Tuesday, December 27, 2016

22. GIỚI: BÁT CŨ CHƯA HƯ MÀ TÌM BÁT MỚI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ ở thành Này có một người thợ gốm tên Pháp Dự mời chư Tăng về cúng dường bát. Các Tỉ-kheo vì ưa đẹp nên đem bát cũ đổi bát mới, rất nhiều người làm như vậy. Do đó, thí chủ không cung cấp nổi. Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất đến giờ khất thực, khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực, đến gia đình Pháp Dự, đứng trước cửa. Bà vợ của Pháp Dự với Tôn giả Xá-lợi-phất vốn là chỗ quen biết nhau từ trước, bà lại có lòng kính tín, nên rất hoan hỉ, cho đến nói: “Thưa tôn giả, chồng con mời chư Tăng đến cúng dường bát. Các Tỉ-kheo vì thích bát đẹp nên đem bát cũ đến đổi bát mới, khiến nhà con chứa bát cũ chất cao như núi. Gia đình con là nhà thế tục, bát mới còn không dùng, huống gì là bát cũ. Thưa Tôn giả, mọi sinh hoạt trong gia đình con chỉ trông cậy vào nghề làm bát”.
Thế rồi, Xá-lợi-phất tùy thuận thuyết pháp, khiến bà sinh tâm hoan hỉ, đảnh lễ dưới chân rồi cáo lui. Đoạn thầy trở về tinh xá, đem sự tình ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bèn bảo gọi các Tỉ-kheo đến. Sau khi họ đã đến, Phật liền hỏi: “Các ông có làm việc đó thật chăng?”
Các Tỉ-kheo đáp: “Có thật như thế, bạch Thế Tôn”.
Phật dạy: “Từ hôm nay trở đi, ta không cho các Tỉ-kheo xin bát (nơi đàn việt)”.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có 60 Tỉ-kheo ở phương Bắc muốn đến tinh xá Kỳ Hoàn đảnh lễ Phật, nhưng giữa đường bị bọn cướp lấy mất hết bát, nên không có bát để tới Kỳ Hoàn. Lúc ấy, các vị phạm hạnh mỗi người cho một cái bát. Khi họ được bát rồi bèn đi đến Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi đứng hầu một bên. Phật biết nhưng vẫn hỏi: “Này các Tỉ-kheo, các ông từ đâu đến?”.
Họ đáp: “Từ phương Bắc đến”.
Phật lại hỏi các Tỉ-kheo: “Đi đường có an ổn không?”
Họ đáp: “Không an ổn, giữa đường gặp bọn cướp nên mất hết bát, do đó, không có bát để đi vào Kỳ Hoàn, may nhờ các vị Phạm-hạnh mỗi người cho chúng con một cái bát”.
Phật lại hỏi: “Dọc đường không có thành ấp xóm làng hay sao?”
Họ đáp: “Có”.
Phật lại hỏi: “Vì sao không xin bát?”
Họ đáp: “Vì chúng con nghe Thế Tôn chế giới không cho xin bát, lại không có thí chủ”.
Phật tán thán: “Lành thay! Lành thay các Tỉ-kheo! Các ông là những người có lòng tin xuất gia, đúng phép phải như vậy, dù cho mất mạng cũng không được phạm giới. Từ nay trở đi, Ta cho phép khi mất bát được quyền xin bát”.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ 60 Tỉ-kheo ở phương Bắc bị mất bát, đi đến Kỳ Hoàn, Tôn giả Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà nói với họ: “Các Trưởng lão, Đức Thế Tôn cho phép ai mất bát được quyền xin bát, vì sao không xin?”
Họ đáp: “Các vị phạm hạnh đã cho chúng tôi bát rồi”.
Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà lại nói: “Các Vị không xin những gì mình được phép xin, thành ra thất lợi”.
Họ đáp: “Chúng tôi đã được bát rồi, thất lợi với chẳng thất, không thành vấn đề”.
Nan-đà nói: “Tôi sẽ xin giúp cho các vị”.
Họ đáp: “Thầy tự biết phải làm gì”, cho đến Ưu-bà-tắc nói: “Tôn giả muốn làm cửa hàng đồ gốm chăng?”, như đã được nói rõ ở mục xin y.
Các Tỉ-kheo nghe việc ấy, bèn đến bạch với Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đến. Khi họ đến rồi, Phật hỏi: “Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà, các ông có việc đó thật chăng?”
Họ đáp: “Có thật như vậy, bạch Thế Tôn”.
Phật hỏi: “Vì lý do gì mà xin?”
Họ đáp: “Con xin cho các Tỉ-kheo bị mất bát”.
Phật bảo gọi các Tỉ-kheo bị mất bát đến. Khi họ đến rồi, Phật hỏi: “Các Tỉ-kheo, các ông bảo Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà xin bát phải không?”
Các Tỉ-kheo đáp: “Không có, bạch Thế Tôn”.
Phật nói: “Vậy thì vì lý do gì mà xin?”.
Họ liền trình bày lại sự việc kể trên.
Phật nói với các Tỉ-kheo: “Hai ông Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà Này việc không nên xin lại xin, việc đáng xin lại không xin”.
Thế rồi, Phật nói với Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà: “Đó là việc xấu, các ông không từng nghe ta dùng vô số phương tiện tán thán thiểu dục, khiển trách đa dục hay sao? Đó là việc phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc Này để nuôi lớn thiện pháp được”.
Đoạn Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:
“Nếu Tỉ-kheo dùng bát chưa vá đến 5 lần mà vì thích đẹp, xin bát mới, thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề. Cái bát ấy phải thí xả giữa chúng Tăng, rồi Tăng đem cái bát chót nhất trao cho thầy ấy, dạy như sau: “Này Tỉ-kheo, thầy hãy nhận cái bát Này sử dụng cho đến khi vỡ”õõ, nguyên tắc phải như vậy”.

Giải thích

—Chưa đủ 5 miếng vá: Nếu có một miếng vá, hoặc từ 2 miếng cho đến 4 miếng thì gọi là chưa đủ 5 miếng vá.
—Đủ 5 miếng vá: Đã có 5 miếng vá, và mức độ đã đủ. Mức độ ở đây được quy định là chỗ vỡ được vá lại xấp xỉ bằng ngón chân cái.
—Bát: Như trên đã nói.
—Mới: Vừa hoàn thành.
—Lại tìm thêm nữa: Hoặc xin, hoặc khuyến hóa, vì thích đẹp, rồi chê bát của mình đang dùng là lớn quá, nhỏ quá, nặng quá, nhẹ quá, hoặc thô kệch quá… , tự nghĩ: “Ta có đàn việt, có đất sét, có tay nghề, ta nên làm cái bát khác cho đẹp”. Nếu như thế thì vị Tỉ-kheo Này phải cầm cái bát mới ấy đến thí xả giữa chúng Tăng. Rồi chúng Tăng chọn một cái bát kém nhất đưa cho Tỉ-kheo Này và căn dặn: “Này trưởng lão, thầy phải nhận cái bát Này sử dụng cho đến khi vỡ không được cố ý đập bể; lại phải sám hối tội Ba-dạ-đề”. Nếu không đem cái bát mới ấy xả giữa chúng Tăng mà sám hối tội Ba-dạ-đề thì phạm tội Việt tì-ni.
—Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Thầy Tỉ-kheo ấy dùng bát chưa vá (hàn) đủ 5 chỗ mà vì thích đẹp, đi tìm bát mới nên phạm Ni-tát-kì. Tỉ-kheo ấy phải mời một vị trì luật, biết làm Yết-ma và thành tựu 5 pháp, rồi Tăng làm Yết-ma cử vị Này đứng ra xử lý công việc. Vị Này phải hội đủ 5 yếu tố: Không thiên vị, không giận dữ, không sợ sệt, không si ám, ai đưa, ai không đưa đều biết. Đó gọi là 5 yếu tố. Người làm Yết-ma nên nói như sau:
“Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp thành tựu 5 pháp, nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, nay Tăng sai Tỉ-kheo mỗ giáp làm người hành bát (giải quyết công việc).Đây là lời tác bạch:
Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp thành tựu 5 pháp, Tăng nay sai Tỉ-kheo mỗ giáp làm người hành bát. Các đại đức nào bằng lòng Tỉ-kheo mỗ giáp làm người hành bát thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Tăng đã bằng lòng sai Tỉ-kheo mỗ giáp làm người hành bát xong, vì tất cả đều im lặng. Việc ấy cứ như thế mà thi hành”.
Khi làm Yết-ma xong, nên tuyên bố giữa chúng Tăng: “Những cái bát mà đại đức Tăng đang sử dụng phải đem đến tất cả”. Nếu không tuyên bố như vậy thì phạm tội Việt tì-ni.
Thế rồi, mỗi Tỉ-kheo đều phải mang cái bát mà mình đang sử dụng đến. Nếu có Tỉ-kheo nào để cái bát mình đang sử dụng ở nhà, rồi đem cái bát kém nhất đến, thì phạm tội Việt tì-ni. Người làm Yết-ma nên bảo Tỉ-kheo Này đặt cái bát ấy xuống, trật vai áo bên phải, quỳ gối bên phải xuống đất, nói: “Con là Tỉ-kheo mỗ giáp, dùng cái bát chưa đủ 5 miếng vá mà vì ưa đẹp, đi tìm bát mới, nay con đem thí xả giữa chúng Tăng”.
Vị luật sư nên hỏi: “Ông đã sử dụng chưa?” Nếu đáp rằng đã sử dụng thì nên nói: “Ông đã sử dụng bát bất tịnh (không đúng pháp) nên đã phạm vô lượng tội Việt tì-ni, phải sám hối”.
Thế rồi, vị Này phải nói: “Thưa trưởng lão, con là mỗ giáp, có cái bát dùng chưa đủ 5 miếng vá mà con lại xin bát mới, nay đem thí xả giữa chúng Tăng, trong đây phạm tội Ba-dạ-đề vì dùng bát bất tịnh, lại phạm vô lượng tội Việt tì-ni, con xin sám hối tất cả”.
Người làm Yết-ma hỏi: “Ông có thấy tội không?”
Đáp: “Thấy”.
—Cẩn thận chớ có tái phạm.
—Xin cúi đầu chấp hành.
Người hành bát (được Tăng sai) phải đem cái bát Này đến đưa cho vị lớn nhất trong Tăng (Thượng tọa). Nếu Thượng tọa thứ nhất nhận, thì phải đem cái bát của Thượng tọa đưa cho Thượng tọa thứ hai, cứ tuần tự như thế cho đến vị Tỉ-kheo không có tuổi hạ. Nếu hoàn toàn không có ai lấy, thì cái bát kia nên trao lại cho chủ cũ. Nhưng nếu cái bát ấy quí giá thì nên đem bán rồi mua 10 cái, 9 cái đem cất vào nhà bếp của chúng Tăng, một cái giao lại cho chủ cũ và bảo: “Thầy hãy sử dụng cái bát Này cho đến khi vỡ”.
Thầy Tỉ-kheo cầm cái bát vá vào thôn xóm khất thực, và khi ăn xong nên gỡ miếng vá ra, rồi dùng tro, đất rửa cho sạch. Khi rửa, không được dùng vật cứng xoi vào lỗ hủng khiến nó bể vỡ, mà nên dùng lông chim xoi vào. Khi rửa bát, cũng không được dùng cát chà xát khiến nó phai màu mà phải dùng bùn đất để chà, hoặc dùng nước rễ cây, nước lá cây, nước trái cây, nước hoa cây để rửa. Khi rửa, không được đến trên bờ hố, chỗ nguy hiểm, hoặc dưới cây xoài có trái chín, hoặc dưới cây dừa, trên tảng đá, trên gạch, chỗ đường đi, chỗ cửa mở. Khi rửa xong phải để vào trong túi rồi đem cất trên vách, trong tủ, dùng vật gì đậy lên miệng bát. Nếu có việc gấp gáp không rửa sạch được thì nên dùng nước rễ, nước lá chùi qua, để khi xong việc sẽ rửa. Sáng sớm, rửa xong mới mang vào làng khất thực. Giá như bát vá khó dùng, thì mỗi ngày dùng xong phải rửa sạch. Nếu cố ý đập bể thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu Hoà thượng, A-xà-lê, những bạn bè quen biết suy nghĩ: “Vị Tỉ-kheo hiền thiện Này vì việc rửa bát mà phương hại đến sự ngồi thiền, trì kinh, tụng kinh”. Rồi đập vỡ, hoặc đem giấu đi khiến Tỉ-kheo tìm không thấy, rồi xin cái khác, thì không có tội. Khi không có bát mà xin được môït cái thì phải sử dụng. Nếu xin được 2 cái, thì dùng một cái, một cái nên đem cất vào nhà bếp của chúng Tăng. Thậm chí, nếu xin được 10 cái thì nên dùng một cái, cò 9 cái kia nên đem cất vào nhà bếp của chúng Tăng.
Nếu Tỉ-kheo không có bát rồi đi tìm bát, bèn nhận được giá tiền của một cái bát, cũng được xem là có bát. Nếu xin được giá tiền của 2 cái bát, thì phải bỏ vào ngân quỹ của chúng Tăng giá tiền một cái. Thậm chí, nếu được giá tiền của 10 cái bát, thì nên bỏ vào ngân quỷ của chúng Tăng giá tiền của 9 cái. Thế nên nói (như trên).
Hết giới Ni-tát-kì 21
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/12/2O16.

