LUẬT KHẤT SĨ.
BÁC ĐẤTBát phải bằng đất, hông tròn sáu tấc, miệng rộng, đốt đen, lăn sáp bên ngoài. Một cái nắp đậy bát bằng nhôm trắng nhẹ, lại phải có một cái túi vải tròn vừa với bát, túi có nắp phủ, có quai một tấc bề ngang, còn bề dài thì mang choàng vào vai trái, thì miệng túi bát phải ngang dây lưng chăn, túi nhuộm một màu vàng với y (màu vàng sậm).
Y VÁ
- Y-thượng bá-nạp, phải bằng vải cũ hoặc vải vụn đâu lại, không được may vải vụn đủ bông, đủ màu rằn-rực sặc-sỡ phải may bằng vải trắng, vải vàng, hoặc những thứ lợt màu, để có thể sau khi may rồi, nhuộm cho tiệp màu vàng sậm (cấm dùng vải chỉ bằng tơ, lụa, hàng, nỉ, nhiểu len, tố cẩm tự…đồ vật của sanh mạng, cấm dùng màu đen, trắng, xanh, tím, đỏ, vàng…màu tươi tốt)
- Y-hạ vải nguyên, bề dài 2,m00, bề ngang 1m00, may dính lại, thành ra vuông vức 1,m200. Bìa trên 0,m10, bìa dưới 0,m05, nhuộm màu vàng sậm theo như y-thượng (Tăng mặc xếp, Ni mặc dún rút, Tăng mặc nửa ống chơn, Ni mặc ngang mắc-cá cổ chơn).
- Y-trung vải nguyên, bề dài 2,m00 bề ngang 0,m70 không may bìa. Kết mỗi bên hông một nút quai thắt. Nhuộm màu vàng sậm theo y-thượng và y-hạ, mỗi khi giặt phải giặt một lượt 3 cái, không cho bay màu khác nhau (có thể y-trung nầy màu sậm, hoặc lợt hơn y-thượng và y-hạ chút ít cũng được). Nhuộm bằng màu thuốc, hoặc bằng vỏ trái măng cụt sống, vải giặt sạch hồ, nhúng phơi 4 nước chớ đừng ngâm (khi mặc vào chừa cánh tay mặt).
Y-thượng: Phải một cái một, mỗi năm đổi một lần vào ngày rằm tháng bảy, hoặc ai muốn chỉ giữ một cái cũ, mặc vá trọn đời cũng được.
Y-hạ: Có thể cho một cái mới, mỗi năm đổi một lần vào ngày rằm tháng bảy, và giữ thêm một cái cũ để thay đổi, mỗi khi đi ra đường phải mặc cái cũ ở trong, cái mới ở ngoài, đặng cho tiệp màu với y-thượng. Trong lúc đêm hôm, mặc ngủ, cùng khi làm việc dính dơ nên mặc dùng cái cũ, hoặc cho ai muốn mặc một cái một thì càng tốt, chớ cấm tuyệt không cho có đến ba cái y-hạ, hoặc hai cái mới hết.
Y-trung: Mỗi năm đổi một cái vào ngày rằn tháng bảy, và còn giữ được một cái cũ. Cấm ba cái, hoặc hai cái mới hết, phải mặc cái cũ phía trong cái mới phía ngoài cho tiệp màu y-thượng và y-hạ, hoặc chỉ mặc thường một cái cũ cho hư trước, cái mới ít mặc đặng lâu hư, ai mặc được một cái một càng tốt. (Ni-lưu được có hai bộ y hộ thân riêng, và một cái túi nhỏ bề dài 0,m30, bề ngang 0,m25)
Khăn lau: Bề dài 0,m60, bề ngang 0,m30, vải nguyên màu vàng sậm. Khăn túi và tam-y phải một màu vàng sậm.
Choàng tắm: Bề dài 2,m00, bề ngang 0,m85, nếu dùng choàng tắm thì không dùng y-trung, y-hạ cũ.
Với một cái muỗng nhôm, một bàn chải chà răng, cán bằng bột hoặc bằng cây, bằng cao-su (chớ không được bằng sừng, xương, ngà, đồi mồi) và một con dao cạo tóc, một ống đựng kim chỉ, vải vá, một bộ đồ lược nước uống, một cái lon uống nước bằng nhôm là đủ bộ phận nhà sư (đồ nầy với giấy đạo thảy để hai bên trong túi bát).
Bậc Sa-Di hoặc bậc Thinh-Văn hay có sắm thêm một cái túi nhỏ để kinh sách và bài học, nhằm khi đi du-hành xa, nơi xứ muổi nhiều, các sư ấy cũng đem theo mùng, nên túi riêng này, bề dài 0,m40, bề ngang0,m10, bề cao 0,m30 nắp phủ 0,m20. Mùng túi này ai không có cũng được (Ni-lưu có một túi nhỏ riêng để kinh sách)
Mùng của nhà sư: Bề dài 2,m00, bề ngang 0,m70, bề cao 1,m00.
Mặt giường nằm của nhà sư: Cũng y như nóc mùng, bề dài 2,m00, bề ngang 0,m70, bề cao 0,m40.
Ghế nhà sư ngồi: Cũng không cao quá 0,m40, khi ngồi thong chơn gót vừa đụng đất.
Cốc nhà sư ở: Bề dài 3,m00, bề ngang 2,m00 cột 2,m50 cất khiêng, lót sang 0,m30. Chỗ ở phải xa nhà bá tánh ít lắm là một trăm thước, phải ở vườn rừng, không được ở núi, chợ xóm.
