà chẳng đi.
172. Cấm chẳng xin phép mà thình lình hỏi lý một vị sư.
173. Cấm ngồi nằm chỗ đường đi làm khó và phiền kẻ khác.
174. Cấm cất tháp xây mồ một Ni khác trong vòng chùa chư Tăng.
175. Cấm một Ni-Cô già gặp một vị sư trẻ mà chẳng làm lễ theo luật.
176. Cấm vừa đi vừa uốn éo thân hình.
177. Cấm mặc đồ và trang điểm như mấy cô ở thế.
178. Cấm xúi một cô khác, ngoại đạo dồi phấn xức dầu.
Bạch các Sư-Ni, tôi vừa đọc xong một trăm bảy mươi tám giới linh-tinh, vậy chẳng hay trong các Sư-Ni có ai phạm chăng?                                                                                                (Hỏi 3 lần)
Đ.- TÁM GIỚI ĐẶC-BIỆT “XƯNG TỘI VÀ XẢ ĐỌA”
  1. Cấm nếu không đau, không được xin sữa (đậu)
  2. Cấm nếu không đau, không được xin dầu.
  3. Cấm nếu không đau, không được xin mật (hoa)
  4. Cấm nếu không đau, không được xin đường.
  5. Cấm nếu không đau, không được xin bột.
  6. Cấm nếu không đau, không được xin cháo.
  7. Cấm nếu không đau, không được xin đồ ngon.
  8. Cấm nếu không đau, không được ăn đồ quí.
Bạch các Sư-Ni, tôi vừa đọc xong tám giới đặc-biệt, vậy chẳng hay trong các Sư-Ni có ai phạm chăng?                                                                                                                            (Hỏi 3Lần)

E.- MỘT TRĂM GIỚI NHỎ PHẢI HỌC “SÁM-HỐI”
  1. Chẳng nên vận chăn có lằn nếp.
  2. Chẳng nên mặc áo không thứ lớp.
  3. Chẳng nên đi vào nhà cư-sĩ mà xăn áo lên.
  4. Chẳng nên ngồi trong nhà cư-sĩ mà xăn áo lên.
  5. Chẳng nên đi vào nhà cư-sĩ mà lật áo lên tới vai.
  6. Chẳng nên ngồi trong nhà cư-sĩ mà lật áo tới vai.
  7. Chẳng nên đi vào nhà cư-sĩ mà đội khăn đội mũ.
  8. Chẳng nên ngồi trong nhà cư-sĩ mà đội khăn đội mũ.
  9. Chẳng nên đi vào nhà cư-sĩ mà vừa đi vừa chạy.
  10. Chẳng nên ngồi trong nhà cư-sĩ sau khi vừa đi vừa chạy.
  11. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ, mà chấp tay sau lưng, chống nạnh.
  12. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà chấp tay sau lưng, chống nạnh.
  13. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ, mà lay chuyển thân mình.
  14. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà lay chuyển thân mình.
  15. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ, mà múa tay.
  16. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà múa tay.
  17. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ, mà không mặc áo che mình.
  18. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà không mặc áo che mình.
  19. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà trông bên nầy bên nầy bên kia.
  20. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà trông bên nầy bên kia.
