Monday, May 16, 2016

I. Tam Quy (Saranattaya).
Ðệ tử quy y Phật,
Ðệ tử quy y Pháp,
Ðệ tử quy y Tăng.
Lần thứ hai đệ tử quy y Phật,
Lần thứ hai đệ tử quy y Pháp,
Lần thứ hai đệ tử quy y Tăng.
Lần thứ ba đệ tử quy y Phật
Lần thứ ba đệ tử quy y Pháp.
Lần thứ ba đệ tử quy y Tăng.

II. Thập Giới (Dasasikkhàpada)
1. Ðệ tử thực hành giới tránh sát sanh.
2. Ðệ tử thực hành giới tránh lấy của không cho.
3. Ðệ tử thực hành giới tránh tà hạnh trong các dục.
4. Ðệ tử thực hành giới tránh nói láo.
5. Ðệ tử thực hành giới tránh mọi cơ hội buông lung phóng dật do uống rượu hoặc các thứ men say.
6. Ðệ tử thực hành giới tránh ăn phi thời.
7. Ðệ tử thực hành giới tránh múa, hát, nhạc, kịch.
8. Ðệ tử thực hành giới tránh cơ hội đeo vòng hoa và trang điểm với hương liệu, dầu xoa.
9. Ðệ tử thực hành giới tránh dùng giường cao và rộng.
10. Ðệ tử thực hành giới tránh nhận vàng bạc.

III. Ba Mươi Hai Phần (Dvattimsàkàra)
Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, chất nhờn ở khớp, nước tiểu và não trong đầu.

IV. Nam Tử Hỏi Ðạo (Kumàrapanha)
Thế nào là một? - Mọi loài hữu tình đều tồn tại nhờ thức ăn.
Thế nào là hai? - Danh và sắc.
Thế nào là ba? - Ba loại cảm thọ.
Thế nào là bốn? - Bốn Thánh đế.
Thế nào là năm? - Năm thủ uẩn.
Thế nào là sáu? - Sáu nội xứ.
Thế nào là bảy? - Bảy giác chi.
Thế nào là tám? - Thánh đạo tám ngành.
Thế nào là chín? - Chín nơi cư trú của các loài hữu tình.
Thế nào là mười? - Vị nào có đủ mười đức tánh được gọi là vị A-la-hán.