Nhà sư phải đầu trần, chân không, mặc y chừa cánh tay mặt. Trừ khi bịnh yếu, được dùng guốc cây, dép mo, che dù vải vàng, đội mũ vải hoặc khăn vải vàng, mặc y-thượng trùm kín, hoặc y-trung che kín hay phủ ngược (không được ở trần) mền, ngọa cụ, tọa cụ, gậy, đồ vật dùng trong khi dưỡng bịnh uống thuốc, khi mạnh rồi phải bỏ hết, giữ giới-luật thanh-bần đơn-giản lại như cũ, như hồi chưa đau. Chẳng đặng mặc mang dùng đồ vật theo cách người bịnh mà vào Tịnh-Xá lễ Phật nghe Pháp, hầu Thầy lại gần Pháp Tháp, nhóm họp, đọc giới sám-hối đi đường.
Không mưa, không bịnh, thì chẳng đặng ăn ngủ trong cốc, chớ ngủ hai đêm một gốc cây, chớ ăn hai lần một chỗ ngồi.
Người bịnh nếu có ai hộ cho đồ ăn buổi sáng thì được ăn. Nếu bịnh nặng, không độ được buổi cơm trưa, thì được độ dùng buổi cơm chiều, khi có ai dâng cho. Người bịnh tốt hơn là để tâm mình thanh-tịnh, những kẻ khác phải lo nuôi sóc người ấy.
Vị sư điều dưỡng có thể khỏi đi xin và được ăn dùng buổi sáng khi có đồ ăn dư nhiều. Còn tất cả các sư đều phải ăn độ một bữa ngọ trưa. Đi xin, đồ chay, hoa trái, rau cỏ, mà thôi.
Giáo-hội Tăng thì đi du-hành khắp xứ, nghỉ tạm nơi các vườn rừng, Tịnh-Xá, nhà mát, cốc lều làm che tạm, không nhận tiền bạc, vàng, không nấu nướng tích-trữ vật-thực.
Mỗi vị sư bệnh, khi thiệt mạnh rồi, không tích-trữ để dành thuốc.
Trong xã-hội cư-gia có đủ hội phước-thiện để hộ-pháp cho Tăng và giúp đỡ bá-tánh, kẻ cô-độc về tứ-sự, sự ăn, sự mặc, chỗ ở, khi bệnh, nếu là một xứ có đạo, và như vậy trong mười người, có một người xuất-gia khất-sĩ, ba người tại-gia cu-sĩ, ba người thiện ba người ác. Thành ra một trường học có ba lớp cho người ác bước lên, mỗi lớp có đủ chi-nhánh giáo-phái, càng nhiều càng hay, chúng-sanh tất cả đều có học, biết rõ mục-đích chung là tiến đến, sự sáng suốt, hiền lương và khỏi khổ. Muốn hết khổ phải dứt bỏ tham, sân, si thì ý mới định, ý định là Niết-Bàn. Muốn vậy phải xuất-gia Khất-Sĩ, giải-thoát ra khỏi tứ-sự ăn + mặc + ở + bịnh. Sống như ông già không giống tuổi trẻ. Ta xin vật-chất để nuôi thân, người xin tinh-thần để nuôi tâm. Cõi đời mà chúng-sanh biết xin lẫn nhau để sống cả thân tâm là xứ Cực-Lạc.
Hơn là để nhồi sọ lẫn nhau bằng các cái xin của bóc lột, cái xin đàn áp xảo-trá, không phải tự người vui lòng cho, không phải thiện, nếu không đi xin thì không bao giờ hết tham, sân, si tội-lỗi
TỨ Y PHÁP
- Nhà sư khất thực: Phải mượn những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.
- Nhà sư khất thực: Chỉ ăn đồ xin mà thôi, những ngày hội, thuyết-pháp, đọc giới bổn được ăn tại chùa.
- Nhà sư khất thực: Phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều, am nhỏ, bằng lá một cửa thì được ở.
- Nhà sư khất thưc: Chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc dầu, đường thì được dùng.
Không tự làm để tránh ác.
Uống hỏi xin nước, nằm hỏi xin đất, ăn hỏi xin lá trái, ở hỏi xin cốc hang, không ngắt lá cây, không bẻ trái, phải lượm xin, ăn quả chừa hột, đừng bứng gốc (không xin thái quá) không dùng đồ vật về sanh mạng của thú người. Dứt tham ác thì sân, si vọng động chẳng phát sanh.
MƯỜI GIỚI
- Không sát sanh
- Không trộm cắp
- Không dâm dục
- Khôn nói láo khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi
- Không uống rượu tham lam sân giận si mê
- Không ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chỗ xinh đẹp.
- Không nghe xem hát múa đờn kèn, chỗ vui đông yến tiệc
- Không trang điểm phấn son dầu hoa và áo quần tươi tốt
- Không ăn sái giờ, từ quá ngọ đến ngọ mai, phải ăn chay.
- Không rớ đến tiền bạc vàng của quí đồ trang sức.
Ngoài Tứ Y Pháp và mười giới (hoặc 250 giới luật-nghi) không còn có đạo Niết-Bàn nào thứ hai nữa cả.
CÕI NIẾT-BÀN
Giới-Bổn Luật-Nghi (Tỳ-Kheo 250 giới)
- Bảy lớp lan-can báu: Thất tụ giới
- Bốn đại giới (trục-xuất) 4
- Mười ba giới tổn hại tăng tàn (giáng cấp) 13
- Hai giới không định 2
- Ba chục giới phá sự thanh bần 30
- Chín chục giời hành phạt (quì hương) 90
- Bốn giới đặc-biệt (xưng tội xả đọa) 4
- Một trăm giới nhỏ phải học (sám hối) 100
- Bảy lớp lưới báu: Thất định pháp
- Bảy pháp diệt tránh ( giới giải hòa) 7
- Bảy hàng cây báu: Thất giác ý (thất bồ-đề)
- Phân biệt lành với sự dữ
- Tinh-tấn mà lướt lên
- An-lạc trong vòng đạo-đức
- Thắng phục tâm ý mình đặng làm lành
- Nhớ tưởng đạo lý
- Nhứt tâm đại định
- Vui chịu với mọi cảnh ngộ
NIẾT BÀN THỜI KHẮC BIỂU
TRÚ DẠ LỤC THỜI
- 5 giờ tới 6 giờ sáng: Thiền-Định
- 8 giờ tới 9 giờ sáng: Khất-Thực
- 11 giờ tới 12 giờ trưa: Thực-Thời
- 3 giờ tới 4 giờ chiều: Thuyết-Pháp
- 6 giờ tới 7 giờ chiều: Thiền-Định
- 12 giờ tới 1 giờ khuya: Thiền-Định
- Một Tăng hay một chúng là bốn vị sư.