21. GIỚI: CẤT BÁT THỪA QUÁ HẠN.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có một Tỉ-kheo đến giờ khất thực, liền khoác y, cầm bát đi đến nhà một người thợ gốm tên Pháp Dự. Pháp Dự trông thấy liền cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi đứng qua một bên. Tỉ-kheo nói:
—Tôi cần bát.
Pháp Dự bèn làm bát cúng dường. Bát Này không lớn, không nhỏ, vừa cỡ trung bình, được nung chín nhẵn bóng.
Sau khi được bát, thầy mang về tinh xá Kỳ Hoàn, các Tỉ-kheo hỏi:
—Trưởng lão, thầy được bát đó ở đâu mà không lớn, không nhỏ, vừa trung bình, được nung chín nhẵn bóng như thế?
Thầy đáp:
—Thợ gốm Pháp Dự bố thí cho tôi đấy.
Các Tỉ-kheo hỏi thế rồi, đi đến nhà Pháp Dự xin, đều được tất cả. Quá nhiều người đến xin như thế, nên Pháp Dự suy nghĩ: “Có nhiều Tỉ-kheo cần đến bát, chi bằng ta mời chúng Tăng về nhà cúng dường bát, vì chúng Tăng là phước điền tốt nhất, phước báo vô lượng”.
Nghĩ thế rồi, ông bèn đi đến tinh xá Kỳ Hoàn, tới trước Thượng tọa, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, quỳ gối chắp tay bạch:
—Con là thợ gốm Pháp Dự, xin mời đại đức chúng Tăng tới nhà con nhận cúng dường bát. Ai cần thì đến lấy.
Khi ấy, các Tỉ-kheo người thì lấy 1 cái, hoặc 2, 3, 4 thậm chí có người lấy 10 cái. Pháp Dự cung cấp không đủ. Bấy giờ, tôn giả Xá-lợi-phất đến giờ khất thực, bèn khoác y, cầm bát vào thành Xá-vệ tuần tự khất thực, lần lượt đến gia đình ấy. Người vợ của Pháp Dự vốn có tín tâm, nên rất hoan hỉ, hơn nữa, bà đã từng quen biết Tôn giả Xá-lợi-phất từ trước nên đem cái bát bằng đồng rửa sạch múc đầy thức ăn, bưng ra sớt vào bát của Xá-lợi-phất, rồi cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên. Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi bà: “Nghề nghiệp sinh kế trong nhà thế nào?”
Bà đáp: “Việc sinh kế trong nhà không được phát đạt”.
Tôn giả hỏi: “Vì sao thế?”
Bà đáp: “Chồng con mời Chư Tăng về cúng dường bát. Các Tỉ-kheo người thì lấy 1 cái, 2 cái thậm chí có người lấy 10 cái. Thế nên, làm bát cung cấp không đủ, việc sinh kế trong nhà không xoay xở nổi. Tại vì sao? Vì gia đình con, lớn nhỏ, ăn uống, trang phục, cung cấp cho vua chúa, thuế khoá đều dựa vào nghề làm đồ gốm mà sinh hoạt. Thầy là người được gia đình con tôn trọng, cúng dường, nên mới dám bộc bạch như thế”.
Khi ấy, tôn giả Xá-lợi-phất thuyết pháp rộng rãi cho bà ta sinh tâm hoan hỉ, rồi ra về. Khi về đến tinh xá, tôn giả bèn đem sự việc ấy bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi các Tỉ-kheo tới. Khi họ tới rồi, Phật hỏi: “Các ông có việc đó thật không?”
Họ đáp:“Có thật như vậy, bạch Thế Tôn”.
Phật nói với các Tỉ-kheo: “Nếu thí chủ không biết tính toán, thì người thọ nhận phải biết cân nhắc”.
Rồi Phật nói: “Từ nay trở đi, Tỉ-kheo có bát thừa, chỉ cho phép cất trong một ngày mà thôi”.
Lại nữa, khi Phật an trú tại Tì-xá-li nơi tinh xá có lầu gác trong rừng Đại lâm, nói rộng như trên. Hằng năm, dân chúng tại Tì-xá-li thường mời chư Tăng thọ trai rồi cúng dường bát. Nhưng các Tỉ-kheo không dám nhận bát, vì Thế Tôn chỉ cho phép họ chứa bát thừa trong một ngày, nếu để lâu hơn một ngày thì thành ra vật bất tịnh. Khi ấy, thí chủ nói: “Chúng con sẽ đến Thế Tôn trình bày nguyện vọng Này?”.
Thế rồi, họ đi đến Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng hầu một bên, bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Hằng năm chúng con mời chư Tăng thọ trai rồi cúng dường bát, nhưng các Tỉ-kheo không thọ nhận và nói: “Tôi nhận cái bát Này làm gì, vì chưa dùng đến mà thành ra bất tịnh rồi”. Lành thay, bạch Thế Tôn! Có phương tiện nào giúp khai thông để cho người bố thí được công đức, và người thọ dụng được lợi ích hay không?”.
Phật nói: “Ta cho phép một ngày (đã cho phép) trước kia thêm chín ngày nữa”.
Thế rồi, các Tỉ-kheo chứa bát dư đủ mười ngày, bèn cầm bát đến chỗ Phật bạch rằng: “Cái bát Này đã đủ mười ngày, giờ đây phải làm sao?”
Phật dạy: “Này các Tỉ-kheo, cái bát ấy nên tác tịnh cho các Tỉ-kheo quen biết, cứ mười hôm cất cái cũ, dùng cái mới thay đổi một lần”.
Rồi Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại Tì-xá-li tập họp lại tất cả, vì mười việc lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:
“Nếu Tỉ-kheo có bát thừa được chứa trong mười ngày, nhưng để quá mười ngày thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề”.