V. Kinh Ðiềm Lành (Mangala Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên tử ấy bạch Thế Tôn với bài kệ:
Thiên tử:
1. Nhiều Thiên tử và người,
Suy nghĩ đến điềm lành,
Mong ước và đợi chờ,
Một nếp sống an toàn,
Xin Ngài hãy nói lên,
Về điềm lành tối thượng.
(Ðức Phật giảng:)
2. Không thân cận kẻ ngu,
Nhưng gần gũi bậc Trí,
Ðảnh lễ người đáng lễ,
Là điềm lành tối thượng.
3. Ở trú xứ thích hợp,
Công đức trước đã làm,
Chân chánh hướng tự tâm,
Là điềm lành tối thượng.
4. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Khéo huấn luyện học tập,
Nói những lời khéo nói,
Là điềm lành tối thượng.
5. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Nuôi nấng vợ và con.
Làm nghề không rắc rối,
Là điềm lành tối thượng.
6. Bố thí, hành, đúng pháp,
Săn sóc các bà con,
Làm nghiệp không lỗi lầm,
Là điềm lành tối thượng.
7. Chấm dứt, từ bỏ ác,
Chế ngự đam mê rượu,
Trong Pháp, không phóng dật,
Là điềm lành tối thượng.
8. Kính lễ và hạ mình,
Biết đủ và biết ơn,
Ðúng thời, nghe Chánh Pháp,
Là điềm lành tối thượng.
9. Nhẫn nhục, lời hòa nhã,
Yết kiến các Sa-môn,
Ðúng thời, đàm luận Pháp,
Là điềm lành tối thượng.
10. Khắc khổ và Phạm hạnh,
Thấy được lý Thánh đế.
Giác ngộ quả: "Niết Bàn"
Là điềm lành tối thượng.
11. Khi xúc chạm việc đời
Tâm không động, không sầu,
Không uế nhiễm, an ổn,
Là điềm lành tối thượng.
12. Làm sự việc như vầy,
Không chỗ nào thất bại,
Khắp nơi được an toàn,
Là điềm lành tối thượng.
VI. Kinh Châu Báu (Ratana Sutta)
1. Phàm ở tại đời này,
Có sanh linh tụ hội,
Hoặc trên cõi đất này,
Hoặc chính giữa hư không,
Mong rằng mọi sanh linh,
Ðược đẹp ý vui lòng,
Vậy, hãy nên cẩn thận,
Lắng nghe lời dạy này.
2. Do vậy các sanh linh,
Tất cả hãy chú tâm,
Khởi lên lòng từ mẫn,
Ðối với thảy mọi loài,
Ban ngày và ban đêm,
Họ đem vật cúng dường,
Do vậy không phóng dật,
Hãy giúp hộ trì họ.
3. Phàm có tài sản gì,
Ðời này hay đời sau,
Hay ở tại thiên giới,
Có châu báu thù thắng,
Không gì sánh bằng được,
Với Như Lai Thiện Thệ,
Như vậy, nơi Ðức Phật,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Ðược sống chơn hạnh phúc.
4. Ðoạn diệt và ly tham,
Bất tử và thù diệu.
Phật Thích-ca Mâu-ni,
Chứng Pháp ấy trong thiền,
Không gì sánh bằng được,
Với Pháp thù diệu ấy.
Như vậy, nơi Chánh Pháp,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Ðược sống chơn hạnh phúc.
5. Phật, Thế Tôn thù thắng,
Nói lên lời tán thán,
Pháp thù diệu trong sạch,
Liên tục không gián đoạn,
Không gì sánh bằng được,
Pháp thiền vi diệu ấy.
Như vậy, nơi Chánh Pháp,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Ðược sống chơn hạnh phúc.
6. Tám vị bốn đôi này,
Ðược bậc thiện tán thán.
Chúng đệ tử Thiện Thệ,
Xứng đáng được cúng dường.
Bố thí các vị ấy,
Ðược kết quả to lớn.
Như vậy, nơi tăng chúng,
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này,
Ðược sống chơn hạnh phúc.
7. Các vị lòng ít dục,
Với ý thật kiên trì,
Khéo liên hệ mật thiết,
Lời dạy Gô-ta-ma!
Họ đạt được quả vị,
Họ thể nhập bất tử,
Họ chứng đắc dễ dàng,
Hưởng thọ sự tịch tịnh,
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Ðược sống chơn hạnh phúc.
8. Như cây trụ cột đá,
Khéo y tựa lòng đất.
Dầu có gió bốn phương,
Cũng không thể dao động.
Ta nói bậc Chơn nhân,
Giống như thí dụ này,
Vị thể nhập với tuệ,
Thấy được những Thánh đế,
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Ðược sống chơn hạnh phúc.
9. Những vị khéo giải thích,
Những sự thật Thánh đế,
Những vị khéo thuyết giảng,
Với trí tuệ thâm sâu.
Dầu họ có hết sức,
Phóng dật không chế ngự,
Họ cũng không đến nỗi,
Sanh hữu lần thứ tám,
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Ðược sống chơn hạnh phúc.
