Tìm hiểu về "Cách tính Nhập mộ và Trùng tang" .
Theo cổ nhân, sinh gặp giờ, ngày tốt xấu ảnh hưởng tới
vận mệnh bản thân còn giờ chết xấu, tốt ảnh hưởng tới con cháu. Đồng thời dân
gian cho rằng người chết vẫn luôn quanh quẩn phù hộ độ trì cho cháu con nhưng
gặp phải ngày giờ chết xấu hay gặp thần trùng thì ngược lại, hồn lại về "bắt"
con cháu song điều đó có thể "hóa giải" đwowcj nhờ việc xem ngày chọn giờ làm
các việc liên quan đến tang lễ. Do vậy, ngoài việc xem thân nhân chết có “phạm
giờ” không dân ta luôn chú ý nhờ thầy hay tự tính giờ “Nhập mộ”, nhằm trấn trùng, hóa giải.
1. Cơ sở tâm linh của việc xem ngày, giờ
chết:
Theo quan niệm của dân gian, sự chết được tin là do
linh hồn rời khỏi thể xác còn khoa học ngày nay xác định cái chết bằng việc xác
định sự ngừng hoạt động của 3 cơ quan là: Phổi, Tim và Não. Nhưng cổ nhân cho
rằng, Con người sống gồm hai phần là Hồn 魂 và Thể Phách 魄. Hồn phách (H: 魂魄, A:
The soul and astral body, P: L'âme et corps astra, tức linh hồn và chơn thần)
dùng thể xác làm nơi trú ngụ. Những người già cả, chết tốt lành đúng số (考終命,
khảo chung mệnh) thì hồn rời khỏi xác và không hiện về. Ngược lại một người rơi
vào tình trạng hồn rời khỏi xác mà phạm phải năm (tuổi), tháng, ngày hoặc giờ
xấu thì linh hồn không siêu thoát được về nơi cực lạc. Khi đó Xác thì trong Mộ
mà Hồn của Vong lại lang bang ở ngoài, không nơi không chốn nương nhờ cứ quanh
quẩn nơi người thân và bị "ma xui, quỷ khiến" bắt người thân
đi.
Phật gíao coi sự chết là Tử (zh. sĭ 死, ja. shi, sa.,
pi. maraṇa), là sự sinh diệt, thăng trầm của tất cả các hiện tượng, các Pháp. Sự
sống và sự chết của con người hay của chúng sinh đều theo luật: Thành (成,
hình thành), Trụ (柱, tồn tại duy trì), Hoại (壞, hư hỏng),
Không (空, tiêu mất). Đó chính là quy luật tiến hóa của vũ trụ trong cái
vòng Trường Sinh.
Trong Tử Vi có ba vòng quan trọng cần để ý là vòng Thái
Tuế (an theo Chi năm sinh, Ðịa Chi), vòng Lộc Tồn (an theo Can năm
sinh, Thiên Can) và vòng Trường Sinh (an theo Cục, nghĩa là nạp âm của
cung an Mệnh). Ở một khía cạnh nào đó, vòng Trường Sinh tiêu biểu cho Mệnh,
vòng Lộc Tồn cho Thân và Vòng Thái Tuế cho Hạn.
Theo các sách cũ, vòng Tràng Sinh gồm có 12 sao: Trường
sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai,
Dưỡng. Khi an vào Địa Bàn, vòng Trường sinh đi liên tục thành một vòng luân hồi
phản ánh một đời người bao gồm 12 Kỳ của quá trình sống từ sinh ra đến chết cũng
như từ lúc hấp hối đến lúc đầu thai sang kiếp khác:
BẢNG 12 GIAI ĐOẠN VÒNG TRƯỜNG SINH:
|
GIAI ĐOẠN
|
CUỘC SỐNG
|
SỰ CHẾT
|
|
Trường Sinh
|
Con người được sinh ra
|
Người sống thành thi xác
|
|
Mộc Dục
|
Còn bé cần được chăm bẵm
|
Mới chết cần được tắm rửa
|
|
Quan Đới
|
Đi học, được dạy dỗ
|
Được khâm liệm
|
|
Lâm Quan
|
Đi làm, lập danh vọng
|
Được nhập vào áo quan
|
|
Đế Vượng
|
Cực thịnh về công danh, tiền
|
Được kèn trống nổi lên
|
|
Suy
|
Chuẩn bị nghỉ việc
|
Được người nhà khóc thuơng
|
|
Bệnh
|
Nghỉ hưu, ốm đau
|
Hồn cỏng vảng vất
|
|
Tử
|
Tắt thở
|
Hồn lìa xác
|
|
Mộ
|
Chôn cất, mồ mả
|
Hồn, Xác nhập vào lòng đất
|
|
Tuyệt
|
Dứt cuộc sống trần tục
|
Phần mền thi xác rữa nát
|
|
Thai
|
Đầu thai kiếp khác
|
Hồn đầu thai nơi khác
|
|
Dưỡng
|
Trong bụng Mẹ
|
Dưỡng dục thai
nhi
|
Trong 12 thời nói trên, khi ứng dụng cho tang ma, quan
trọng nhất các kỳ:
- Mộc dục với việc Tắm rửa cho người chết trước khi
khâm liệm;
- Quan Đới, Lâm Quan: Khâm liệm, đặt vào quan tài mà
phát tang;
- Mộ với việc đưa người chết về nơi “cư ngụ” mới của
họ.