Giải thích

—Mười ngày: Được cất chứa trong khoảng mười ngày.
—Bát thừa: Cái bát được phép sử dụng ngoài cái bát (đã qui định).
—Bát: Có các loại: 1—bát Tham-bà; 2—bát Ô-ca-tư-ma; 3. bát Ưu-ca-tra-da; 4. bát Đa-kì-da; 5—bát Sắt; 6—bát Trí-diệp-ni; 7—bát Tất-lệ-thâu; 8—bát Thượng; 9—bát Trung; 10—bát Hạ; 11—Quá-bát; 12—Phi-bát; 13—Tùy-bát.
8. Bát thượng: Tại nước Ma-kiệt-đề, cứ một A-la-gạo được nấu thành cơm và canh rau thì đựng vừa đầy bát. Một A-la bằng một đấu 6 thăng của Trung Quốc.
9. Bát trung: Cứ nửa A-la-gạo nấu thành cơm và cả canh rau thì đựng vừa đầy bát.
10. Bát hạ: Chứa được một Bát-tha-gạo nấu thành cơm và canh rau, cứ 3 phần cơm thì một phần canh rau.
11. Quá bát: Một A-la-gạo được nấu thành cơm và cả canh rau vẫn đựng không đầy bát Này. Đó gọi là quá bát.
12. Phi bát: Chứa không hết một bát tha gạo được nấu thành cơm và canh rau. Đó gọi là phi bát.
13. Tùy bát: Tùy theo những thứ cần thiết mà đựng vào trong đó.
Ở đây, nếu cất bát thượng, bát trung, bát hạ quá 10 ngày, thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề, ngoài ra cất các loại bát khác không phạm.
—Ni-tát-kì Ba-dạ-đề: Như trên đã giải thích.
Nếu Tỉ-kheo vào ngày mồng một đầu tháng nhận được 10 cái bát mà không tác tịnh, để qua khỏi ngày thứ 10, thì tất cả các bát ấy đều phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề. Giá như ai không hiểu cách thọ trì, không hiểu cách tác tịnh, thì nên dạy họ thọ trì như thế, tác tịnh như thế. Nghĩa là như trong giới trường y thứ nhất đã trình bày rõ, ở đây chỉ khác là bát thay vì y mà thôi. Thế nên nói (như trên).
Hết giới Ni-tát-kì 20.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/12/2016.

20. GIỚI: MUA BÁN VÀNG BẠC.

Khi Phật an trú tại tinh xá có lầu gác trong rừng Đại lâm, nơi thành Tì-xá-li, nói rộng như trên. Bấy giờ Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà mua vàng từ các nhà hoàng tộc rồi bảo thợ kim hoàn của các hoàng tộc làm dụng cụ trang sức bằng chuỗi anh lạc. Khi làm xong đem mài giũa phát sáng, cất vào trong va li, dùng tấm lụa màu hoa sen xanh phủ lên trên, rồi đưa cho Sa-di, dặn rằng: “Ta dẫn ngươi đến các nhà hào quí, nếu ta bảo ngươi mở nắp va li, thì ngươi chỉ mở lộ ra một góc”. Thế rồi, họ dẫn Sa-di đến các nhà hào quí. Phụ nữ các nhà ấy trông thấy họ đến, liền ra cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên, và hỏi: “Vật gì đựng trong va li Này vậy?”
Họ đáp: “Hỏi cái Này làm gì? Đó không phải là điều các người nên hỏi”.
Vì không cho xem, nên các bà ân cần nói với Sa-di: “Mở ra cho chúng tôi xem với”.
Sa-di bèn mở hé ra cho xem một góc. Màu xanh càng giúp cho xâu chuỗi nổi rõ màu sắc, và ánh mặt trời chiếu vào càng làm rực rỡ chói mắt. Mấy bà liền hỏi: “Vật Này của ai vậy?”
Họ đáp: “Hỏi cái Này làm gì? Ai có vàng đem chế tạo ra tức là chủ nhân”.
Mấy bà lại hỏi: “Giá vàng bao nhiêu?”
Họ liền đáp đúng như thật: “Giá vàng chừng đó, tiền công chừng đó”.
Mấy bà liền tán thán: “Thực là đại quí!”
Họ nói: “Vì sao bà lại “chê”của quí? Tôi đưa cho bà giá tiền chừng đó liệu bà có làm được không?”
Trong số đó có người thành tín nói: “Đúng như thầy dạy, làm cũng thật là khó, không thể nào làm nhanh được”
Trong số đó có một phụ nữ, hoặc là có của riêng hoặc là của của cha mẹ, hoặc là tài sản của mẹ chồng, hoặc là tài sản của chú Ưu Ba Nan bác, hoặc là tài sản của chồng, hoặc là của giữ riêng cho gia đình, bèn lấy mua chuỗi anh lạc đó. Vì lúc ấy người Này không mua vàng tại cửa hàng, cũng không thuê thợ kim hoàn làm, cho nên chủ nhân các tiệm vàng và những thợ kim hoàn đều chỉ trích rằng: “Vì sao Sa-mônThích tử lại đoạt mất nguồn lợi tức của người ta?”
Các Tỉ-kheo liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo đi gọi Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi: “Có thật các ông mua vàng từ các nhà hoàng tộc, rồi bảo thợ kim hoàn làm thành đồ trang sức không?”
Ho đáp: “Có thật như vậy, bạch Thế Tôn”.
Phật khiển trách: “Đa, đó là việc xấu. Ông không từng nghe ta dùng vô số phương tiện chê trách đa dục, ca ngợi thiểu dục hay sao? Đó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp”. Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang ở tại Tì-xá-li phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:
“Nếu Tỉ-kheo mua bán các thứ sinh sắc, tợ sắc thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đềà”.

Giải thích

—Sinh sắc: Vàng.
—Tợ sắc: Bạc.
Hoặc dùng vàng đổi lấy vàng, dùng vàng đổi lấy bạc, dùng vàng đổi lấy vàng bạc; hoặc dùng bạc đổi lấy bạc, dùng bạc đổi lấy vàng, dùng bạc đổi lấy vàng bạc; hoặc dùng vàng bạc đổi lấy bạc, hoặc dùng vàng bạc đổi lấy vàng bạc. Hoặc dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại không thể làm ra vàng; hoặc dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại làm ra vàng; hoặc dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại có thể hay không thể làm ra vàng; hoặc dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại làm ra vàng hay không thể làm ra vàng. Dùng loại làm ra vàng đổi lấy loại làm ra vàng trong 4 trường hợp; dùng loại làm ra vàng đổi lấy loại không thể làm ra vàng trong 4 trường hợp; dùng loại làm ra vàng không làm ra vàng và làm, hoặc không thể làm ra vàng trong 4 trường hợp, đều như trên. Hoặc dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại không thể làm ra bạc, hoặc dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại làm ra bạc; dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại có thể hay không thể làm ra bạc; dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại làm ra bạc hay không làm ra bạc và có thể hay không thể làm ra bạc. Các loại làm ra vàng trong 4 trường hợp làm hay không làm ra vàng 4 trường hợp, làm ra vàng hay không làm ra vàng và vừa có thể vừa không thể làm ra vàng trong 4 trường hợp, cũng như trên. Hoặc dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại không thể làm ra vàng bạc; dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại làm ra vàng bạc; dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại có thể hoặc không thể làm ra vàng bạc; dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại có thể làm và không thể làm ra vàng bạc. Ngoài ra, làm dụng cụ bằng vàng, làm không làm dụng cụ bằng vàng, làm thành vàng không làm thành vàng và làm không làm dụng cụ bằng vàng 4 trường hợp, đều như trên. Về những dụng cụ được làm bằng bạc theo 12 cách trong 4 trường hợp và những kim hoàn hợp chế bằng vàng bạc theo 12 cách trong 4 trường hợp cũng được nói rộng như trên.
HẾT PHẦN HAI CỦA NI-TÁT-KÌ.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/12/2016.

19. GIỚI: BUÔN BÁN.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên, bấy giờ, nhóm 6 Tỉ-kheo mua các thứ sinh tô, dầu, mật, đường phèn, sữa, sữa chua tại giữa chợ để dùng, nên bị người đời chê trách rằng: “Vì sao Sa-mônthích tử không chịu khất thực mà đến các chợ mua thức ăn để ăn, mất hết cả phép tắc Sa môn, có đạo nào như thế?”
Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật liền bảo gọi nhóm 6 Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi: “Có thật các ông mua các thức ăn tại chợ nên bị người đời chê trách không?”
Họ đáp:”Có thật như vậy, bạch Thế Tôn”.
Phật khiển trách: “Đó là việc xấu, đáng bị người chê trách. Các ông không nghe ta thường khen ngợi thiểu dục, khiển trách đa dục hay sao?. Đó là việc phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp”.
Thế rồi, Phật truyền lệnh cho tất cả các Tỉ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi, cũng phải nghe lại:
“Nếu Tỉ-kheo mua bán các thứ thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đềà”.