- Một tiểu Giáo-Hội Tăng-Già là hai chục vị sư.
- Một trung Giáo-Hội Tăng-Già là 100 vị sư.
- Một đại Giáo-Hội Tăng-Già là 500 vị sư.
Người mới xuất-gia nhập-đạo, phải theo thầy ở chung trong Giáo-Hội 2 năm, kế đi tách riêng một mình 2 năm nữa. Trên bốn năm được thâu một người tập-sự, trên sáu năm mới được thâu nhận một đệ-tử và một người tập-sự. Được trên mười hai năm, tách ra đi lập đạo riêng, dạy số đông.
Trên sáu năm gọi là Đại-Đức, trên mười hai năm gọi là Trưởng-Lão, hai bậc nầy phải có đủ đức-hạnh, do Giáo-Hội là chứng-minh cho phép. Trong Giáo-Hội, ai lớn tuổi đạo, được đứng đi ngồi trước, ai nhỏ tuổi đạo phải theo sau. Từ khi Giáo-Hội đã được đủ hai mươi vị rồi, thì những ai xuất-gia sau nầy, phải tập-sự với một vị sư trong hai năm. Ở trong giữa Giáo-Hội, kêu gọi là nhập thai trong bông sen (chính hoa sen là Giáo-Hội Tăng-Già, là ngôi vị của Đức Bồ-Tát hay Phật, là giáo chủ, Giáo-Hội Tăng-Già lớn gọi là hoa sen lớn). Sau hai năm tập sự đủ nết hạnh thanh-tịnh, và thiện căn phước-đức, nhơn-duyên mới cho thọ qui giới, nhập chúng sau hàng Khất-Sĩ, bấy giờ mới được gọi là bình-đẳng.
Trong đạo: Các sư chỉ làm thầy đỡ đầu, tiếp dẫn, truyền giới chứng minh tạm cho mỗi vị mới xuất-gia, chớ chúng-sanh là bình-đẳng, không có danh quyền chi cả.
Người tập-sự phải từ mười tám tuổi sắp lên, và từ hai mươi tuổi mới được thọ giới Khất-Sĩ 250 giới. Chứng-minh cho một người tập-sự, phải có đủ bốn vị sư trên hai năm, và khi cho thọ-giới Khất-Sĩ phải có đủ một Tiểu Giáo-Hội, hai mươi vị sắp lên, chứng nhận minh bạch, thiếu một vị cũng không được. Khi đó phải có một vị sư đứng ra giới thiệu xin giùm với Giáo-Hội, một vị sư truyền thọ qui-giới cho, và phải có một vị Đại-Đức hay Trưởng-Lão Thượng-Toạ đứng ra bảo-đảm dạy-dỗ, lúc ấy tất-cả Giáo-Hội đều phải ưng-thuận hết, nếu có một vị sư bất-bình, thì sẽ không được thâu nhận.
(Ni-Lưu cách thâu nhập đạo cũng y như Tăng, và mỗi khi nhận một người tập-sự, phải trình diện với một Tăng (bốn vị) liền trong lúc ấy. Cho thọ giới một nữ Khất-Sĩ phải do Giáo-Hội Tăng xem xét mới được).
Trẻ nhỏ dưới mười tám tuổi không được thâu nhận cho tập-sự, vì đạo Phật là đạo Giác-Ngộ, của các bậc già đủ trí, đúng phép của sắc thân, thì người bốn mươi tám tuổi là tuổi tập-sự, năm mươi tuổi là tuổi xuất-gia, Thinh-Văn năm mươi bốn là tuổi du-hành. Duyên-Giác sáu mươi tuổi là tuổi làm Bồ-Tát, sáu mươi sáu tuổi, là tuổi đi Giáo-
Hoá cả chúng-sanh, bảy mươi hai tuổi là tuổi Như-Lai Niết-Bàn nín nghỉ.
Người xuất-gia nhập đạo cũng giống như gia-đình xã-hội cõi thế. Chính Giáo-Hội Tăng-Già mới là một đại gia-đình hạnh-phúc, một đại xã-hội hiền-lương. Chính Giáo-Hội Tăng-Già là giáo-lý muôn năm, cõi sống của những ông già kinh-nghiệm không còn tư-riêng nhỏ hẹp, sống với cả chúng-sanh chung, từ-bi trí-huệ thanh-tịnh trang-nghiêm, đức-hạnh đầy đủ. Giới-luật Tăng-Già là miếng đất Tịnh-Độ, xứ an-lạc của mỗi vị Phật, nơi đó thâu chứa rước độ chúng-sanh, dạy tu cho mau đắc quả! Cõi ấy dầu bao nhiêu nhiều ít, ai ai cũng không có sự tranh cãi rầy-rà, Ai nấy tự-do tu học lấy mình không hay dòm ngó, không có danh lợi chen đua, khi đã thấu lý đạo rồi, thì lại xót thương muôn-loại, mà chẳng còn sở chấp riêng mình. Người người đều biết hạ mình tôn-trọng lẫn nhau trong tâm bình-đẳng hẳn thật yên vui.