10. Vị ấy nhờ đầy đủ,
Với chánh kiến sáng suốt,
Do vậy có ba pháp,
Ðược hoàn toàn từ bỏ,
Thân kiến và nghi hoặc,
Giới cấm thủ cũng không,
Ðối với bốn đọa xứ,
Hoàn toàn được giải thoát.
Vị ấy không thể làm,
Sáu điều ác căn bản,
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Ðược sống chơn hạnh phúc.
11. Dầu vị ấy có làm,
Ðiều gì ác đi nữa,
Với thân hay với lời,
Kể cả với tâm ý,
Vị ấy không có thể,
Che đậy việc làm ấy,
Việc ấy được nói rằng,
Không thể thấy ác đạo.
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Ðược sống chơn hạnh phúc.
12. Ðẹp là những cây rừng,
Có bông hoa đầu ngọn,
Trong tháng hạ nóng bức,
Những ngày hạ đầu tiên,
Pháp thù thắng thuyết giảng,
Ðược ví dụ như vậy.
Pháp đưa đến Niết Bàn,
Pháp hạnh phúc tối thượng,
Như vậy, nơi Ðức Phật,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Ðược sống chơn hạnh phúc.
13. Cao thượng biết cao thượng,
Cho đem lại cao thượng,
Bậc Vô thượng thuyết giảng,
Pháp cao thượng thù thắng,
Như vậy nơi đức Phật,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Ðược sống chơn hạnh phúc.
14. Nghiệp cũ đã đoạn tận,
Nghiệp mới không tạo nên,
Với tâm tư từ bỏ,
Trong sanh hữu tương lai,
Các hột giống đoạn tận,
Ước muốn không tăng trưởng
Bậc trí chứng Niết Bàn,
Ví như ngọn đèn này,
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Ðược sống chơn hạnh phúc.
15. Phàm ở tại đời này,
Có sanh linh tụ hội,
Hoặc trên cõi đất này,
Hoặc chính giữa hư không,
Hãy đảnh lễ Ðức Phật,
Ðã như thực đến đây,
Ðược loài Trời, loài Người,
Ðảnh lễ và cúng dường,
Mong rằng, với hạnh này,
Mọi loài được hạnh phúc.
16. Phàm ở tại nơi này,
Có sanh linh tụ hội,
Hoặc trên cõi đất này,
Hoặc chính giữa hư không,
Hãy đảnh lễ Chánh pháp,
Ðã như thực đến đây,
Ðược loài Trời, loài Người,;
Ðảnh lễ và cúng dường,
Mong rằng với hạnh này,
Mọi loài được hạnh phúc.
17. Phàm ở tại đời này,
Có sanh linh tụ hội
Hoặc trên cõi đất này,
Hoặc chính giữa hư không,
Hãy đảnh lễ chúng Tăng,
Ðảnh lễ và cúng dường,
Mong rằng với hạnh này,
Mọi loài được hạnh phúc.
VII. Kinh Ngoài Bức Tường (Tirokudda Sutta)
1. Ở bên ngoài bức tường,
Bọn họ đứng chờ đợi,
Giao lộ, ngã ba đường,
Trở về mái nhà xưa,
Ðợi chờ bên cạnh cổng.
2. Nhưng khi tiệc thịnh soạn,
Ðược bày biện sẵn sàng,
Ðủ mọi thức uống ăn,
Không một ai nhớ họ.
Sự kiện này phát sinh
Từ nghiệp xưa của họ.
3. Vậy ai có từ tâm,
Nhớ cho các thân nhân,
Thức uống ăn thanh tịnh,
Tốt đẹp và đúng thời.
4. Món này cho bà con,
Mong bà con an lạc,
Ðám ngạ quỷ thân bằng,
Ðã tề tựu chỗ đó.
5. Sẽ mong muốn chúc lành,
Vì thực phẩm đầy đủ,
Mong quyến thuộc sống lâu,
Nhờ người, ta hưởng lợi,.
6. Vì đã kính lễ ta,
Thí chủ không thiếu quả
Tại đó không cấy cày,
Cũng không nuôi súc vật.
7. Cũng không có buôn bán,
Không trao đổi tiền vàng,
Các ngạ quỷ họ hàng,
Chỉ sống nhờ bố thí.
8. Như nước đổ xuống đồi,
Chảy xuống tận vực sâu,
Bố thí tại chỗ này,
Cung cấp loài ngạ quỷ.
9. Như lòng sông tràn đầy,
Ðưa nước đổ xuống biển,
Bố thí tại chỗ này,
Cung cấp loài ngạ quỷ.
10. Người ấy đã cho ta,
Ðã làm việc vì ta,
Người ấy là quyến thuộc,
Người ấy chính thân bằng.
Hãy bố thí ngạ quỷ,
Nhớ việc xưa chúng làm.
11. Không khóc than, sầu muộn,
Không thương tiếc cách gì,
Giúp ích loài ngạ quỷ,
Quyến thuộc làm như vầy,
Không lợi cho ngạ quỷ.
12. Nhưng khi vật cúng dường,
Khéo đặt vào chư Tăng
Ích lợi chúng lâu dài,
Bây giờ, về sau nữa.
13 Chánh pháp được giảng bày,
Như vậy cho quyến thuộc,
Kính trọng biết chừng nào,
Ðối với người đã khuất,
Chư Tăng được cúng dường,
Cũng tăng thêm dõng mãnh,
Người tích tụ công đức,
Thật to lớn biết bao.