Giải thích

—Các thứ: Hoặc tự hỏi giá, hoặc nhờ người khác hỏi giá, hoặc tự thách giá, hoặc nhờ người khác thách giá, hoặc tự hạ giá, hoặc nhờ người khác hạ giá.
—Tự hỏi giá: Như hỏi: “Vật Này giá bao nhiêu?”. Và họ đáp: “Bán cho ông giá chừng đó”. Rồi hỏi: “Tôi mua với giá đó được không?”Vì cách hỏi không thanh tịnh, nên phạm tội Việt tì-ni. Nếu mua được vật ấy thì phạm Ni-tát-kì.
—Sai người khác hỏi: Như bảo: “Ngươi đến hỏi xem vật ấy họ đòi bao nhiêu”. Hoặc bảo: “Nếu họ đòi giá chừng đó thì ngươi nên trả cho họ”. Vì sai người ta hỏi những lời bất tịnh nên phạm tội Việt tì-ni. Nếu mua được vật đó thì phạm Ni-tát-kì.
—Thách giá: Chẳng hạn họ hỏi: “Vật Này giá bao nhiêu?”Rồi mình đáp: “Tôi bán cho ông với giá đó”. Và người kia nói: “Tôi muốn mua với giá đó”. Do tranh nhau thách trả nói những lời bất tịnh nên phạm tội Việt tì-ni. Nếu bán được vật đó, thì phạm Ni-tát-kì.
—Sai người thách giá: Như bảo tịnh nhân: “Ngươi đến thách giá như vậy. Nếu được giá đó thì bán”. Vì nói lời bất tịnh nên phạm tội Ni-tát-kì.
—Hạ giá: Như hỏi: “Giá vật Này bao nhiêu?”Rồi Họ đáp: “Một nghìn”, và mình nói: “Tôi trả cho ông 800”. Nếu họ đòi 900, rồi mình nói: “Tôi trả 700”… cho đến 10. Vì mong mua được vật của người ta mà bớt giá một cách bất tịnh, nên phạm tội Việt tì-ni. Nếu mua được thì phạm Ni-tát-kì.
—Sai ngưòi hạ giá: Cũng như vậy. Nếu căn cứ theo thời giá mà đi mua các vật, như vật dùng ban đêm, vật dùng trong 7 ngày, vật dùng suốt đời, vật tùy thân, vật nặng, vật bất tịnh, vật vừa thanh tịnh vừa bất tịnh, khi nói thì phạm tội Việt tì-ni, khi mua được thì phạm tội Ni-tát-kì. Nếu hỏi mua các vật dùng 7 ngày, trọn đời, tùy thân, vật nặng, vật vừa thanh tịnh vừa bất tịnh… , thì khi hỏi mua cũng phạm tội như vật dùng ban đêm kể trên.
Tại chợ, giá vải đã được quy định sẵn, Tỉ-kheo đem tiền đến mua vải, khi đặt tiền xuống sạp thì nên nói với chủ sạp: “Đây là giá tiền của tấm vải đó”. Nếu không nói (mà đặt tiền xong) im lặng cầm vải đi thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu mua dù lọng, rương, giày da, quạt, mía, cá, sữa chua, dầu, mật… các vật ấy cũng như vậy.
Có những quốc gia, việc mua bán tại các chợ đã có phép nhất định, người mua chỉ cần cầm tiền đặt ở chỗ vật cần mua, và người chủ sạp gật đầu, thì biết là đồng ý bán. Nhưng Tỉ-kheo khi mua cũng phải nói: “Giá tiền của vật Này đây”. Người chủ sạp biết hay không biết, đều phải nói như thế. Nếu không nói như thế mà im lặng cầm món hàng đi thì phạm tội Việt tì-ni.
Nếu món hàng đáng giá 50 đồng mà người chủ sạp thách giá 100 đồng, rồi Tỉ-kheo nói: “Tôi chỉ trả 50 đồng”. Chỉ mong mua với giá như vậy, thì không gọi là bớt (hạ) giá.
Nếu Tỉ-kheo biết người đứng trước mình đang muốn mua vật nào đó thì không được tranh mua mà nên hỏi: “Bà đã thôi chưa?”Nếu họ nói: “Tôi đang cố mua với giá đó”. Bấy giờ Tỉ-kheo không nên xen vào tranh mua với họ. Nếu mua thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng nếu người mua nói: “Tôi dừng rồi”, thì Tỉ-kheo nên nói với người chủ sạp: “Tôi muốn mua vật kia với giá đó”.
Nếu Tỉ-kheo trao đổi y bát với nhau thì không được làm trung gian tranh giành. Nếu tranh giành thì Phạm tội Việt tì-ni. Nếu người trước đã bỏ cuộc, rồi mình đổi lấy thì không có tội.
Nếu bán đồ vật giữa chúng tăng thì được phép ra giá, khi bán được thì không có tội.
Nếu Hòa thượng, A-xà-lê muốn mua lấy thì không được tranh giành. Nếu Tỉ-kheo với Tỉ-kheo mua bán đổi chác, nói những lời bất tịnh để mua thì không có tội. Đối với 96 hạng người xuất gia, dùng những lời bất tịnh trao đổi với họ để mua được vật thì không có tội.
Nếu Tỉ-kheo thấy người ta bán bát bèn suy nghĩ: “Cái bát Này đẹp, nếu đem đến nơi kia bán sẽ được lời”, rồi mua, thì phạm tội Việt tì-ni. Trái lại, nếu suy nghĩ: “Ta có vật Này mà không có tịnh nhân, đây là vật thanh tịnh”, thì được mua mà không có tội. Khi đến đó, hoặc Hòa thượng, A-xà-lê cần đến, hoặc mình bị bệnh, hoặc muốn làm công đức, được giá cao bèn bán đi mà không vụ lợi, thì không có tội. Đối với tất cả các vật khác cũng như vậy.
Nếu Tỉ-kheo khi cất giữ lúa suy nghĩ: “Loại Này về sau sẽ quí giá”, thì khi cất giữ phạm tội Việt tì-ni, khi đem bán, phạm Ni-tát-kì. Nếu suy nghĩ: “Sợ lúc nào đó giá lúa đắt đỏ, bấy giờ ta sẽ bán lúa Này và nhờ đó mà ta yên tâm tụng kinh ngồi thiền, hành đạo”. Đến khi đó, quả nhiên lúa đắt đỏ, thì hoặc dùng để ăn, hoặc cho Hoà Thượng, A-xà-lê, hoặc dùng làm công đức, còn thừa ra đem bán được lời, thì không có tội.
Nếu Tỉ-kheo cất thảo dược với suy nghĩ: “Sau Này giá đắt ta sẽ bán”, thì phạm tội Việt tì-ni. Về sau đem bán thật thì phạm tội Ni-tát-kì.
Nếu Tỉ-kheo mua thuốc với suy nghĩ: “Về sau Này khi có bệnh sợ giá thuốc đắt đỏ khó mua”, nhưng sau đó nếu không bệnh, hoặc uống còn thừa đem bán có lợi, thì không có tội.
Nếu Tỉ-kheo kinh doanh thuê thợ làm đồ gốm, thợ mộc làm việc, nói những lời bất tịnh, thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu đi thuê các loại thợ như thợ hồ, thợ vẽ, thì cũng như vậy. Nếu đi thuê xe ngựa, bò, lừa, lạc đà, người, thuyền… cũng như vậy.
Nếu Tỉ-kheo phụ trách công việc hằng tháng cho chúng Tăng, ra chợ mua các loại sữa, dầu, gạo, đậu, lúa mạch, bún, bột mì, khi đi tìm mua các thứ đó, nói những lời bất tịnh, thì phạm tội Việt tì-ni. Hoặc tự mua cho chính mình các thứ sữa, dầu… nói những lời bất tịnh thì phạm tội Việt tì-ni. Khi đã mua được thì phạm Ni-tát-kì.
Nếu Tỉ-kheo lúc đi mua đồ khen chê một cách trung thực về những vật ở trước người rằng: “Cái Này tốt, cái Này xấu, hoặc thô, hoặc tế, hoặc cân lượng lớn, nhỏ, thơm, thối… thì không có tội. Nếu người bán hàng nói: “Tôi sẽ cân đo đầy đủ”. Tỉ-kheo nên nói: “Ông bán đúng với giá Này thì thôi”.
Nếu Tỉ-kheo khất thực có mì, bún, thừa đem ra cửa hàng đổi sữa, dầu, tô lạt, nói những lời bất tịnh thì phạm tội Việt tì-ni. Khi đổi được thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đềà.
Tỉ-kheo không được đến những cửa hàng của những người tại chợ búa ồn náo để mua đồ, mà được đến những cửa hàng ít người, nói: “Nên biết rằng tôi mua với giá Này đây”. Tất cả đều nên nói như thế.
Nếu Tỉ-kheo khất thực có bún dư thừa, đem cho người khác để nhờ họ sửa chữa giày dép, nói những lời bất tịnh thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu trước đó cho người ta bún, sau đó người ta sửa chữa giày giúp, hoặc nguời ta sửa chữa trước, sau đó mình cho họ bún thì không có tội.
Nếu Tỉ-kheo dùng thức ăn thừa trong bát đem thuê người bảo họ sửa chỗ đi kinh hành, nói những lời bất tịnh, thì phạm tội Việt tì-ni. Chỉ nên nói rằng: “Hãy biết cái Này”. Nếu trước cho ăn, sau nhờ họ làm, hoặc trước nhờ họ làm, sau cho họ ăn, thì không có tội.
Có đàn việt muốn giúp đỡ Tỉ-kheo bèn đưa tiền cho chủ quán, nói: “Nếu Tỉ-kheo mỗ giáp hằng ngày đến đây có cần thứ gì thì tùy ý đưa cho thầy ấy”. Về sau, khi cần đến đòi hỏi, nói những lời bất tịnh, thì không có tội. Thầy Tỉ-kheo ấy đòi đồ vật mà ở sạp hàng không có, nên chủ quán đưa tiền cho Tỉ-kheo đến chỗ khác tìm mua, rồi Tỉ-kheo đến chỗ khác tìm mua vật mình cần, nói những lời bất tịnh, khi được vật thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đềà.
Tỉ-kheo đến cửa hàng dùng bất tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ, hoặc tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ, hoặc bất tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ, hoặc tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ.
—Bất tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ: Như hỏi người chủ sạp: “Vật Này đòi giá bao nhiêu? Tôi muốn biết giá của nó”.
—Tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ: Biết vật đó đề giá như thế, nhưng trả: “Tôi muốn mua với giá đó”.
—Bất tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ: Vật đó họ đòi giá như thế, nhưng nói: “Tôi mua với giá đó”.
—Tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ: Biết vật ấy giá chừng đó và mình mua đúng với giá đó.
Hai trường hợp Bất tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ và tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ, phạm tội Việt tì-ni. Trường hợp bất tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ, phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đềà. Trường hợp Tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ không có tội. Thế nên nói (như trên).
Hết giới Ni-tát-kì 18.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/12/2016.
OAI NGHI VÀ LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI XUẤT GIA.