  21. Chẳng nên xao-động khi đi vào nhà cư sĩ.
  22. Chẳng nên xao-động khi ngồi trong nhà cư sĩ.
  23. Chẳng nên cười cợt khi đi vào nhà cư sĩ.
  24. Chẳng nên cười cợt khi ngồi trong nhà cư sĩ.
  25. Chẳng nên ngồi chồm hổm trong nhà cư sĩ.
  26. Chẳng nên nhìn liếc khi lãnh cơm.
  27. Chẳng nên đưa bát nghiên, để cơm phải đổ
  28. Chẳng nên đưa bát nghiên, để canh phải đổ.
  29. Chẳng nên phân biệt thức ăn.
  30. Chẳng nên kén chọn món ăn.
  31. Chẳng nên lựa bên nầy bên kia hay giữa bát.
  32. Chẳng nên hỏi canh ngon hoặc món lạ (trừ cơn đau).
  33. Chẳng nên xới cơm lên che khuất đồ ăn đặng lãnh thêm nữa.
  34. Chẳng nên thấy vị khác lãnh đồ ăn mà sanh lòng ưa thích (thèm).
  35. Chẳng nên thiếu sự trang-nghiêm trong khi ăn.
  36. Chẳng nên ăn miếng lớn.
  37. Chẳng nên hả miệng lớn, mà đút đồ ăn.
  38. Chẳng nên nói chuyện khi ngậm một miệng đồ ăn.
  39. Chẳng nên lấy cơm vò viên thảy vào miệng.
  40. Chẳng nên ăn cho trám vàm đến đỗi đồ ăn rớt ra.
  41. Chẳng nên đưa đồ ăn má bên nầy qua má bên kia.
  42. Chẳng nên nhai lớn tiếng.
  43. Chẳng nên núc mạnh trong khi ăn.
  44. Chẳng nên lấy lưỡi liếm.
  45. Chẳng nên quơ tay trong khi ăn.
  46. Chẳng nên lấy tay lượm cơm rớt bỏ vào miệng.
  47. Chẳng nên cầm tới bình uống nước khi chưa rửa tay.
  48. Chẳng nên tạt nước rửa bát ra sân thí chủ.
  49. Chẳng nên đại-tiểu, hỉ mũi, khạc nhổ trên rau cỏ trừ khi bịnh.
  50. Chẳng nên đại-tiểu, hỉ mũi, khạc nhổ trên nước sạch trừ khi bịnh.
  51. Chẳng nên đứng mà đại-tiểu trừ khi bịnh.
  52. Chẳng nên ở và ngủ trong tháp thờ Phật trừ khi canh giữ.
  53. Chẳng nên cất giữ đồ vật tại tháp thờ Phật trừ khi bị cướp.
  54. Chẳng nên mang dép vào tháp thờ Phật.
  55. Chẳng nên xách dép vào tháp thờ Phật.
  56. Chẳng nên mang dép đi chung quanh chỗ thờ Phật.
  57. Chẳng nên mang giày vào tháp thờ Phật.
  58. Chẳng nên xách giày vào tháp thờ Phật.
  59. Chẳng nên ngồi ăn dưới tháp thờ Phật (mà bỏ đồ dơ thúi).
  60. Chẳng nên khiêng xác chết đi dưới tháp thờ Phật.
  61. Chẳng nên chôn xác chết tại tháp thờ Phật.
  62. Chẳng nên thiêu xác chết tại tháp thờ Phật.
  63. Chẳng nên thiêu xác chết ngay phía tháp thờ Phật.
  64. Chẳng nên thiêu xác chết, chỗ nào mùi hôi thúi, bay tới tháp thờ Phật.
  65. Chẳng nên mang đồ của người chết đi trước tháp thờ Phật.
  66. Chẳng nên đại-tiểu tại tháp thờ Phật.
  67. Chẳng nên đại tiểu ngay phía tháp thờ Phật.
  68. Chẳng nên đại-tiểu, chỗ nào mùi hôi thúi bay tới tháp thờ Phật.
  69. Chẳng nên đi nhà tiêu mang theo tượng Phật.
  70. Chẳng nên ở tại tháp thờ Phật mà xỉa răng súc miệng.
  71. Chẳng nên đứng trước tháp thờ Phật mà xỉa răng sút miệng.
  72. Chẳng nên đứng bốn phía, tháp thờ Phật mà xỉa răng sút miệng.
  73. Chẳng nên ở tại tháp thờ Phật mà hỉ mũi khạc nhổ.
  74. Chẳng nên đứng trước tháp thờ Phật mà hỉ mũi khạc nhổ.
  75. Chẳng nên đứng bốn phía tháp thờ Phật mà hỉ mũi khạc nhổ.
  76. Chẳng nên ngồi đưa chơn ngay tháp thờ Phật.
  77. Chẳng nên ở từng trên cao hơn chỗ thờ Phật.
  78. Chẳng nên nắm tay một người khác mà đi dạo.
  79. Chẳng nên leo cây cao khỏi đầu, trừ khi có việc.
  80. Chẳng nên quảy bát nơi đầu cây gậy.
  81. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, lật áo.