VIII. Kinh Bảo Tàng (Nidhikanda Sutta)
1. Một người cất kho báu,
Ở tận dưới giếng sâu,
Nghĩ: "Nếu cần giúp đỡ,
Nó ích lợi cho ta".
2. Nếu bị vua kết án,
Hoặc trả các nợ nần,
Hoặc bị cướp giam cầm,
Và đòi tiền chuộc mạng,
Khi mất mùa, tai nạn,
Với mục đích như vầy,
Ở trên cõi đời này,
Sẽ đến giành kho báu.
3. Dẫu nó không bao giờ,
Ðược cất kỹ như vậy,
Ở tận dưới giếng sâu,
Vẫn không đủ hoàn toàn,
Giúp ích người mọi lúc.
4. Kho báu bị dời chỗ,
Hoặc người quên dấu vết,
Hoặc rắn thần lấy đi,
Hoặc thần linh tẩu tán,
5. Hoặc đám người thừa kế,
Kẻ ấy không chấp nhận,
Di chuyển kho báu đi,
Khi kẻ ấy không thấy.
Và khi phước đức tận,
Tất cả đều tiêu tan.
6. Những khi người nam, nữ,
Có bố thí, trì giới
Hoặc thiền định, trí tuệ,
Kho báu khéo để dành.
7. Trong chùa, tháp, Tăng đoàn,
Một cá nhân, lữ khách,
Hoặc người mẹ, người cha,
Hoặc là người anh nữa.
8. Kho này khéo để dành,
Ði theo người, không mất,
Giữa mọi vật phải rời,
Người cùng đi với nó.
9. Không ai khác chia phần,
Không cướp nào lấy được.
Vậy những kẻ tinh cần,
Hãy làm việc phước đức,
Kho báu ấy theo người,
Sẽ không bao giờ mất.
10. Ðây là một kho báu,
Có thể làm thỏa mãn,
Mọi ước vọng thiên, nhân,
Dù họ mong muốn gì,
Ðều đạt được tất cả,
Nhờ công đức phước nghiệp.
11. Vẻ đẹp của màu da,
Vẻ đẹp của âm thanh,
Vẻ đẹp của dáng hình,
Vẻ đẹp của toàn thân,
Ðịa vị thật cao sang,
Cùng với đoàn hầu cận,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.
12. Ngôi đế vương một cõi,
Cực lạc Chuyển luân vương,
Và ngự trên Thiên đường,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.
13. Vẻ tối thắng của người,
Mọi hoan lạc cõi trời,
Hay tịch diệt tối thắng,
Tất cả đều đạt được
Nhờ phước nghiệp công đức.
14. Ðạt tối thắng bằng hữu,
Chuyên tu tập chánh chân,
Ðạt minh trí giải thoát,
Tất cả đều đạt được.
Nhờ phước nghiệp công đức.
15. Tứ vô ngại giải đạo,
Tám cấp độ giải thoát,
Viên mãn trí Thanh văn,
Cả hai cách giác ngộ:
Ðộc giác, Chánh Ðẳng giác,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.
16. Phước báo thật lớn lao,
Do công đức thù thắng,
Vì thế kẻ tinh cần,
Và những người có trí,
Ðã tạo nện kho tàng.
Công đức nhờ phước nghiệp.