Đời người xuất gia rất thanh cao .Trong các oai nghi Đl thích nhất là ăn ngọ và không ăn phi thời .Lúc trước do không hiểu nhiều lúc đói cũng hay ăn khuya khi hiểu rồi cho dù đói cũng không dám chỉ uống nước rồi đi ngủ .Đl trích dẫn cho những ai chưa hiểu ,hy vọng qua đây các Liên Hữu đều thực hành giống Đl .Cuộc sống chung quanh ta còn rất nhiều điều mà ta chưa hiểu rõ . Sau đây là các oai nghi và đạo đức của người xuất gia . 1.Không mở trai đàn. 2. Lợi hòa đồng phân. 3. Sống chung với côn trùng và bụi bặm. 4. Ở ẩn bên suối. 5. Tiền rơi không nhìn . 6. Không giữ vải và lương thực . 7. Không nhớ đến tiền. 8. Cửa không đóng. 9. Chân nhân không lộ tướng . 10. Mặc lá sen, ăn hạt tùng . 11. Làm bạn với chim muông. 12. Thiểu dục tri túc. 13. Ước mong biển chúng thanh tịnh . 14. Đắp một y, ăn một bữa . 15. Một mình giữ cửa chết. 16. Không ăn tối. 17. Hoá duyên trái lẽ . 18. Thầy giảng pháp.

Ở tỉnh Triết Giang, vùng Triệu Hưng, vào mùa an cư, những hành giả tham thiền, nếu mỗi tối làm cơm ăn, gọi là “phóng tam phạn” (bữa cơm thứ ba). Tương truyền, tập tục ăn bữa cơm này rất thịnh soạn, rất nhiều thức ăn, xa xỉ hơn bữa cơm ngọ. Cái tập tục hư hại này lại được truyền rất lâu dài. Thuở xưa, có một vị tiền bối đạo đức cao siêu (tức Thiền sư Pháp Huệ) nghe chúng Tăng phòng bên cạnh làm thức ăn sau giờ ngọ không ngăn được nước mắt, than thở Phật pháp thời kỳ suy đồi, cho nên, cấm người xuất gia ăn quá giờ ngọ, huống chi đêm hôm lại ăn ư? Trong giới luật có ghi: “Người đời khua chén bát ra tiếng, ngạ quỷ nghe không kềm chế được cơn đói, trong cổ tự nhiên lửa bừng cháy”. Huống chi đêm hôm mọi người đã yên nghỉ, khua động chày, máy, mâm, chén… âm thanh truyền vào tai người ta, lại chiên, rán, nấu, thổi, nướng… hương vị truyền vào mũi người ta. Không nhớ rằng đối với chúng sanh phải từ bi dạy bảo, lại phóng túng dục vọng cho thoả bụng miệng, tâm như thế có thể yên ổn ư? Hoặc hỏi: ‘Nửa đêm bụng đói phải làm sao”? Có thể ăn vài loại quả trái cây, bánh kẹo, không phải động đến nồi niêu, vật thực nấu nướng, lại có thể đỡ đói. Huống nữa, người ta giữ ngọ, từ sau buổi trưa cho đến sáng hôm sau, trong khoảng thời gian đó, ngoại trừ uống nước, không ăn một thứ gì nữa. Chúng ta buổi tối dùng mấy thứ bánh kẹo, cây trái, thuốc dưỡng sinh cho đỡ đói lại còn không biết đủ, quả là thái quá đi rồi. 

Phụ: 

Luật Phật chế là căn cứ lập trường của một thầy thuốc, cho rằng ăn đúng giờ ngọ là điều kiện sống khỏe mạnh và trường thọ, rất phù hợp với thực tại bây giờ. Ngày nay y học cũng đã chứng minh được điều này. Trước kia, phương pháp làm thức ăn bằng nhiệt lượng cao, nhiều tròng trắng trứng đã bị phá hủy, phương pháp làm thức ăn này chỉ là con đường dẫn đến sự béo phì, cao huyết áp, sơ cứng động mạch… những tâm bệnh, rất dễ đưa đến tử vong nhanh chóng. Ăn chay có thể tránh được những thứ tâm bệnh này và ngừa ung thư. Điều này cũng đã được chứng minh và phổ biến rồi. Bữa ngọ ăn ít, người sẽ gầy một chút, nhưng tuyệt đối không dẫn đến kém dinh dưỡng, tinh thần lại rất tốt. Đạo gia cũng có nói rằng: “Anh muốn sống lâu, trong ruột phải thanh tịnh”. Ngày nay người ăn ít sống lâu rất nhiều, như lão Hòa thượng Quảng Khâm, lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, đều hơn 90 tuổi. Nhìn lại, trên từ Phật Thích Ca, dưới đến lịch đại chư vị tổ sư, không một ai không tu khổ hạnh mà được thành tựu, thậm chí có ngày chỉ ăn một hạt mè, một hạt lúa, đâu đâu cũng có. Mạnh Tử cũng nói: “Kẻ muốn làm việc lớn trong thiên hạ, tất trước phải nhọc gân cốt mình, đói thân thể mình, khổ tâm trí mình, làm mà không rối loạn, đây gọi là động tâm nhẫn tánh, chỗ lợi ích tăng thêm không ít”. Tài năng sửa trị việc đời còn cần phải ‘nhọc gân cốt, đói thân thể’, huống chi người xuất thế hướng đến đại đạo vô thượng, có thể ‘suốt ngày no nê’, vừa đói là ăn hay sao? 

Huống nữa, “no ấm thì nghĩ chuyện dâm dục”, sẽ là chướng ngại lớn cho việc tu hành, người xuất gia không thể không biết việc đó. Lợi ích của việc ăn đúng ngọ rất lớn. Nhỏ thì có thể kéo dài tuổi thọ, thân thể kiện khương, lớn thì có thể liễu sanh thoát tử. Bởi trong Bát quan trai giới thì chính là 8 giới với một ‘trai’. Trai có nghĩa là ăn đúng ngọ. Công đức của Bát quan trai giới lớn đến mức độ nào? Người tu Tịnh độ nếu như giữ thêm 8 giới quan trai, vãng sanh tất không bị rối loạn. Niệm Phật trong một khoảnh khắc rất quan trọng. Nếu lúc lâm chung không như pháp ‘nhất tâm bất loạn, tâm bất điên đảo’, rất dễ tuỳ theo nghiệp mà đi, rất nguy hiểm! Vạn nhất tâm rối loạn, điên đảo thì phải làm sao? 

Thứ nhất, phải nhờ sự trợ niệm của đạo tràng niệm Phật, nhắc nhở chánh niệm, đánh khánh dẫn dắt, xem tượng Phật…Vì vậy, tổ chức đạo tràng ‘liên xã liên hữu’ cũng rất quan trọng, đây cũng là một phương diện phản ánh pháp môn niệm Phật của Đại thừa, nhập thế và tinh thần bình đẳng. 

Thứ hai, chính là nhờ vào sự trì giới, bảo đảm có sức mạnh rất lớn. Người xem kinh Dược Sư đều coi trọng việc tiêu tai thêm thọ, đâu biết rằng lợi ích lớn nhất mà Phật Dược Sư cho chúng sanh ở cõi Ta bà này chính là vãng sanh sang thế giới Lưu Ly Tịnh độ của Ngài ở phương Đông và thế giới Tây phương Cực lạc của Phật A Di Đà. Trong kinh có nói như sau: 

“Lại nữa, Mạn Thù Sư Lợi, nếu có bốn chúng, Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di và những người có niềm tin thanh tịnh, thiện nam, tín nữ… có thể thọ trì tám phần trai giới, hoặc trải qua một năm, hoặc ba tháng, thọ trì những điều đã học, thì nhờ thiện căn này mà nguyện sanh sang thế giới Tây phương cực lạc, nghe chánh pháp đức Phật Vô Lượng Thọ nói; còn chưa được định, nếu nghe danh hiệu đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, lúc lâm chung có tám vị Bồ tát lớn: Văn Thù Sư Lợi, Quán Thế Âm, Đắc Đại Thế Chí, Vô Tận Ý, Bảo Đàn Hoa, Dược Vương, Dược Thượng, Di Lặc, tám vị Bồ tát này từ trên hư không mà đến, chỉ cho con đường để đến thế giới kia, từ trong hoa báu nhiều màu tự nhiên hoá sanh”. 

Xem đó có thể thấy rằng, giữ giới chỉ có ba tháng thì đã có 8 vị Bồ tát lớn đến đón về Tây Phương, sự việc vô cùng tiện nghi. Lòng từ của chư Phật và Bồ tát nghĩ ra rất nhiều phương tiện cho chúng sanh, chỉ vì chúng ta không biết lợi dụng đó thôi. Cho nên, người niệm Phật nếu như chưa được nhất tâm bất loạn thì nên giữ giới, ăn đúng ngọ cho tốt! 