  82. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, quấn áo trên cổ.
  83. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, che đầu
  84. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, khỏa đầu.
  85. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, chấp tay sau lưng hoặc chống nạnh.
  86. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi guốc.
  87. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi dép.
  88. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cỡi ngựa đi kiệu.
  89. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi mà mình đứng.
  90. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, nằm mà mình ngồi.
  91. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi chỗ tốt mà mình ngồi chỗ xấu
  92. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi chỗ cao mà mình ngồi chỗ thấp.
  93. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi trước mà mình đi sau.
  94. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi trên mà mình đi dưới.
  95. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đứng giữa mà mình đứng bên
  96. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm gậy.
  97. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm gươm.
  98. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm dáo.
  99. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm dao.
100. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm dù.                                   
Bạch các Sư-Ni, tôi vừa đọc xong một trăm giới nhỏ phải học vậy trong các Sư-Ni có ai phạm chăng?
(Hỏi 3 lần)

Ê.- BẢY GIỚI GIẢI HÒA
Khi có việc xảy ra xung đột bất bình thì nên xử cho êm đi.
  1. Dùng cách tự thuận.
  2. Hoặc nói quyết rằng quên.
  3. Hoặc mình không biết, không cố ý.
  4. Hoặc xin lỗi thành thật, mình đã lỡ phạm.
  5. Hoặc chuyển lên Giáo-Hội xem xét cho.
  6. Hoặc nhờ thầy quảng-đại quyết định cho.
  7. Hoặc cùng nhau niệm Phật, bỏ qua khỏa lấp như cỏ mới mọc.
Bạch các Sư-Ni, tôi đã đọc để quí vị nghe đoạn vô đầu
  1. Tám đại-giới.
  2. Mười bảy giới tổn-hại.
  3. Ba chục giới phá sự thanh-bần.
  4. Một trăm bảy mươi tám giới linh-tinh.
  5. Tám giới đặc-biệt
  6. Một trăm giới nhỏ phải học.
  7. Bảy giới giải-hòa.
Cộng là: Ba trăm bốn mươi tám giới (348 giới)
Tất cả bao nhiêu đó, mà đức Phật Tổ dạy chúng ta phải hội họp mỗi kỳ nửa tháng, đặng nghe đọc một lần, vậy cuộc họp nầy đến đây thì bế mạc.
(Nhưng truớc khi giải tán, tất cả Giáo-Hội đều đọc kệ chung với nhau, đại khái như dưới đây)
1.- ĐỨC PHẬT TỲ BÀ THI CÓ DẠY RẰNG:
- Bền chịu với các sự nhẫn nhục, ấy là giới hạnh đầu tiên, mà chư Phật hằng khuyên ta, kẻ đã xuất gia bỏ thế, mà còn phiền giận, thật không đáng với tiếng người tu.
2.- ĐỨC PHẬT THÍCH KHÍ CÓ DẠY RẰNG:
- Người ta có mắt lanh, bao giờ cũng vượt qua khỏi hố sâu thẳm, cũng như thế, bậc Phật Thánh thoát khỏi các nạn khổ.
3.- ĐỨC PHẬT TỲ XÁ CÓ DẠY RẰNG:
- Tránh nói hành và tật đố, giữ giới hạnh, vừa lòng với sự đủ dùng về đồ ăn uống, bao giờ cũng thỏa thích trong tịnh-thất thanh vắng của mình, bền chí về bổn nguyện, và cố tiến thủ ấy là các lý cốt yếu mà chư Phật đã ban truyền.
4.- ĐỨC PHẬT CA- LA TÔN-ĐẠI CÓ DẠY RẰNG:
- Quanh quẩn trên hoa con ong chỉ lấy mật trong hoa mà thôi, chớ không phá màu hoa và mùi hoa, cũng như thế: Các Ni-Cô ở chung với giáo-hội, chớ nên làm nặng lòng ai hết, chớ xem coi họ có làm, hoặc không làm, mà phải lo lấy mình, xét coi đạo hạnh của mình có vẹn toàn hay không.