IX. Kinh Lòng Từ (Mettà Sutta)
1. Vị thiện xảo mục đích,
Cần phải làm như sau:
Sau khi hiểu thông suốt,
Con đường an tịnh ấy,
Có khả năng trực tánh,
Thật sự, khéo chân trực,
Dễ nói và nhu hòa,
Không có gì cao mạn.
2. Sống cảm thấy vừa đủ,
Nuôi sống thật dễ dàng,
Ít có sự rộn ràng,
Sống đạm bạc, giản dị.
Các căn được tịnh lạc,
Khôn ngoan và thận trọng,
Không xông xáo gia đình,
Không tham ái, tham vọng.
3. Các hành sở của mình,
Không nhỏ nhen, vụn vặt,
Khiến người khác có trí,
Có thể sanh chỉ trích,
Mong mọi loài chúng sanh,
Ðược an lạc, an ổn,
Mong chúng chứng đạt được,
Hạnh phúc và an lạc.
4. Mong tất cả những ai,
Hữu tình có mạng sống,
Kẻ yếu hay kẻ mạnh,
Không bỏ sót một ai,
Kẻ dài hay kẻ lớn,
Trung thấp, loài lớn, nhỏ.
5. Loài được thấy, không thấy,
Loài sống xa, không xa,
Các loài hiện đang sống,
Các loài sẽ được sanh,
Mong mọi loài chúng sanh,
Sống hạnh phúc an lạc.
6. Mong rằng không có ai,
Lường gạt, lừa dối ai,
Không có ai khinh mạn,
Tại bất cứ chỗ nào,
Không vì giận hờn nhau,,
Không vì tưởng chống đối.
Lại có người mong muốn,
Làm đau khổ cho nhau.
7. Như tấm lòng người mẹ,
Ðối với con của mình,
Trọn đời lo che chở,
Con độc nhất mình sanh.
Cũng vậy, đối tất cả
Các hữu tình chúng sanh,
Hãy tu tập tâm ý,
Không hạn lượng, rộng lớn.
8. Hãy tu tập từ tâm,
Trong tất cả thế giới,
Hãy tu tập tâm ý,
Không hạn lượng, rộng lớn,
Phía trên và phía dưới,
Cũng vậy cả bề ngang,
Không hạn chế, trói buộc,
Không hận, không thù địch.
9. Khi đứng hay khi ngồi,
Khi ngồi hay khi nằm,
Lâu cho đến khi nào,
Khi đang còn tỉnh thức,
Hãy an trú niệm này,
Nếp sống này như vậy.
Ðược đời đề cập đến,
Là nếp sống tối thượng.
10. Ai từ bỏ tà kiến,
Giữ giới, đủ chánh kiến,
Nhiếp phục được tham ái,
Ðối với các dục vọng,
Không còn phải tái sanh,
Ði đến thai tạng nữa.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.17/5/2016.MHDT.