Lợi ích của người xuất gia 

Chư vị đại đức thuở xưa có nói: “Người tốt nhất chính là người xuất gia”; trong dân gian cũng có lưu truyền một câu như thế này: “Một người con xuất gia chín đời tổ tiên được sanh thiên” (nhất nhân hành đạo cửu huyền thăng). Những câu nói như vậy đều là tán thán, khen ngợi người xuất gia, nhưng chưa nói xác định rõ ràng chỗ lợi ích của người xuất gia. Suy cho cùng thì lợi ích của người xuất gia là ở chỗ nào? Thật khó nói, người xuất gia không cần phải cấy cày, không đi dệt vải mà vẫn có cơm ăn, có áo mặc, đó là lợi ích của người xuất gia sao? Hoặc giả nói, không cần phải mua nhà, không cần phải thuê phòng, nhưng vẫn có chỗ cư trú, đó là lợi ích của người xuất gia? Hoặc nói, quốc vương đại thần ủng hộ, tín đồ thí chủ cung kính, trên không bị quan lại bắt đi lính, dưới không bị thứ dân quấy nhiễu mà lại được tự nhiên vui vẻ, thanh nhàn, phóng khoáng, đó là lợi ích của người xuất gia? 

Người xưa có bài kệ nói vầy: 

“Hạt gạo của thí chủ 

Lớn tựa núi Tu di 

Nếu đạo lớn không thành 

Mang lông đội sừng trả” 

Lại nói: “Một ngày kia lão Diêm Vương tính toán cơm tiền với anh, xem anh lấy gì bồi thường?”. Xem đây đủ thấy, người xuất gia, trái lại nấp kín bên trong một cây đại tai họa, lại còn nói là lợi ích sao? Cái gọi là lợi ích của xuất gia chính là có thể thoát được phiền não, dập tắt vô minh, chứng được vô sanh pháp nhẫn, liễu thoát sanh tử, đây mới là việc làm tối thắng, cao quý hơn hết, trong loài trời, người. Hơn nữa, cha mẹ dòng họ cũng có thể nhờ đây mà ân triêm đức hạnh. Nếu không như lời này, dù có giàu có đến thiên vàng vạn bạc, cho đến được vinh hiển làm quốc sư cho bảy đời Hoàng đế đi nữa (như Thanh Lương quốc sư) cũng chẳng có lợi ích gì để nói! Thật tại tôi vạn phần lo sợ, sợ phạm vào lỗi lầm lớn này, đồng thời nói với các bạn đồng tu cùng nhau cảnh giác, lo sợ mà gắng tu. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/12/2016.

Monday, December 26, 2016

18. GIỚI: CẦM CỦA TIỀN VÀNG BẠC.

Khi Phật an trú tại vườn Trúc Ca-lan-đà ở thành Vương Xá, nói rộng như trên, bấy giờ thôn trưởng của thôn Châu-la đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, rồi đứng qua một bên, bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Trước đây các vị đại thần, Bà-la-môn, Cư sĩ, Trưởng giả họp tại cung điện Vua cùng nhau nghị luận. Có người thì nói Sa-môn Thích tử nên cất giữ vàng bạc. Có người thì nói không nên cất giữ. Vậy ai nói thật, nói đúng pháp, nói tùy thuận pháp, nghị luận không trái nghịch với phép tắc hiện tại?”
Phật đáp: “Sa-mônThích tử không nên cất giữ vàng bạc. Nếu có ai nói nên cất giữ, thì đó là phỉ báng ta, không thật, không đúng pháp, không tùy thuận, là lời nghị luận trái với phép tắc hiện tại. Vì sao vậy? Vì nếu được cất giữ vàng bạc thì cũng được duy trì ngũ dục. Ngũ dục là: Mắt phân biệt sắc pháp sinh ra ái nhiễm, cho đến thân xúc chạm sinh ra ái nhiễm. Phải biết rằng đó không phải là pháp của Sa-mônThích Tử”.
Vị Thôn trưởng nói: “Thật là kỳ lạ, Bạch Thế Tôn! Chưa từng có việc như thế. Bạch Thế Tôn! Như Thế Tôn nói Sa-môn Thích tử không nên cất giữ vàng bạc. Nếu cất giữ vàng bạc thì không phải pháp của Sa môn, không phải pháp của dòng họ Thích. Vì thế, nay con xin quy y Phật, quy y pháp, quy y Tăng. Con là đệ tử tại gia của Phật, xa lìa sát sinh, Thế Tôn hãy chứng minh cho con. (nói như thế 3 lần) cho đến: Không uống rượu. Trước đây con đã suy nghĩ: Sa-môn Thích tử không nên cất giữ vàng bạc. Nếu ai cất giữ thì chẳng khác gì người hưởng thụ ngũ dục”.
Bấy giờ Thế Tôn liền tùy nghi thuyết pháp chỉ dạy Thôn trưởng khiến ông được lợi ích, hoan hỉ, giống như tấm lụa sạch dễ thấm màu nhuộm. Ông liền thấy được lý Tứ Đế ngay tại chỗ ngồi, bèn bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn! Người thế tục có nhiều công việc, con xin từ biệt trở về”.
Phật nói: “Ông nên tự biết đúng lúc”.
Ông liền đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu bên phải rồi ra đi.
Sau khi ông đi không bao lâu Phật bèn đến chỗ có đông Tỉ-kheo trải tọa cụ ngồi, nói với các Tỉ-kheo: “Vừa rồi thôn trưởng Thôn Chu La đến chỗ ta (như trên đã nói cho đến) nhiễu bên phải rồi ra đi”.
Đoạn Phật nói với các Tỉ-kheo: “Các thầy phải học như sau: “Không được cất giữ vàng bạc. Ta không có lý do gì được phép cất giữ vàng bạc”.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Thế Tôn vì năm việc lợi ích nên cứ năm hôm đi thị sát phòng ở của các Tỉ-kheo một lần. Ngài đến chỗ ở của Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà. Khi ấy, Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà vừa đếm tiền nên tay bị dính đất, liền đi đến đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua một bên. Phật biết nhưng vẫn hỏi: “Tay các thầy vì sao dính đất như thế?”
Họ liền đáp: “Bạch Thế Tôn! Con vừa đếm tiền, nên tay bị dính đất”.
Phật liền nói với Nan-đà: “Vì sao các thầy lại dùng tay để cầm “sinh sắc”, “tợ sắc”? Từ nay ta không cho phép các thầy tự tay cầm “sinh sắc”“tợ sắc”.
Lại nữa, khi Phật an trú tại tinh xá có lầu gác trong rừng nơi Tì-xá-li, nói rộng như trên. Khi ấy, Ưu-đà-diđến giờ khất thực, bèn khoác y, cầm bát đi tới nhà một người thợ hồ. Nhà ông Này vừa làm lễ khánh hạ xong, bà vợ bèn bước ra nghênh đón làm lễ, hỏi: “Tôn giả, hôm qua vì sao không đến? Nếu đến thì đã được thức ăn uống ngon rồi”.
Thầy liền đáp: “Hôm qua, bữa nay thì có sao đâu? Nếu có thức ăn ngon thì hãy mang ra đây”.
Bà liền nói: “Thức ăn ngon hết rồi, nay con xin gởi tiền để tôn giả đến quán ăn mua thức ăn ngon khác”.
Thầy nói: “Đức Thế Tôn chế giới, không cho ta tự tay cầm tiền. Bà hãy đem tiền buộc vào chéo y của ta”.
Bà theo lời chỉ bảo, đem tiền buộc vào chéo y, rồi thầy ra đi, đến một quán bán bánh, nói với chủ quán: “Lão trượng, hãy mang bánh cho tôi”.
Ông ta nói: “Tôn giả cho tôi xem tiền đã”.
Ưu-đà-dinói: “Ông chỉ cần đưa bánh cho ta, ta sẽ trao tiền cho ông ngay tại đây thôi”.
Ông liền nói: “Tôn giả hãy đưa bát ra”.
Thế rồi, ông liền đem các thứ bánh bỏ vào đầy bát, và nói: “Xin đưa tiền cho tôi”.
Ưu-đà-dibảo: “Ông hãy mở chéo y của tôi ra mà lấy”.
Ông chủ quán muốn đùa cợt nên không chịu mở, nói: “Ông hãy tự mở lấy đưa cho tôi”.
Ưu-đà-diđáp: “Phật không cho phép tôi cầm sinh sắc, tợ sắc, ông hãy tự mở lấy”.
Ông ta bèn mở lấy. Lấy xong, chê trách: “Vì sao Sa-môn Thích tử lại dùng phương tiện sơ sài này, xem đây là thanh tịnh! Chúng ta cũng ít khi dùng tay cầm nắm và đặt vào trong miệng, cũng chẳng khi nào buộc vào chéo áo hoặc bỏ vào trong túi. Thế này thì mất hết phép tắc Sa môn, nào có đạo hạnh gì?”
Thế rồi, Ưu-đà-dimang bánh về phòng, mời các Tỉ-kheo khác cùng ăn. Các Tỉ-kheo hỏi: “Thứ bánh này rất ngon, ở đâu mà có được vậy? Loại này không phải là bánh làm ở nhà”.
Ưu-đà-diđáp: “Này các trưởng lão! Trong đây lợi ít mà lỗi nhiều!”
Các Tỉ-kheo bèn hỏi: “Vì sao nhiều lỗi?”
Đáp: “Tôi tạo nhân duyên như vậy như vậy cho nên nhiều lỗi”.
Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ưu-đà-diđến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi: “Ông có làm như vậy thật chăng?”
Thầy đáp: “Có thật như vậy, bạch Thế Tôn”.
Phật khiển trách: “Đó là việc xấu. Từ nay về sau, dùng tiền buộc vào chéo y, Ta cũng không cho”.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Ca-duy-la-vệ, nói rộng như trên. Vì năm việc lợi ích, nên Thế Tôn cứ năm hôm đi quan sát phòng ở của các Tỉ-kheo một lần, bỗng thấy một Tỉ-kheo mang bệnh huỳnh đãng ốm yếu. Phật biết mà vẫn hỏi: “Tỉ-kheo! thầy có kham nhẫn nỗi khổ được chăng? Thầy có sống yên ổn chăng?”
Thầy ấy đáp: “Bạch Thế Tôn! Con không được yên ổn, bị bệnh tật khổ não”.
Phật liền hỏi thầy: “Ông không thể đòi hỏi thức ăn hợp với bệnh, thuốc hợp với bệnh được sao?”
Thầy đáp: “Con nghe Thế Tôn chế giới Tỉ-kheo không được tự tay cầm sinh sắc, tợ sắc, lại không có ai đưa cho con, nên con phải chịu khổ não”.
Phật liền nói: “Từ nay về sau, ta cho phép người bệnh được quyền sai tịnh nhân cất tiền bạc, nhưng chớ có tham trước”.
Thế rồi, Phật truyền cho các Tỉ-kheo tại thành Ca-duy-la-vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:
“Nếu Tỉ-kheo tự tay cầm sinh sắc, tợ sắc hoặc sai người cầm nắm với ý tham trước thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề”.