Từ khi mới theo tập sự với một vị sư, dưới sự đùm bọc che-chở của vị sư đỡ đầu, cũng như nhập thai trong hoa sen có được pháp-danh thọ ký. Đến khi được xuất-gia thọ-giới là mới sanh ra trong giữa tòa sen. Thầy đỡ đầu như mẹ, thầy tiếp dẫn là cha, kế đó tăng chúng như quyến thuộc chủng-loại, nhờ đó được lớn lên Đại-Đức, có đệ-tử như con, thành Trưởng-Lão là già, lập đạo-giáo riêng là gia-đình xã-hội khác, để dắt dẫn cả chúng-sanh chung. Ấy mới là gia-đình xã-hội, thế-giới chơn thật vĩnh-viễn tốt đẹp, riêng toàn là của những bậc đại-hiền kia vậy
Những ai vào trong giới-luật của Giáo-Hội Tăng-Già rồi thì chẳng bao lâu sẽ bổ xứ đi làm Phật, giáo-hóa chúng-sanh ở những nơi khác nữa, vào đó không còn ai muốn thối chuyển trở ra để làm chúng-sanh. Chính giới-luật là xứ Phật gương sen! Những ai đã được ở vào trong ấy, không còn lo sợ sự dính dơ bùn bụi trong giữa cõi trần.
Giáo-Hội Tăng-Già: Luôn luôn đi du-hành, chớ không ở một chỗ quá ba tháng, khi đi, đi bộ cả tăng-đoàn, để cho được sự học-hành khắp xứ, đủ hạng người và quí nhứt là sự giải-thoát chỗ ở một nơi, để dứt bỏ tham sân-si ái-dục dễ-dàng, vì chính nguyên nhân của sự giãi-đãi, mất đức và phạm giới là bởi ở một chỗ vậy. Trừ ra những kẻ già bịnh mới ở lại nghỉ dưỡng nơi Tịnh-Xá và giữ chừng cho Giáo-Hội sau nầy có chỗ trở lại. Vị sư ở một chỗ có bổn-phận phải dạy-dỗ cư-gia kêu là Bồ-Tát trụ xứ.
Tại chỗ trụ: Trong đó có nhà Tịnh-Xá, xây tháp thờ pháp của các chư Phật quá khứ, tháp phải mười ba tầng (vì Đức Như-Lai là ngôi vị thứ mười ba của chúng-sanh tiến lên từ nấc) tháp phải mở trống bốn cửa, nơi đó chỉ để kinh sách hoặc cốt tượng Phật. Tháp bề cao ba thước, chưn rộng vuông một thước tám. Tịnh-Xá phải tám thước, vuông bốn phía, hình bát-giác, có nhà giảng thuyết-pháp, góc vuông mười sáu thước, có nhà độ cơm nghỉ mát, bề ngang tám thước, bề dài mười sáu thước (ba cái này gọi là nhà Tam-Bảo) và có nhà thờ riêng cho cư-gia, bề dài tám thước, bề ngang bốn thước.
Phía trước, bên trái có nhà thiện nam, bên mặt có nhà tín nữ. Phía sau bên mặt có cốc nghỉ chơn cho Ni-Lưu, bên trái có cốc ở của Tăng, có hồ sen núi đất, có ao rạch hoặc suối, có cây cao bóng mát gió thanh, xa nhà bá tánh trăm thước, trống trải giữa trời, không trồng bông trái, xa núi, xa chợ, cảnh giữa vườn rừng, đó mới là nơi thiền-định đáng làm chỗ trụ. Đất rộng trăm thước không có thú dữ, xa tôn-giáo, tránh binh-gia, gần sớm người hiền, tránh xa trộm cướp, chẳng cận đường đi, không xây tường gạch nóc ngói, chỉ cất dùng cây, ván, lá. Cốc phải lót sàng, xa mồ-mã trăm thước, nhà tiêu hướng Đông-Nam, nhà tắm phía Tây-Bắc, nhà bếp để hờ nấu nước, thuốc phương Đông-Bắc. Chỗ để đồ vật Giáo-Hội tại Tây-Nam. Mặt tiền Tam-Bảo ngay phía Tây, lưng trở lại Đông. Thiện-Nam phương Nam, Tín-Nữ phương Bắc có cốc Tăng ở chung quanh có hàng rào cao 2,m00 làm ranh. Thiện-Nam Tín-Nữ, Ni-Lưu chẳng được nghỉ đêm trong vuông chùa, cổng rào sáng 7 giờ mở ra, chiều 5 giờ đóng lại để yên cho các sư tu-tịnh.
Tại Chùa: Những ngày, ba mươi, rằm, mùng tám, hai mươi ba, các sư có nói Pháp cho cư-gia, mỗi ngày phải học Luật, Sám-Hối làm Công-Quả, học Pháp từ 3 giờ đến 9 giờ chiều. Mỗi buổi sáng phải đi Khất-Thực từ 8 giờ đến 9 giờ. Trưa 11 giờ độ cơm và đọc kinh đến 1 giờ khuya, chiều, sáng lo tu tịnh.
Tại chùa: Các sư còn có phận sự phải dạy học chữ quốc-ngữ (Hán-Việt và Nôm-Việt, cho tập-sự kém chữ) hoặc dịch sách in kinh do Giáo-Hội Tăng-Già đi du-hành, và dạy cho bá-tánh sự tu-tập
Tăng chúng phải giữ lớp trật-tự màu sắc y-bát đồ-vật cho giống nhau. Những ai muốn đi tách riêng tìm chỗ vắng tu-tịnh, phải có lịnh Giáo-Hội cho phép và xét xem kỹ-lưỡng, phải cho được trên hai năm thọ đại-giới, phải có đủ hạnh, phải chịu khổ cực mới được.
Kẻ ở trong Giáo-Hội Thinh-Văn, gọi là Hữu-Dư Niết-Bàn.
Kẻ độc thân Duyên-Giác, gọi là Vô-Dư Niết-Bàn.
Kẻ bổ xứ giáo-hóa lập đạo riêng, gọi là Đại-Niết-Bàn.
Đến Chơn-Như yên nghỉ mới gọi là Vô-Thượng Đại Niết-Bàn.