Dựa vào việc xác định ngày, giờ nào hợp với Kỳ nào của
vòng trường sinh, có thể định giờ khâm liệm, phát tang, chôn cất cho phù hợp.
Việc tính Nhập mộ, Trùng tang cũng vậy.
2. Khái niệm về Trùng tang:
Tồng kết kinh nghiệm, cổ nhân cho
rằng trong thực tế, với mỗi người chết sẽ xẩy ra các trường hợp như
sau:
- Thiên di: nếu ở Cung
: Tý - Ngọ - Mão - Dậu : là dấu hiệu có sự di dời hình thức tồn tại do trời
định, là lúc "trời" đưa đi. Dự báo con cháu sẽ phải chia ly, tài sản phân tán,
tranh chấp kiện tụng.
- Nhập mộ: khi gặo Cung
: Thìn - Tuất - Sửu – Mùi. Là dấu hiệu phải "ra đi", "nằm xuống" vĩnh viễn,
không còn liên quan gì đến trần ai. Dự báo vong chết không phạm trùng tang. mãn
kiếp sa bà, con cháu làm ăn thịnh vượng, phát tài , sai
lộc.
- Trùng tang: nếu gặp
các Cung: Dần - Thân -Tỵ - Hợi, Là dấu hiệu "ra đi" không hợp số phận, không dứt
khoát, hãy còn "ảnh hưởng" tới trần ai.Dự báo sẽ có người thân chết
theo.
Như vậy, "Trùng tang là
tình trạng trong thời gian chưa mãn Đại Tang, hoặc chưa mãn tang bà con gần, lại
tiếp theo 1 cái đại tang hoặc 1 cái đại tang gần khác". Hoặc có thể gọi trùng
tang là tang chủ phải mang ít nhất 2 vòng khăn tang trong cùng một thời điểm.
Trong nhà, người thân vừa nằm xuống lại có nguy cơ liên táng là đáng lo ngại.
Dân gian cho rằng trùng tang là người qua đời gặp ngày giờ xấu, cần hoá giải để
tránh nguy cơ. Trong đó:
- Trùng tang ngày là nặng nhất
(Tam xa-7 người chết theo),
- Trùng tang Tháng là nặng nhì
(Nhị xa-5 người chết theo),
- Trùng tang Giờ là nặng thứ ba
(Nhất xa-3 người chết theo),
- Trùng tang Năm là nhẹ nhất.
- Trùng tang Năm là nhẹ nhất.
3. Chú ý khi tính Nhập mộ, Trùng
tang:
Sách Tam giáo Chính Hội viết: “Nam nhất Thập khởi Dần, thuận liên tiến, Nữ nhất
Thập khởi Thân, nghịch liên tiến, Niên hạ sinh Nguyệt, Nguyệt hạ sinh Nhật, Nhật
hạ sinh Thời. Ngộ Tý - Ngọ - Mão - Dậu Thiên di. Dần - Thân - Tỵ - Hợi Trùng
tang. Thìn - Tuất - Sửu - Mùi Nhập mộ cát dã”. Nếu được Tứ nhập mộ thì
tránh được trùng tang.
Điểm khởi đầu và thứ tự bấm Cung của
Nam và Nữ khác nhau:
* Nam giới: Từ cung Dần
khởi thuận chiều kim đồng hồ tính theo thứ tự Dần - Mão - Thìn - Tỵ - Ngọ - Mùi
- Thân - Dậu - Tuất - Hợi - Tý - Sửu. Nghĩa là: 10 tuổi tại cung Dần, tiếp 20
tuổi tại Mão, 30 tại Thìn, 40 tại Tỵ, Ngọ: 50 tuổi, Mùi: 60 tuổi, Thân: 70 tuổi,
Dậu: 80 tuổi, Tuất: 90 tuổi...