Giải thích

(Một số từ đã được giải thích ở trước)
—Sinh sắc: Chỉ cho vàng.
—Tợ sắc: Chỉ cho bạc.
—Sinh sắc tợ sắc: Chỉ cho các loại tiền tệ dùng ở thị trường.
—Cầm: Hoặc tự mình cầm, hoặc bảo người khác cầm.
—Nắm: Hoặc tự mình nắm, hoặc bảo người khác nắm.
—Tham trước: Suy nghĩ như sau: “Ta sẽ dùng vật này để đạt được năm thứ dục lạc như: Sắc, thanh, hương, vị, xúc”. Đó gọi là tham trước.
—Không tham trước: Như vị Tỉ kheo trì giới thanh tịnh tự gánh lương thực như bún, bánh, gạo, bột gạo.v.v., khi ấy suy nghĩ: “Ta không có phương tiện nào khác nên bất đắc dĩ phải dùng đến thức ăn Này”. Trái lại, nếu đối với các vật bất tịnh Này mà tưởng là những vật thanh tịnh, như sau: “Ta sẽ thọ dụng những thứ Này”, thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đềà.
—Ni-tát-kì Ba-dạ-đề:: Các thứ tiền, vàng bạc Này phải đem thí xả giữa chúng Tăng, rồi sám hối tội Ba-dạ-đề. Nếu không thí xả mà sám hối thì phạm tội Việt tì-ni.
Các thứ vàng bạc hay tiền, hoặc nhiều, hoặc ít, hoặc thuần, hoặc tạp, hoặc đã làm thành dụng cụ, khi đem thí xả giữa chúng Tăng, thì Tăng không nên cho lại Tỉ-kheo ấy, cũng không được phân chia. Nếu nhiều thì nên bỏ vào quỹ tiết kiệm. Sau khi bỏ vào quỹ tiết kiệm, nếu sinh lợi tức, thì được dùng nó làm phòng xá, sắm y, mà không được mua sắm thức ăn.
Tỉ-kheo khi nhận được tiền, và sau mùa an cư xong nhận được tiền sắm y, không được đưa tay cầm lấy mà phải nhờ tịnh nhân lấy giúp.
Nếu không có tịnh nhân thì hãy bảo thí chủ bỏ dưới đất bên cạnh chân mình. Sau đó, mình dùng cỏ, lá, gạch, ngói tủ lên trên, đợi tịnh nhân đến, chỉ cho họ thấy để họ cầm lấy. Nếu tịnh nhân không đáng tin cậy, thì bảo họ đi trước mình, và bảo để tiền tại nơi nào đó.
Nếu Tỉ-kheo làm tri sự trông coi việc của Phật, của Tăng có nhiều tiền vàng bạc để tại chỗ sinh địa thì nên chỉ cho tịnh nhân biết. Nếu để chỗ tử địa kín đáo thì hoặc tự mình đào lấy, hoặc sai Tỉ-kheo trẻ tuổi đào lấy. Nếu tịnh nhân không đáng tin, thì nên dùng khăn bịt mắt họ ba vòng, rồi mới dẫn đến chỉ cho họ biết chỗ đất, sau đó chỉ cho biết hầm để tiền, và cứ để mắt bị bịt như thế bảo đi khỏi nơi đó. Nếu tiền rơi trên bờ hầm, thì được dùng ngói gạch gạt cho tiền rớt xuống hầm, và được tự tay đậy nắp hầm lại. Sau đó khi cần lấy, nếu là chỗ sinh địa thì chỉ cho tịnh nhân biết; nếu là chỗ tử địa thì được tự tay đào lên cho đến khi gặp tiền, bèn sai tịnh nhân đến lấy. Nếu tịnh nhân không đáng tin thì phải bịt mắt y 3 vòng rồi dẫn đến lấy. Nếu trong cái khăn gói để trên đầu cây gậy có vàng, bạc, tiền thì không được tự tay cầm lấy mà nên bảo cho tịnh nhân biết. Nếu tịnh nhân bé nhỏ không sờ tới thì được bồng y lên khiến y lấy. Khi bồng y nên nói như sau: “Tôi bồng tịnh nhân, tôi bồng tịnh nhân”. Lúc đem gói đồ xuống rồi phải bảo y mở ra. Nếu y không biết mở thì được phép cầm tay y chỉ cho y mở. Khi mở xong bảo y đếm. Nếu y không biết đếm thì được phép cầm tay y mà đếm. Khi đếm xong, số còn thừa bảo y bỏ lại vào túi. Nếu y không biết cầm bỏ vào túi, thì được phép cầm tay y dạy y bỏ vào túi. Khi bỏ vào túi xong nên bảo tịnh nhân buộc túi lại. Nếu tịnh nhân không biết buộc, thì bảo y nâng cái đáy túi, rồi Tỉ-kheo tự tay mình buộc. Khi buộc xong nên đem để lại trên đầu gậy như trước. Nếu tịnh nhân thấp để không tới thì Tỉ-kheo được phép bồng y lên.
Nếu kho lẫm, rương, tủ để trên gác, trên cột trụ, thì khi lấy, khi mở ra, khi đậy lại cũng như thế.
Nếu khi đi đường, tịnh nhân mang vàng bạc, mà y còn bé, thì ta được phép dùng tay dắt y đi. Nếu khi lội nước, thì ta được phép dìu y lội qua, nhưng phải nói: “Tôi dìu tịnh nhân, tôi dìu tịnh nhân”.
Nếu Tỉ-kheo dẫn tịnh nhân theo, lúc đi qua đò mà y còn bé không lên đò được, thì Tỉ-kheo được phép đỡ y lên đò, nhưng phải nói: “Tôi đỡ tịnh nhân, tôi đỡ tịnh nhân”. Khi xuống đò, cũng như vậy. Trên đường đi, Tỉ-kheo dừng lại ở trên bờ sông, bên giếng hoặc trên ao hồ để ăn uống nghỉ ngơi, rồi lúc ra đi, tịnh nhân để quên túi xách. Bấy giờ có vị trưởng lão Tỉ-kheo đi sau, xem có ai để quên vật gì không, thì thấy có một gói đồ sót lại, bèn suy nghĩ: “Cái Này ắt là của vị Tỉ-kheo kia”, bèn cầm lấy mang đi, khi đi kịp chúng bạn, bèn hỏi: “Vật Này của ai vậy?”Lúc ấy có người nói: “Đó là gói đồ của tịnh nhân”. Vị trưởng lão bèn bỏ gói đồ xuống đất. Bấy giờ, tịnh nhân nên cầm lấy mang đi, nhưng không được gọi tên gói đồ.
Nếu Tỉ-kheo cùng đi đường với tịnh nhân, khi đêm đến dừng nghỉ tại một chỗ, rồi tờ mờ sáng ra đi. Bấy giờ, tịnh nhân cầm nhầm gói đồ của Tỉ-kheo, Tỉ-kheo cầm nhầm gói đồ của tịnh nhân. Khi đến nơi, Tỉ-kheo mới nhận ra gói đồ mình cầm là của Tịnh nhân, thì nên bỏ xuống đất, và tịnh nhân phải đến lấy mà không được gọi tên gói đồ (tức không được gọi là túi đựng bạc).
Nếu Tỉ-kheo nhiều vàng, bạc, tiền bị mất, và nghi bị rơi ở bên cạnh giường, nên muốn tìm lại, thì khi rời khỏi giường, phạm tội Việt tì-ni. Nếu tìm lại được thì phạm tội Ni-tát-kì.
Nếu Tỉ-kheo có nhiều tiền bạc, nghi là cất trong mền len, nên định tìm kiếm thì khi mở chiếc mền ra, phạm tội Việt tì-ni. Khi được tiền, phạm tội Ni-tát-kì.
Nếu Tỉ-kheo có nhiều tiền bạc, nghi bị rơi trên đất, muốn tìm kiếm thì khi cầm chổi quét đất, phạm tội Việt tì-ni. Nếu tìm lại được, thì phạm tội Ni-tát-kì.
Nếu Tỉ-kheo có nhiều tiền bạc, nghi bị rơi trong đống rác, nên định tìm kiếm, thì khi bươi đống rác, phạm tội Việt tì-ni, khi được tiền phạm tội Ni-tát-kì.
Nếu Tỉ-kheo lâm bệnh, có đàn việt cúng dường tiền thuốc, vì bệnh nên được nhận tiền, đem cất dưới mền. Khi cần tìm lấy, nhưng vì trong tối mắt không trông thấy, dùng tay rờ đụng tiền, thì không có tội.
Nếu đàn Việt làm giường ghế mới bằng vàng bạc, vì có lòng tin, nên muốn để Tỉ-kheo sử dụng trước nhất, rồi Tỉ-kheo nói: “Tôi là người xuất gia, luật không cho phép dùng”. Đàn việt lại nói: “Tôn giả vì tôi mà khai thông có được thọ dụng không?” Tỉ-kheo nên nói: “Hãy xếp một tọa cụ cho dày lót lên, thì tôi mới ngồi được”. Nhưng khi Tỉ-kheo ngồi rồi thì không được lay động cái giường, cũng không được khen ngợi.
Nếu đàn việt làm xe, máy móc mới bằng vàng bạc, vì có tín tâm nên muốn để Tỉ-kheo sử dụng trước tiên, khi ấy Tỉ-kheo nói: “Tôi là người xuất gia luật không cho phép sử dụng vật ấy”. Người kia lại nói: “Tôn giả hãy vì tôi mà phương tiện khai thông thọ dụng giúp cho”. Tỉ-kheo nên bảo: “Nếu trên xe có lót lá cây, hoặc lót tấm vải lên trên, thì tôi mới đặt chân lên được”. Nhưng sau khi đặt chân lên, không nên động chân, cũng không được khen ngợi.
Có người đàn việt làm cái mâm vàng bạc, vì có tín tâm nên muốn để Tỉ-kheo sử dụng trước nhất, Tỉ-kheo nói: “Tôi là người xuất gia, không được phép dùng vật ấy”.
Người kia nói: “Tôn giả có thể vì tôi mà khai thông phương tiện thọ dụng được không?”Tỉ-kheo nên nói: “Nếu dùng cỏ, lá cây hay tấm vải phủ lên trên đó thì có thể được”. Nhưng không được dùng tay cầm mà nên bảo họ bưng để xuống đất.
Nếu đàn việt làm chén bát mới bằng vàng bạc, vì tín tâm nên muốn nhờ Tỉ-kheo sử dụng trước nhất. Rồi Tỉ-kheo nói: “Tôi là người xuất gia không được phép dùng nó”. Người ấy lại nói: “Tôn giả có thể vì tôi mà khai thông phương tiện thọ dụng được không?”Tỉ-kheo nên đáp: “Ngươi nên rửa sạch, đặt trên mâm, đem thức ăn bỏ vào, rồi đưa tay chỉ bát nói: “Dùng, dùng… “. Nói 3 lần như vậy, đó gọi là dùng. Nhưng khi ăn, Tỉ-kheo chỉ ăn thức ăn trong bát, không được động đến xung quanh bát.
Nếu ngày mồng tám tháng tư hay các ngày đại hội cúng dường, tất cả các tháp, tượng Bồ tát, cờ phướn bảo cái, những dụng cụ cúng dường ấy có thếp vàng bạc thì Tỉ-kheo không được cầm đến mà nên bảo tịnh nhân cầm. Nếu bị rơi xuống đất, thì nên cầm chỗ nào không có vàng bạc nhặt lên. Nếu được thếp vàng khắp cả thì nên dùng vải bọc tay rồi mới cầm. Nếu không có vật gì bọc tay mà trên tượng có chỗ chưa thếp vàng thì nên cầm chỗ ấy. Tất cả các thứ như lư hương, đèn, cán phất trần mà có thếp vàng, đều không được cầm. Khi tắm rửa tượng Bồ tát bằng vàng bạc thì không được tự tay mình tắm mà phải bảo tịnh nhân làm. Vào những ngày đại hội, Tỉ-kheo bảo tịnh nhân lấy ra các tượng bằng vàng bạc, Tỉ-kheo chỉ được đỡ giúp tịnh nhân, không được cầm. Và trên tượng có thếp vàng, Tỉ-kheo không được trước cầm rồi sau thả ra. Tùy theo mỗi nước, có nước dùng tiền bằng đồng, hoặc tiền bằng vỏ ốc, hoặc tiền bằng sắt, hoặc tiền bằng hồ dao, hoặc tiền bằng thẻ tre, hoặc tiền bằng da… Tất cả các loại tiền ấy, Tỉ-kheo không được cầm. Hoặc có những nước người ta sử dụng tiền tệ mà chưa thành hình tướng của tiền tệ, Tỉ-kheo cầm nó thì phạm tội Việt tì-ni. Có những nước người ta dùng loại tiền tệ không có hình dạng của tiền tệ, mà Tỉ-kheo cầm nó thì phạm tội Việt tì-ni. Có những nước người ta dùng loại tiền tệ có hình dạng của tiền tệ mà Tỉ-kheo cầm nó thì phạm tội Ni-tát-kì Ba-dạ-đềà. Có những nước người ta dùng loại tiền tệ không có hình dáng của tiền tệ, Tỉ-kheo xem nó như loại đồng, sắt mà cầm, thì không có tội. Thế nên nói (như trên).
Hết giới Ni-tát-kì 17.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.27/12/2016.