Người Tập-Sự phải hầu thầy và làm công cho Giáo-Hội, thờ kính các sư để trau dồi thiện-căn phước-đức nhơn-duyên, vừa để cho các sư xem xét tánh hạnh lâu ngày.
Tại chùa các sư không đi đám tụng kinh: Thỉnh-thoảng vì tình cận-sự của cư-gia, các sư đến thăm bịnh, để nói pháp, an-ủi mà thôi. Khi có trai tăng cầu-siêu các sư mới đọc kinh chú nguyện! Thường ngày thi các sư đọc kinh cầu nguyện chung cho cả chúng-sanh sau buổi cơm ngọ, khi rảnh các sư đọc học kinh để mở trí tham thiền, và luôn luôn chú nguyện cho chúng-sanh trong, mỗi lúc, để mở mang trí-huệ và tập tâm từ-bi tinh-tấn.
Sư trị-sự ở trong chùa: Có phận sự phải thâu cất giữ y-bát, đồ-vật dùng cho Giáo-Hội, lo sắp đặc chỗ nơi cho các sư ở xa mới tới, và chỉ bảo cách cúng kiến cho cư-gia, sắp đặt trật-tự cho Giáo-Hội. Ở tại chùa khi nào có công việc làm nhiều, nên khi ai đem đến dâng đồ điểm tâm sáng, thì các sư được dùng bằng không có là thôi, chớ không tự nấu luộc, không được hỏi xin.
Các sư lữ-hành đi đường xa khi bịnh yếu, cũng được như vậy, bởi ăn đồ ăn chay thiếu chất bổ, nên chi buổi ăn sáng, nếu có cư-gia đem đến hộ, thì các sư cũng được dùng, vì sự ăn chay đi bát ít ai cúng được thức-ăn tử-tế. Ấy bởi sự bất-cập của bá-tánh mà phần nhiều các sư chỉ nhận được bánh trái đơn sơ, không đủ sức khoẻ cho lâu ngày. Vậy nên buổi sáng không cấm hẳn, những vi sư nào nhịn không độ sáng thì lại tốt hơn, vì để rảnh trí tham-thiền. Còn những ai làm công việc nhiều dùng thêm buổi sáng thì khi nào có mới độ, không thì thôi, chớ chẳng đặng để dành đồ ăn cách đêm.
Trong Giáo-Hội Tăng-Già: Ở tại chùa phân chia theo ngăn ranh thứ-tự:
- Tập-sự ở theo phía tập-sự
- Khất-sĩ ở chung theo phía Khất-sĩ
- Chỗ học-hành ngơi nghỉ, tiêu, tắm khác nhau, ban ngày thì trò nào theo thầy nấy, mỗi trò nhỏ phải có theo một vị sư.
Mỗi ngày có gió rung khua là nhơn-duyên giảng luận, đạo-lý, tiếng pháp nhiệm-mầu, thanh tao hay dịu hơn cả nhạc trời. Bảy bậc Giác-Ngộ như chim nói Pháp, nơi cõi ấy chỉ biết có Phật Pháp Tăng, dân chúng niệm mãi không nhàm, vào đó chỉ lo ăn học, cõi thế sự xa mất biệt hình. Tưởng ăn có ăn, là đúng giờ đến buổi, vừa nhớ ra là đã có kẻ hộ bát cúng dâng, tưởng mặc có mặc, là mãn năm áo rách, vừa nhớ ra là đã đến kỳ đổi y thay áo. Muốn tắm tới đâu có nước dâng lên tới đó, là muốn thấm nhuần đạo-lý, tắm nước Pháp tới đâu, có người xối dạy, dâng cho tới đó. Người hiểu đặng chơn-lý, nhập-định hoặc một ngày, hoặc đến bảy ngày, sẽ có thần-thông, vào địa-vị Phật Thánh khác nào bậc ấy rước đưa. Thế cho nên kẻ đã hiểu ra, mau liền giải-thoát, chết bỏ cõi đời, sanh qua nhà Phật, kẻ đã sanh, kẻ đang sanh, kẻ chưa sanh. Đạo mà có trong đời, thì ai-ai rồi cũng sẽ giác-ngộ vãng-sanh lần, để xa lánh cõi đời ác trược. Còn ai mà chẳng muốn được vãng-sanh đến cõi giải-thoát trói-trăn phiền não của điều thiện ác, là xứ của những bậc trong sạch ông già?
Những ai muốn xuất-gia, trước phải hiểu thông luật đạo, học thuộc lòng Tứ-Y-Pháp, mười giới và những bài kinh cúng nguyện, mới được cho vào tập-sự, giữ hạnh và tham-thiền, sau hai năm được thuộc Giới-Bổn, tinh-tấn không phạm giới, tham-thiền được ấn-chứng và trọn lễ hầu thầy, mới được cho xuất-gia nhập đạo.
Khi còn tập-sự phải học hỏi cho biết tên tuổi lịch sử của thầy, của vị giáo-chủ, của các bậc trưởng-lão đại-đức, phải biết mục đích của mình, tôn chỉ của đạo và phải nhớ ngày mình vào đạo. Nhứt là cần hiểu giáo-lý của Y-Bát, sự đi xin và ăn chay, và tại sao mình lìa bỏ cảnh thế?
Người nhập đạo phải không bịnh hoạn chi, và phải được trong sạch các nhơn-duyên của đời, phải cho đủ trí, phải hiểu biết các bộ-phận trong thân của mình.
Khi thọ-giới thì phải một lần một người, mau lắm cũng bảy ngày mới cho vào tập sự. Ai muốn xin xả giới về thế cũng phải xả lần từ mười giới, tám giới, năm giới, đủ bảy ngày mới sẽ trở ra luôn, và khi trở vào cũng phải thọ-giới lần từng bực.