Tiểu Tụng

Khuddakapàtha

Giới thiệu:
Ðây là quyển kinh thứ nhất của Tiểu Bộ Kinh (Khuddhaka Nikaya), có lẽ đã được tổng hợp thành một quyển cẩm nang cho các Sa-di và Sa-di-ni. Quyển nầy gồm 9 bài kinh, bao gồm các đề tài cơ bản cho những vị xuất gia bắt đầu đời sống tu hành tại các tu viện. Tuy nhiên, nhiều đoạn kinh cũng được dùng để giới thiệu các căn bản Phật Pháp cho các cư sĩ.
Bài kinh thứ nhất và thứ hai dùng trong các buổi lễ xuất gia của Sa-di và Sa-di-ni. Bài kinh thứ ba là các hướng dẫn tiên khởi để quán thân thể, một bài tập để vượt thắng lòng tham dục. Bài kinh thứ tư giới thiệu các phân loại cơ bản để phân tích, phát triển tuệ tri, bắt đầu là nguyên lý duyên sinh, trọng tâm của đạo Phật.
Bài kinh thứ năm đưa ra một tổng quan về sự tu tập - bắt đầu từ nhu cầu gần gũi các bậc thiện tri thức, và chấm dứt khi đắc Niết-bàn. Bài kinh đề cập đến các phước hạnh như là một sự phòng hộ thiện lành, không phải từ các nghi lễ rườm rà mà từ các hành động bố thí, giới đức và trí tuệ. Bài kinh thứ sáu khai triển từ bài kinh thứ nhất và thứ năm, đề cập chi tiết về Tam Bảo Phật-Pháp-Tăng, và đồng thời trình bày cách thức tu thiền để đắc quả Dự lưu, quả đầu tiên đưa đến Niết-bàn.
Bài kinh thứ bảy có chủ đề về lòng bố thí quảng đại, công đức từ sự cúng dường chư Tăng được hồi hướng đến các thân nhân đã qua đời. Bài kinh thứ tám giảng về các hành động từ thiện, bố thí sẽ đưa đến lợi lạc lâu bền, tốt hơn là các đầu tư về vật chất. Cuối cùng, bài kinh thứ chín trở về đề tài hành thiền, chú trọng đến việc phát triển lòng từ mẫn, thiện ý, yêu thương mọi người, mọi loài.
Tất cả 9 bài kinh này, trong những ý nghĩa khác nhau, thường được tụng đọc và suy niệm trong các cộng đồng Phật giáo Nguyên thủy từ xưa cho đến hiện nay. Hằng ngày, cư sĩ lẫn tu sĩ đều tụng đọc bài kinh đầu tiên về quy y Tam Bảo để tự nhắc nhở. Các tu sĩ thường tụng các đoạn kinh trích trong các bài kinh thứ năm cho đến thứ chín khi nhận lãnh sự cúng dường của cư sĩ, và thường dùng bài kinh thứ năm (Kinh Phước Ðức) làm đề tài trong các buổi thuyết pháp.
Tóm lại, quyển Tiểu Tụng này được dùng như một quyển kinh dẫn nhập hữu ích trong bước đầu của đời sống tu sĩ và trong đời sống của mọi Phật tử hiện thời.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.17/5/2016.MHDT.