17. GIỚI: NHỜ TỈ-KHEO-NI GIẶT LÔNG DÊ.

Khi Phật an trú tại Tì Xá Li trong Tinh xá có lầu gác trong rừng, nói rộng như trên. Bấy giờ tôn giả Ưu-đà-di đem lông dê đưa cho Tỉ-kheo-ni Thiện Sinh, vốn là vợ cũ của Tôn giả, và bảo: “Lành thay này em, em hãy giặt nhuộm chải giúp cho ta cái này”. Tỉ-kheo-ni Thiện Sinh bèn đem về trú xứ, giặt nhuộm chải xong, bỏ vào trong hộp, lấy lông ngực, ức, của nai phủ lên trên, rồi sai sứ giả mang đến cho Ưu-đà-di. Ưu-đà-di nhận xong, mở hộp ra, thấy có lông nai hoan hỉ, liền đem khoe với các Tỉ-kheo: “Hãy xem này các trưởng lão, tôi đưa ít lông cho Tỉ-kheo-ni không phải thân quyến mà lại nhận được nhiều lông”.
Các Tỉ-kheo thấy thế, liền nói: “Đó là vật nên che giấu vì sao lại đưa cho người ta xem?”
Thầy liền đáp: “Vật này có gì phải che giấu, Tôi đưa (cô ấy) lông ít mà lại nhận được nhiều lông”.
Bấy giờ nhóm 6 Tỉ-kheo từ xa nghe được bèn vỗ tay cười lớn: “Quái thay! Quái thay”.
Các Tỉ-kheo nghe thế, bèn đến bạch với Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ưu-đà-di đến. Khi thầy tới rồi, Phật bèn hỏi: “Ông có việc đó thật chăng?”.
Thầy đáp: “Có thật, bạch Thế Tôn!”
Phật liền khiển trách: “Đó là việc xấu.v.v…”
Rồi Phật hỏi các Tỉ-kheo: “Giả sử có vật cần phải che giấu thì Tỉ-kheo-ni thân quyến có nên đưa cho Tỉ-kheo thân quyến xem hay không?”
Họ đáp: “Không nên, bạch Thế Tôn”.
Phật lại hỏi: “Giả sử Tỉ-kheo thân quyến nhận được một vật cần phải che giấu của Tỉ-kheo-ni thân quyến, thì có nên đưa cho người khác xem hay không?”
Họ đáp: “Không nên, bạch Thế Tôn”.
Thế rồi Phật nói với các Tỉ-kheo: “Từ nay trở đi (các Tỉ-kheo) không được nhờ Tỉ-kheo-ni không phải thân quyến giặt nhuộm chải lông dê”.
Lại nữa, khi Phật trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ tôn giả Ưu-đà-di cầm lông dê đưa cho Tỉ-kheo-ni Đại Ái Đạo, nói rằng: “Lành thay này chị, hãy giặt nhuộm, chải giúp cho tôi cái này”.
Thế rồi, Tỉ-kheo-ni Đại Ái Đạo liền đem giặt nhuộm chải xong, gởi trả lại cho Ưu-đà-di. Rồi bà đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng sang một bên. Phật biết nhưng vẫn hỏi: “Vì sao trên tay bà có màu thuốc nhuộm?”
Bà đáp: “Tôi giặt nhuộm chải giúp lông dê cho tôn giả Ưu-đà-di”.
Phật liền nói với các Tỉ-kheo: “Tại sao Ưu-đà-di lại nhờ Tỉ-kheo-ni không phải thân quyến giặt nhuộm chải giúp lông dê?”
Thế rồi, Phật bèn gọi Ưu-đà-di đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi: “Ông có nhờ Tỉ-kheo-ni Đại Ái Đạo giặt nhuộm chải lông dê thật chăng?”
Thầy đáp: “Có thật, bạch Thế Tôn”.
Phật liền khiển trách Ưu-đà-di: “Vì sao ông lại sai một Tỉ-kheo-ni đang hành đạo làm? Từ nay về sau, ta không cho phép (các Tỉ-kheo) nhờ Tỉ-kheo-ni không phải thân quyến giặt nhuộm chải lông dê”.
Rồi Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì 10 điều lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:
“Nếu Tỉ-kheo nhờ Tỉ-kheo-ni không phải thân quyến giặt nhuộm chải lông dê thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đềà”.

Giải thích

(Một số từ ngữ đã được giải thích ở trên)
Trong đây tăng thêm việc chải (lông dê), và trừ việc mặc y vấy bùn, y cáu bẩn đến chùa Ni, ngoài ra, như trong giới thứ 5 ở trên đã nói rõ.
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hết quyển 9.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.27/12/2016.