* Nữ giới: Từ cung Thân
khởi đi theo chiều ngược kim đồng hồ, theo thứ tự sau: Thân - Mùi - Ngọ - Tỵ -
Thìn - Mão - Dần -Sửu - Tý - Hợi - Tuất - Dậu. Nghĩa là : 10 tuổi vào cung Thân,
tiếp cung Mùi: 20 tuổi, cung Ngọ: 30 tuổi, cung Tỵ: 40 tuổi, cung Thìn: 50 tuổi,
Mão: 60 tuổi, Dần: 70 tuổi, Sửu: 80 tuổi, Tý: 90
tuổi...
* Đồng thời cứ được 1 Nhập mộ trở lên
là yên tâm, vì “nhất mộ sát tam trùng” (một Nhập mộ xoá được 3 Trùng
tang). Hoặc được 2 Thiên di thì cũng không lo vì “nhị thiên di sát nhất
trùng” (2 Thiên di xoá được 1 Trùng tang).
4. Cách tính Nhập
mộ:
Có 4 bước tính theo thứ tự:
Năm-Tháng-Ngày-Giờ:
Niên nhập mộ: khởi đầu
10 tuổi từ Dần với đàn ông theo chiều Thuận chiều kim đồng hồ; đàn bà khởi đầu
từ Thân và Ngược chiều kim đồng hồ. Khi hết tuổi tròn chục các năm lẻ tính vào
cung tiếp theo đến tuổi năm người đó mất. Nếu vào cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là
được năm nhập mộ.
Nguyệt nhập mộ: tháng
Giêng năm mất được bấm liền vào sau cung tuổi cho đến tháng chết. Nếu gặp cung
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là được tháng nhập
mộ.
Nhật nhập mộ: mồng Một
tháng mất được bấm liền vào sau cung tháng cho đến ngày chết. Nếu gặp cung Thìn,
Tuất, Sửu, Mùi là được ngày nhập mộ.
Thời nhập mộ: giờ Tý
ngày mất được bấm liền vào sau cung ngày cho đến giờ chết. Nếu gặp cung Thìn,
Tuất, Sửu, Mùi là được giờ nhập mộ.
Nếu cả năm, tháng, ngày, giờ đều vào
một trong các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là được “Tứ nhập mộ”, tốt, tránh được
lúc chết vướng phải giờ xấu.
5. Cách tính Trùng
tang:
Có 2 cách tính Trùng
tang:
- Thứ Nhất, Trùng tang có thể là thời
gian lúc mất, trùng năm (như người tuổi Dần mất năm Dần), trùng ngày
(như người tuổi Sửu mất ngày Sửu), trùng giờ (như người tuổi Ngọ mất
giờ Ngọ).
- Thứ Hai, là cách tính Trùng tang
theo Địa Chi giống như tính Nhập mộ kể
trên.
Lập Bảng sau dễ nhớ và theo 4
bước:
* Đầu tiên tính tuổi chết theo chẵn
chục (10, 20...) khi hết tuổi chẵn tính tiếp các tuổi lẻ theo thứ tự 1,2,3...đến
tuổi mất, tính đến đâu thì ghi lại cung
đó;
* Sau đó tính tiếp đến tháng chết vào
cung ngay sau cung tính năm, khởi từ tháng Giêng, ghi lại cung
đó;
* Rồi tính tiếp đến ngày chết vào
cung ngay sau cung tính tháng khởi từ ngày mùng 1, ghi lại cung
đó;
* Sau cùng đến giờ chết vào cung ngay
sau cung tính ngày khởi từ Tý, ghi lại cung đó. Chú ý giờ âm lịch chỉ chia một
ngày ra 12 giờ: Tý (23-01 giờ), Sửu (01-03 giờ)...Hợi (21-23
giờ).
Sau khi tính xong thì kết
luận.
6. Tổng hợp
lại:
Nếu căn cứ vào phép tính Trùng tang như trên thì cả nam
và nữ những người chết mà có tuổi âm lịch (=năm Dương lịch hiện tại - năm
sinh theo Dương lịch + 1) bằng: 10, 13, 16, 19, 22, 25, 28, 31, 34, 37, 40,
43, 46, 49, 52, 55, 58, 61, 64, 67, 70, 73, 76, 79, 82, 85, 88, 91... sẽ rơi vào
trùng tang. Từ đó quy nạp ngược lại theo hệ Can Chi thì những người có tuổi:
- Tý, Ngọ, Mão, Dậu nếu chết vào một trong các năm TÝ,
NGỌ, MÃO, DẬU thì rơi vào trùng tang;
- Hoặc: Dần, Thân, Tỵ, Hợi nếu chết vào một trong các
năm DẦN, THÂN , TỴ, HỢI thì rơi vào trùng tang;
- Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nếu chết vào một trong các năm
THÌN - TUẤT - SỬU - MÙI có nghĩa là chết vào các năm “xung” (tứ hình
xung) sẽ bị trùng tang.