Sunday, May 15, 2016

thể hiện mối quan hệ thân thiết với những người có cùng chung một lý tưởng giải thoát, là học trò, là con của đức Như Lai. Chẳng còn bao lâu nữa, các huynh đệ sẽ đăng đàn thọ giới cụ túc, chính thức dự vào hàng Chúng Trung Tôn, hàng Tăng Bảo thường trụ của thế gian. Nghĩa là kể từ giây phút ấy trở đi, các huynh đệ sẽ trở thành những người có đầy đủ điều kiện pháp lý để sử dụng gia tài của Như Lai. Gia tài ấy là tuệ giác vô thượng, thứ gia sản vô giá mà đức Như Lai đã khổ công góp nhặt được từ vô số kiếp trầm luân trong sinh tử. Vậy các huynh đệ phải làm gì để có đầy đủ năng lực đảm đương trách nhiệm giữ gìn gia tài Phật Tổ không cho bị mai một trong thời đại xã hội với nhiều nhiêu khê nan giải như hiện nay? Với tư cách là một người anh, người được sinh ra trước các huynh đệ trong ngôi nhà Phật Pháp, tôi có đôi lời tha thiết muốn tâm sự cùng với các huynh đệ.
Các huynh đệ quý mến! Chúng ta sinh ra đời được làm thân người, sáu căn được đầy đủ quả là một phúc duyên lớn. Chúng ta lại được gặp Phật Pháp, thọ trì Thánh giới, sống nếp sống viễn ly sanh tử thì thực sự không có thứ hạnh phúc nào có thể so sánh bằng. Hạnh phúc này được các huynh đệ nuôi dưỡng ngay từ buổi đầu xuất gia học đạo. Chí lớn muốn mau chóng thành tựu được tuệ giác để giải thoát cho muôn loại luôn ấp ủ trong tim, nên những tình thường, danh lợi của thế gian các huynh đệ đều gác bỏ ngoài tai, lòng không màng đến. Hạnh phúc này lớn dần theo ngày tháng siêng năng tu tập, nó là Bồ đề tâm, là thứ năng lượng vững chãi để ngăn chặn những trở lực của ngoại duyên và tháo gỡ những khổ đau, khúc mắc của nội tại. Nếu vì một lý do gì đó khiến các huynh đệ phải bận bịu để hạt giống Bồ đề bị khô héo, xói mòn, nghĩa là các huynh đệ sống không có hạnh phúc trong cửa thiền, nên dù các huynh đệ còn đi, còn đứng, còn tiếp xúc, còn niệm Phật, tọa thiền, nhưng thật sự các huynh đệ đã chết, chết với tư cách của một người bại trận. Vâng, khi các huynh đệ quyết định đi ra khỏi con đường khổ đau sinh tử thì các huynh đệ đã phải trang bị cho mình thứ vũ khí cần thiết, sắc bén để đương đầu với chiến trận của chúng ma phiền não. Vũ khí ấy là tâm Bồ đề, là năng lượng được nuôi dưỡng từ đời sống tu tập trong môi trường tốt của tăng thân. Dưới sự nâng đỡ, yêu thương và che chở của tăng thân, các huynh đệ sẽ tự do lớn mạnh mà xây dựng cho mình Phật thân hay Pháp thân. Nhiều huynh đệ dường như không chút ý niệm về vấn đề này, mạnh dạn rời bỏ tăng thân đến ở nhà thế tục, thậm chí ở cả nhà trọ, một mình chạy lao như điên vào các trường đại học để tìm một cái bằng cấp  bác sĩ, dược sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ... Cũng có nhiều huynh đệ đua chen nhau vào những trường Phật học, hối hả nhét vào đầu càng nhiều kiến thức càng tốt. Nhưng những bằng cấp hay những mớ kiến thức ấy dường như không có ảnh hưởng gì đến những khổ đau, khó khăn, những xung đột trong tâm tư và trong đời sống hàng ngày. Cũng như thiền sư Hương Nghiêm là bậc thông minh xuất chúng, học một đã hiểu mười, học mười đã biết trăm, nhưng với một câu hỏi dường như quá dễ dàng của Tổ Qui Sơn: “Trước khi cha mẹ sinh ra, ta là ai ? ” Cũng đủ làm cho Thầy  điên đầu, dùng hết những tri kiến đã hấp thụ được cũng không thể nào giải nổi. Thầy buồn quá đốt hết sách vở và tự than rằng: "Bánh vẽ không thể no lòng người đang đói" và Thầy  làm một quyết định sẽ thực nghiệm lại những gì từ lâu Thầy lầm tưởng cho đó là hoa trái của sự tu tập. Các huynh đệ ấy cũng thế, không có thời gian, không có cơ hội để áp dụng những gì mình đã học vào thực tế, không tiêu hóa được những đống kiến thức cồng kềnh thành chất bổ dưỡng nuôi sống cơ thể. Như  vậy cơ thể sẽ bị héo mòn, các huynh đệ ấy vẫn không có gì thay đổi trong quá trình lột xác từ một kẻ phàm tục trở thành một người xuất gia, từ một chú Sa di trở thành một thầy Tỳ kheo mô phạm cho muôn loài. Các huynh đệ ấy vẫn ham thích ăn sung mặc sướng, vẫn ưa chuộng những lời dịu ngọt tỉ tê, vẫn sẵn sàng bộc phát sân hận trước những gì không vừa ý, vẫn tiếp tay mở ngõ cho danh  lợi, ái dục tự do đi vào... vẫn y nguyên như người phàm tục chỉ khác nhau một cái đầu và chiếc áo. Cho nên khi thấy nhiều huynh đệ từ miền xa lên tỉnh thành để tham dự vào các trường Phật học mà phải cực lực vất vả, thiếu thốn rất nhiều phương tiện chúng tôi lấy làm chua xót, nhưng khi nhìn thấy nhiều huynh đệ lao mình vào những đam mê trụy lạc của cuộc đời, đánh mất phẩm cách của một Tỳ kheo chúng tôi càng đau xót gấp trăm nghìn lần. Các huynh đệ ấy đã tự cô phụ lại với ý nguyện xuất trần của mình từ lúc nào không biết, hoặc biết mà không đủ năng lực để quay đầu trở về.