VỀ SỰ ĐI KHẤT-THỰC
- Phép đi khất-thực chỉ từ một tới hai người mà thôi, trừ khi nào đến xứ lạ, một hai ngày đầu đi chung cho biết đường xá, đi từ người cách khoảng 2 thước.
- Khi đi lấy cơm hoặc đi trai tăng tại nhà cư-sĩ, thì được đi chung, đi một hàng một cách nhau 2 thước tây, ai lớn tuổi đạo đi trước, tập-sự đi sau.
- Tại Tịnh-Xá có ban Cư-sĩ Hộ-Pháp, hoặc có nhiều người xin cúng dường luân-phiên giáp ba mươi ngày trong một tháng thì Giáo-Hội nếu đông chia ra. Phân nửa Tăng đi khất-thực, phân nửa Tăng nhận cúng dường trọn bữa ăn.
- Tốt hơn là mỗi người hằng ngày đều phải đi bát, ban Hộ-Pháp chỉ hộ thêm sau khi đi về.
- Khi đi khất-thực nếu ai về kịp ngọ, lỡ quá trưa thì phải độ nơi chỗ vắng, gốc cây, xa đường lộ, phố xá chợ đông. Phải tránh những chỗ dơ dáy bụi-nặm, cấu trược ồn-ào, vì thế sẽ làm nhẹ thể Pháp Phật.
- Đi bát không được vô chợ, hoặc đứng phía góc chợ, hoặc chen lấn chỗ đám đông, nên phải đi vào trong xóm và các đường lộ xa chợ.
- Mỗi đường có thể đi ba ngày, đi xa không quá ba ngàn thước
- Bận đi phải đi luôn, bận về nếu thiếu thì đứng trước cửa từ nhà (ngoài đường chứ không được vào thềm), mỗi nhà đứng năm ba phút theo thứ-tự
- Khi bát còn lưng thì ôm qua tay trái gần trước bụng, lúc đầy rồi phải để vào túi, phủ nắp lại, quảy phía tay mặt, không nhận nữa.
- Không nhận lãnh đồ vật để trong túi, ngoài bát, hoặc trên nắp bát.
- Không được nhận tiền gạo, không được nhận đồ ăn mặn, khi người đem đến cúng, mình có thể hỏi xem chay hay mặn, đó là gương dạy thiện cho người.
- Không được đi vào nhà ai, khi đi khất-thực, nếu phải đi viếng ai hoặc có việc của Giáo-Hội sai, thì đi lại ngay nhà người ta trước, bát mang chứ không ôm, bận về mới ôm ra đi xin mà trở về.
- Không được đứng lại uống nước, hay đại tiểu khi đi khất-thực.
- Bát nếu ôm trần thì được nhận, bát mang trong túi cấm thâu nhận.
- Không được ngó mặt thí-chủ, hoặc nói chuyện quá năm sáu câu.
- Ai có hỏi đạo giữa đường, thì kiếm gốc cây ngồi nói, hoặc hẹn sau khi độ cơm rồi sẽ nói, hoặc mời người đến ngay chỗ trụ, hoặc để ngày khác người thỉnh cúng-dường tại nhà có Tăng đông, có cư-sĩ nhiều sẽ nói.
- Khi đi khất-thực, ai muốn cúng hoặc thí gì tự ý, bao giờ người hỏi sẽ chỉ dạy, bằng không thì thôi, chớ chê khen bắt lỗi ép buộc người ta.
- Nếu biết cơm có dính lỡ đồ ăn mặn, thì khi về phải cho người khác, chớ không được dùng, bằng khi túng ngặt, phải gục rủa sạch mới được dùng.
- Khi đi khất-thực phải trang nghiêm hoà-hưõn, ngó ngay xuống, ngó xa hai thước, chớ ngó liếc hai bên, chớ tìm lóng nghe chuyện người nói, tâm phải niệm Phật.
- Đừng vừa đi, vừa nói chuyện chỉ chỏ, muốn qua đường quẹo phải đứng lại xây mình, chớ dừng đi tắt xéo
- Mỗi khi có chuyện gì thì phải đứng lại, có ai cúng thí, chỉ lại người sau cho để bát trước
- Ngày nào ai đi bát đường nào, phải sắp đặt trước tại chùa, chớ đừng ra đường lộn xộn
- Khi đi khất-thực ngoài món ăn ra, không nhận món chi ai gữi hết, hảy bảo người đem lại chùa kia. Ai nói gữi cúng Phật thì không được nhận hãy nói: “Tăng chỉ là người tu đi xin ăn mà thôi”
- Ăn rồi đồ nếu còn dư, phải cho hết, không được để dành.
- Đồ khất-thực trước phải độ trước, đồ cúng dường sau phải độ sau.
- Khi đi khất-thực không được chống gậy, mang giày, che dù…Phải mặc áo chừa cánh tay mặt, đầu trần chân không, phải mặc vấn thượng-y trùm kín.
Tăng đi phải hai người sắp lên (Ni đi phải bốn người sắp lên).
Không được ở đêm nơi nhà cư-sĩ, trừ khi có tai nạn kíp, được ở một đêm thôi (người xuất-gia rồi, chẳng đặng trở về nhà, chẳng đặng biết quyến thuộc riêng, chủng-tộc riêng, mà xem tất cả là chúng-sanh chung, người tập-sự có thể ba tháng về một lần, giáp năm về một lần, hai năm về một lần, về ban ngày, mỗi lần chừng hai giờ đồng hồ đi với bốn vị sư) Chớ dòm ngó đồ vật hai bên, chớ ngó ra phía sau, phải ngồi ngay giữa, day mặt ngó ra. Khi vào phải có người thỉnh ba lần, một lần ngoài đường, một lần trong sân và một lần trước cửa.
Không có ghế riêng thấp thì chẳng đặng ngồi, nếu thấy chủ nhà ngồi ván ghế cao, ăn thịt uống rượu, đi guốc giày, để đồ dằn mạnh thì phải kiếu ra về.