7. Cách hoá giải Trùng
tang:
Dân gian cho rằng trùng tang là người
qua đời gặp ngày giờ xấu, cần hoá giải, làm cho người "ra đi" không còn "khả
năng" gây "ảnh hưởng" xấu đến người thân thiết đang
sống.
Tìm 1 bộ bài Tổ tôm cũ (tức là đã
chơi cũ rồi) bỏ mấy con Bát sách đi, số còn lại lấy rải đều ở 4 góc quan tài
trong lúc đang liệm.
* Dùng bộ bài Chắn gồm 120 quân bỏ 20
quân Yêu đi, tức là bỏ bộ Nhất và bộ Nhị, chứ không bỏ Bát sách. Kèm theo là 1
cuốn lịch Tàu hoặc bộ sách Trương Thiên Sư, và bộ Bùa trùng
tang.
* Sau khi tính ra người mất bị phạm
trùng tang thì những người thuộc tam hợp chi cùng với chi trùng tang phải tránh
mặt lúc liệm xác. VD: trùng tang tại Tị, vậy tam hợp của Tị là Dậu và Sửu bị
phạm. Những người thuộc tam hợp tuổi với người mất bị trùng tang phải tránh .
VD: người mất tuổi Hợi thì tam hợp Mão Mùi bị phạm. Ngoài tránh mặt lúc "liệm"
thì còn cần phải tránh cả lúc "nhập quan", "đóng cá" và đặc biệt là cả tránh lúc
"hạ huyệt, lấp đất".
* Trước khi liệm: Dùng 6 lá Linh phù
Lục tự Đại minh (OM MANY PADME HUM) có kích thước 31 x 10.5 cm viết theo chiều
dọc từ trên xuống dán vào thành trong của quan tài tại đầu, chân, hai bên vai,
hai bên hông. Những Linh phù này có tác dụng trấn tà khí của Linh hồn. Khi chôn:
Vong Nam 7, Vong Nữ 9 quả trứng vịt đã luộc chín, để trên nắp quan tài trên vùng
bụng, dùng một cái niêu đất úp lên trứng, sau đó lấp đất. Cách này dùng để thu
nốt những Tà khì còn sót lại. Lưu ý Linh phù được viết trên giấy vàng chữ
đỏ.
* Sau khi chôn người ta lại dùng 108
cọc tre đực dóng trên mộ, 36 cọc tre hoá đóng ở nhà. Trên mộ cột thêm 1 con quạ
hoặc gà mái đen.
* Một số người còn cho rằng có thể áp
dụng phương pháp làm huyệt giả, đổ tỏi vào huyệt khi lấp đất hay dùng thần chú,
Bát quái trận đồ trấn âm trạch để hoá
giải…
* Trùng nặng thì người ta dùng con cóc màu vàng đang
chửa để luyện thành thần tướng hộ
vong.
* Trường hợp nặng hơn thì người ta dùng bộ gạo nếp nặn
thành 12 ông thần trùng, sau khi làm phép thì dùng dao chặt đầu rồi nặn thành 1
hình nhân, dùng quan tài bằng lúc lác tẩm liệm rồi dùng 1 quả trứng vịt cắm 13
cây kim, đoạn dùng bè chuối; chọn giờ thiên giải thì thả xuôi ra
sông.
Nhưng thực ra, “sống” và “chết” chỉ là hai hiện tượng
trong tiến trình luân hồi bất tận. Vì thế, về “trùng tang” có lẽ là do tâm tưởng. Nên chuyện hoá
giải trùng tang cũng là gỡ đi sự lo lắng trong tâm tưởng của con người. Nhưng
tập tục này ăn sâu vào tâm thức mọi người nên không một ai dám coi
nhẹ. Do vậy nếu việc xem, trấn yểm, hóa giải không qua phiền phức, tốn kém, vi
phạm pháp luật thì cũng không nên gạt bỏ. Âu cũng là một việc tích đức, tu thiện
và càng hay!.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.25/2/2016.MHDT.
No comments:
Post a Comment