5.- ĐỨC PHẬT CÂU-NA-HÀM MƯU-NI CÓ DẠY RẰNG:
- Chớ để cái tâm lạc bậy, hãy siêng học cái giới luật của Phật Thánh, như vậy người ta sẽ lánh xa mọi sự buồn và sẽ tấn tới Niết-Bàn.
6.- ĐỨC PHẬT CA-DIẾP CÓ DẠY RẰNG:
- Chớ làm điều gì ác, phải làm các điều lành, cái sở-ý của người phải cho trong sạch luôn luôn, chư Phật đều dạy như vậy.
7.- ĐỨC PHẬT THÍCH-CA MƯU-NI DẠY RẰNG:
- Hãy giữ lời nói của người, hãy làm cho tâm ý của người trở nên thanh bạch, đừng làm một việc gì sái quấy, giữ ba điều ấy là theo chánh đạo, đạo của chư Phật đó.
8.- CÁC NHÀ HIỀN ĐỨC GIỮ GIỚI:
- Có ba điều an lạc lợi ích: Một là danh tiếng thơm lành, hai là được cúng-dường, ba là sanh lên cõi trên sau khi thác, nếu chưa đắc quả A-La-Hán.
9.- HÃY XEM QUA TRONG GIÁO-HỘI:
- Coi mấy nhà hiền đức và thành tín, giữ giới luật thế nào, giữ giới và sống trong sạch, là sự phát sanh trí huệ, là nền tảng của mọi việc hay khác.
10.-NÓI THEO LỜI DẠY CỦA CHƯ PHẬT:
- Quá khứ hiện tại và vị lai, người ta giải thoát khỏi mọi sự buồn thảm mà chư Phật hằng khuyên người phải trân-trọng giữ giới, bảy đức Phật trên kia đều bảo rằng: Sự giữ giới gỡ cho mình ra khỏi các việc trói buộc, và đưa mình lên đến nơi cùng tột là Niết-Bàn, bây giờ sẽ dứt hết các cuộc phiền não.
11.- CHÚNG TA PHẢI NOI THEO LỜI DẠY CỦA CHƯ PHẬT, CHƯ TIÊN:
- Lời khuyên của Thánh hiền, gương lành của mấy vị đệ-tử đích đáng, để nong nả tới nơi an-lạc của Niết-Bàn.
12.- TRƯỚC KHI TỊCH KHỎI CÕI THẾ MÀ VÀO NIẾT-BÀN:
- Đức Phật Tổ có khuyến khích chư Tăng mấy lời nầy: “Khi ta từ giã, chư đệ-tử chớ nói rằng ta nhập Niết-Bàn là ta hết bảo hộ đâu, không, ta để luật lại, nó sẽ ủng hộ cho, hãy coi ta là thầy mãi, bao giờ luật của ta còn trì giữ, thì đạo Phật vẫn còn tỏ rõ và thạnh-hành, nếu chư đệ-tử giữ giới mà làm cho đạo sáng và thạnh, thì sẽ hưởng Niết-Bàn, còn để cho đạo tắt mất, thì trần thế sẽ bị chôn trở vào nơi hắc ám, cũng như lúc mặt trời lặn buổi chiều, hãy giữ giới cho kỹ, hãy hội họp lại mà đọc giới-bổn, theo như ta đã dạy, rán bảo tồn nó, vì nó giúp ích cho chúng-sanh, giúp cho tiến theo nẻo Phật”.
(Luật Tăng đồ nhà Phật nầy của phái Đàm-Vô-Đức bộ, do đại-sư Đàm-Đế dịch năm 254 sau Dương Lịch).
Kính lạy Ta-Bà Thế-Giới THÍCH-CA MƯU-NI PHẬT                    (3 lạy)
Giới-Bổn nầy tất cả Khất-Sĩ đều dùng được hết. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.ASTRALIA,SYDNEY.24/2/2016.MHDT.