Không được hỏi thăm tuổi tác tên họ mạnh giỏi, làm ăn dua bợ theo kẻ thế, nhà nào không có đàn ông rước thì chẳng đặng vào (Ni cô thì không có đàn-bà rước chẳng đặng vào). Biết nhà không ưa chớ nên vào, vào nhà cư-gia không quá hai giờ đồng-hồ, nhà không ghế riêng cho nhà sư, thì ngồi trên đất hết thảy, hoặc đứng, còn giường ván của cư-gia chẳng phép ngồi.
Phải tránh thị phi tai tiếng, chớ nói cười cao giọng, chớ ngó mặt ai, chớ tôn trọng sắc thân vật chất của người.
Phải có mặc vấn y-thượng kín-đáo đoan trang, cử-chỉ thanh-cao nói năng chẫm-rãi, mắt ngó ngay xuống, chớ ở lâu, hãy sớm liệu ra về.
Trong khi ăn: Ngồi bán già, bát để trước mặt, sát chân, canh, bánh, trái để ăn sau, cơm đồ ăn phải trộn lại cho đều, khi bịnh mới để riêng từ món. Tay trái ôm bát, tay mặt cầm muỗng không rời, muỗng múc tém gọn, miệng không hả lớn. Đừng hả miệng trước, chớ cho rớt cơm, hoặc lào thào, nhai chớ hở môi, nhai cho thật nhuyễn và chẫm-rãi, đang khi nhai, chớ múc muỗng khác, chớ làm xao-động. Cơm đồ ăn rớt phải lượm bỏ vào bát (nếu lấm dơ phải lượm để riêng). Đang khi ăn chớ nói chuyện, chớ ngó liếc, ăn chung Giáo-Hội phải một lượt hòa-chúng. Ngồi phải ngay lưng, đầu hơi khom cúi, mắt ngó xuống tách nước ngay trước mặt cách năm tấc. Muỗng cơm đưa lên tới miệng chớ khom đầu, khi ăn múc chi độ nấy, chớ lựa chọn món ăn.
Ăn rồi phải rửa tay miệng, ba lần mới uống nước, bát ai nấy rửa. Trước khi ăn, cúng dường chú nguyện, khi ăn rồi đọc kinh cầu nguyện. Cách ngồi ăn phải phân minh, thứ lớp, tập-sự theo tập-sự, Khất-Sĩ theo Khất-Sĩ. Ngồi cách một chỗ ngồi, ăn chớ để dư thừa, phải nhắm chừng sớt ra cho ai trước khi ăn, chớ ngồi ăn chung với cư-sĩ, chớ ăn tại chỗ thờ Phật, chớ ăn chung với Ni-Lưu.
Trai Tăng phải từ bốn vị sư, ăn chớ chấp mùi vị, chớ quá no, bịnh phải tự cữ ăn.
MẶC
Áo chăn có thứ lớp, chớ lộn xộn. Tăng mặc nửa ống chân (Ni ngang mắc cá), mặc xếp phía trước. Nếu có rách vừa bằng ngón tay là phải vá lần đừng đợi rách lớn. Màu lợt phải nhuộm sậm lại. Chăn áo ba ngày phải giặt. Thượng-y nửa tháng phải giặt chớ để mùi hôi. Dính dơ phải cắt bỏ vá lại.
NÓI
Nói rất ít, ngậm miệng cắn răng, tìm cách tránh nói, cực chẳng đả nói với ai năm sáu câu trở lại thôi. Nên tập nói Pháp, chớ nói thế sự chiến-tranh, tôn-giáo, chê bai, bói khoa, khoe khoang nói dối, đâm thọc, rủa sả, nói giểu cợt lời vô ích…Nên khen người và chớ dua bợ, nên luận đạo mà chớ tranh cãi, chớ nói việc ai ai.
LÀM
Chớ làm việc sát-sanh, trộm cắp tổn- hại ai, chỉ làm việc đạo-lý: Viết sách, dịch kinh, tham-thiền, nhập-định, thuyết-pháp, luận đạo, dạy học, khất-thực, làm gương lành, giúp việc công cho Giáo-Hội. Quét dọn chùa, tháp, cốc, sân, lượm rác, giữ vệ-sinh cho Giáo-Hội, đóng cửa chùa, may áo, vá y cho Giáo-Hội, sắc thuốc, nấu cháo, nuôi người bịnh.
Chớ ra tay làm việc cho cư-gia, chớ làm việc chung với kẻ chưa thọ-giới. Áo ai nấy giặt, bát ai nấy rửa, việc riêng ai nấy làm, rảnh việc mình nên giúp kẻ khác.
Đi
Đi ngay hàng, đi hai gót khít, bước cách một bàn chơn, đầu cúi lưng hơi khom, không nhìn liếc, ngó ngay tới trước mặt, bề xa hai thước. Đi chẫm-rãi khoan-thai, tại chùa hay ra đường cũng vậy, đi phải ngay mình, chớ lắc nghiên qua lại, chớ đi mau, chớ đánh vòng xa, chớ chạy nhảy leo trèo. Quá ngọ tới chiều không được đi vào xóm, có đi đâu phải từ hai người sắp lên (Ni pải bốn). Cấm đi chung và một lượt với Ni-Lưu, tín nữ, kẻ gian nhơn, người hung ác.
ĐỨNG
Đứng hai gót phải khít, hai đầu gối phải ngay, hai tay phải nắm lại, phải biết chỗ đứng theo thứ-tự. Chớ đứng gần cư-gia, tín-nữ, ni-lưu, chớ đứng tréo chơn, chống nạnh, chớ đứng hở gót (bẹt hai chơn), chớ đứng chơn thẳng, chơn dùn, chớ đứng một chơn dưới đất, trên một chơn ván ghế, chớ đứng ẹo lưng, nghẻo đầu, dựa vách ngả ngớn.
NGỒI
Ngồi hầu Pháp, hầu thầy, xếp chơn, ngồi thiền phải ngồi kiết-già, ngồi thường chỉ ngồi bán-già, chớ ngồi tréo-ngoảy, chớ ngồi chồm-hổm. Khi làm việc ngồi chồm-hổm giây lát thì hai đầu gối phải cho khít. Mỗi khi ngồi, phải tém chăn cho gọn lấy mí thượng-y che phía trước, chớ ngồi xếp bằng, lót hai chơn phía dưới, chớ ngồi sái phép. Tỳ-Kheo ngồi cách xa Sa-Di hai thước, với cư-sĩ ni-lưu cũng vậy.
NẰM
Phải nằm nghiên co đầu gối, hai tay không đưa lên, không để gần chỗ trược, chớ nằm ngửa, nằm sấp, chớ nằm chỗ cư-gia, tín-nữ, ni-lưu, chớ nằm chung hai người, trừ khi bịnh, chớ nằm chỗ đông đảo (nằm bốn, ngồi ba, đứng hai, đi một)
THỨC
Thức nhiều ngủ ít, ngày đêm ngủ sáu giờ đồng hồ, sống chết sao cũng được. Sống bởi chúng-sanh, chết bởi mình, thân phải trì-giới, tâm phải nhập-định, trí phải huệ sáng, tánh phải chơn-như, phải chết nơi núi rừng, vườn, chớ chết trong chợ xóm, chết nằm nghiên hoặc ngồi kiết-già, nên thiêu đốt lấy tro, hoặc cất xương trong hang núi.
MẮT
Mắt phải đừng nháy liếc, nếu ngó ngang phải xây trọn cái đầu, ngó phụ-nữ cách xa năm thước, ngó ngay sóng mũi, ngó thoáng qua không được chăm chú. Xuất-gia rồi, nam không ngó mặt mẹ, nữ không ngó mặt cha.
Mắt là thần, chủ của tâm nên phải ngó xuống và tập cho cứng. Thường phải ngó xa chân Trời hướng Tây để quán-tưởng, chớ ngó sắc trần đồ-vật tươi tốt khéo hay, thân người chưng dọn, mà phải thấy chư Phật Pháp Tăng, thấy sự khổ của chúng-sanh, thấy xa thẳn tận hư vô, thấy trong chơn tánh, thấy ba đời.
TAI
Tai không nghe thế-sự, tiếng ác nhơ, êm dịu, lời kèn huyễn. Phải nghe gió, nghe hư-không, nghe tiếng Pháp, nghe tận nơi xa, nghe trong trí-não.
MŨI
Mũi chớ hưởi mùi, thơm thúi, mà nên hưởi tâm người, hưởi mùi pháp, hưởi tận hư không, hưởi mùi của các hạng chúng-sanh, hưởi cùng tam-thế.
LƯỠI
Lưỡi chớ nếm vị ngon, chớ phân biệt thức ăn, nên phải nếm Pháp-vị, nếm đạo-lý, quả Niết-Bàn an-lạc.
THÂN
Thân chớ trao dồi tốt đẹp, mà cũng đừng quá ư trệ xấu xí, chớ ưa mềm mại, chớ ham tươi tốt áo quần. Phải trì giới phạm-hạnh thanh-tịnh, chớ đụng cọ với ai ai, đừng dung-dưỡng, đừng khổ hạnh, chớ ham mập, chớ ưa ốm. Đừng sạch quá, chớ ở dơ, ba ngày tắm một lần, đừng thoa dồi xức ướp, đừng uống thuốc nếu chẳng đau, đừng liều mạng khi có bịnh.
Ý
Ý không mong cầu, đừng hay cố chấp, sao cũng được, sao cũng xong. Sao là sao, cái gì cũng vậy, sao cũng bằng nhau, như vậy, như nhiên, như thường, như như. Đừng trái ý ai, đừng tự ý mình, đừng nhớ tưởng, đừng rối-loạn, chớ tự-cao. Thân khẩu ý phải trong sạch lục-trần, tham sân- si phải đoạn diệt, sát đạo dâm phải dứt chừa, bốn miệng chớ hơn thua, phải thường ở nơi thanh-tịnh, lánh chỗ lợi danh mới phải là người Khất-Sĩ giác-ngộ.
Tóm lại: Có giới mới có định, không giới-định thì không phải là người tu-hành, chẳng bao giờ phát huệ sanh chơn, chắc ai cũng chưa thành Phật, thì đừng khinh giới-luật. Vì giới là Phật thân hay là chưn gốc của chúng-sanh, không có nó muôn loài khó sống. Giới là trung-đạo không thái quá và bất-cập. Ai muốn đắc quả A-La-Hán ngay kiếp nầy khá mau trì giới giữ hạnh, giải-thoát ly-gia
Ta nên nhớ rằng: Muốn làm bậc gì trong xã-hội thế-gian mà không có giới-luật thì sẽ thất bại, tự chiêu kỳ họa. Vì không có giới thì tham sân si không dứt, mà tham sân si là độc khí có sẵn trong mình, nó sẽ giết mình trước khi hy-vọng thành-công.
Phạm giới, sái với kỹ-luật, phận sự vai tuồng của mình, là có tội, lỗi quấy. Người giữ đúng giới-luật, theo trình độ của mình là phước, trúng, phải. Ấy thế phước hay tội của mỗi bực là do giới-luật, vậy ai ai cũng phải có giới-luật.
Vì sự thiện ác khổ vui nhiều ít là do giới-luật. Giới-luật là nền tảng của mọi việc hay khác, kẻ nào không giới như không có chỗ đứng, nấc thang, sẽ sa ngã té xuống hố sâu, lọt vào địa-ngục, thì còn biết chi là đầu trên chưn dưới ta và người…Kẻ ấy sẽ là không có chi hết.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.24/2/2016.MHDT.
No comments:
Post a Comment