“Tiền lộ mang mang, vị tri hà vãng”(Qui Sơn cảnh sách văn). Vâng, nếu như chúng ta có một con đường đi và ta quyết tâm đi trên con đường ấy thì chúng ta thực sự đã có hạnh phúc. Nhưng ngược lại, nếu chúng ta thấy xa xa chỉ là khói sương mờ mịt, con đường phía trước mênh mang ,  không biết rẽ lối nào thì quả là một sự mất mát, lỗ lã và đau khổ to lớn trong đời tu của chúng ta. Và rồi chúng ta sẽ dễ dàng cởi áo hoàn  tục, bản thân chúng ta sẽ đau khổ vì chí nguyện không thành; cha mẹ và anh chị của chúng ta sẽ đau khổ vì ước vọng dở dang; Thầy Tổ, tăng thân sẽ đau khổ vì đã để cho chúng ta tiếp tục đọa đày trên con đường sinh tử. Cho nên các huynh đệ phải cố gắng nuôi nấng nguồn năng lực hảo tâm ban đầu, phải tư duy và phản tỉnh thường xuyên, phải dành nhiều thời gian để sống với chính mình mà tinh thần nhập thất tránh duyên là phương pháp hữu hiệu nhất của bao đời chư Tổ, chư tiền bối. Cho nên ngoài thời gian nghiên cứu giáo lý, các huynh đệ phải cố gắng tập nếp sống "độc xử nhàn cư", phải biết trâu của mình vốn rất thích rong chơi, ăn lúa xanh, uống nước mát nên phải canh chừng nó từng giờ từng phút không để lơi lỏng. Nếu nó ương ngạnh quá thì phải trói chặt lại cho ăn rơm khô thôi. Khi ở trong chuồng trâu sẽ quên đi bầu trời xanh ngát, tự hối lỗi, dần dần thuần phục. Các huynh đệ chăn tâm đến trình độ thuần thục, nằm trên ngũ dục mà không thèm thuồng thì mới dám xông pha vào cuộc đời uế trược này để tùy duyên hóa độ chúng sanh. Các huynh đệ phải biết và hiểu rõ chính mình, phải biết mình mang chứng bệnh nào mà tìm một phương thuốc thích hợp để trị liệu, phải tránh xa những điều kiện và môi trường làm cho con bệnh tái phát như người ghiền rượu không bao giờ đi qua quán rượu, người nghiện thuốc phiện không bao giờ ngồi gần người hút thuốc phiện. Đó chính là cẩm nang của hành giả đi trên con đường giải thoát. Dục lạc của thế gian và đặc biệt là ái dục luôn mời gọi, cám dỗ những chàng trai và những cô gái trẻ có ý niệm chối từ nó. Nó là thứ lửa dữ sẳn sàng thiêu rụi giới thân huệ mạng vì thế các huynh đệ phải tự biết thân phận mình như gánh rơm khô mà tìm cách lánh xa, càng xa càng tốt.
Các huynh đệ quý mến ! Năng lực bảo vệ cho tâm Bồ đề được lớn mạnh là hàng rào tịnh giới. Cho nên sau khi các huynh đệ được trao truyền 250 giới hay 348 giới điều phải hết sức giữ gìn cẩn thận, dù hoàn cảnh có trái ngang, cùng cực như thế nào đi chăng nữa có thể mất cả thân mạng cũng nhất định không hủy phạm Thánh giới, tuyệt đối không làm bản thể thanh tịnh Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni bị thương tổn. Tịnh giới được bảo tồn, tâm bồ đề được tăng trưởng, nhưng với một nghiệp chướng sâu dày cũng gây trở ngại to lớn trên bước đường tiến tu của hành giả. Vì vậy các huynh đệ phải nên chuyên cần lạy sám hối, nhờ năng lực gia bị của mười phương chư Phật cộng với năng lực thiết tha qui mạng của chính mình thì nghiệp lực từ vô thỉ kiếp sẽ dần tiêu, khi đối diện với những hoàn cảnh bức xúc xảy ra các huynh đệ vẫn có đủ khả năng điều phục, đứng vững và không làm cho con tim rỉ máu.
Này những người huynh đệ! Tôi rất vui mừng tôi đã có thêm hàng trăm người anh em, hàng trăm rường cột vững chắc phụ kề vai với chúng tôi chống đỡ ngôi nhà Phật Pháp. Gia tài của Như Lai để lại đã bị những người con không hiếu thuận ngang nhiên phá sản và gần như khánh tận trong những tháng ngày gần đây. Cho nên chúng tôi kỳ vọng rất nhiều ở các huynh đệ, mong rằng mỗi huynh đệ để lòng nghĩ đến tiền đồ Phật giáo đang rơi vào thời kỳ đen tối mà cố gắng duy trì và phát huy giới luật. Vì vận mệnh Phật Pháp hoàn toàn tùy thuộc vào sự tồn vong của giới luật – Đức Như Lai đã phó chúc điều này như một lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với hàng đệ tử, những người có trách nhiệm thay thế đức Phật làm cho Phật Pháp lưu thông mãi trên cõi đời. Tinh thần học và trì luật của nước nhà hiện nay đang xuống dốc trầm trọng, phần lớn Tăng Ni chỉ ưa chuộng nếp sống tân tiến, tự do phóng túng, không còn tha thiết để khép mình vào khuôn khổ giới luật nữa. Nên chúng tôi tin tưởng vào sức sống trẻ của các huynh đệ, nhất định không theo những vết cũ sai lầm, để cùng nhau  làm sống lại hình bóng giải thoát và tinh thần hòa hợp của Tăng già, một giáo đoàn gương mẫu của nhân loại. Người kia là trượng phu, ta cũng có thể trượng phu; người nọ thành Thánh nhân thì ta cũng đầy đủ năng lực để trở thành Thánh nhân. Nếu các huynh đệ có được một tinh thần, một nghị lực, một lối sống đúng pháp như thế thì dầu kiếp này chưa liễu ngộ được chân tánh, nhưng các huynh đệ vẫn không bị đọa lạc trong sanh tử; kiếp sau hoặc kiếp sau nữa chắc chắn sẽ được dự vào dòng Thánh.
Các huynh đệ ! Chúng ta hãy thương yêu nhau, đừng vì những khiếm khuyết sai lầm nhỏ mọn của anh em một nhà mà làm chỗ hở cho Ma Ba Tuần xông vào gây ra cảnh huynh đệ tương tàn, xung đột. Bởi vì đây cũng là nguyên nhân chính yếu đưa giáo đoàn Phật giáo đến chỗ tan rã. Các huynh đệ hãy cùng nhau dũng tiến như sư tử san bằng mọi trở lực của rừng xanh, nếu một huynh đệ nào đó gục ngã thì hãy cố gắng dìu nhau, đừng bỏ mặt nhau giữa cơn thác loạn của hồng trần.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.16/5/2016.MHDT.

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hay trong phân, ruộng đất
 
Mỗi mỗi nên xem kĩ
 
Đó là hạnh xuất gia.
 
Phụng sự thầy mọi việc
 
Rửa bát cho sạch sẽ
 
Theo ba thời hành lễ
 
Chắp tay hướng về thầy
 
Hỏi thầy muốn dùng gì?
 
Thọ thực trị bệnh đói
 
Như thế khi thọ thực
 
Dùng nước đã lọc kia
 
Rửa sạch đôi bàn tay
 
Rồi im lặng thọ thực.
 
Thọ thực rồi tụng kệ
 
Hồi hướng đến tín thí
 
Như thuyết mà thực hành
 
Tăng trưởng hạnh chánh niệm.
 
Tin hiểu giới thanh tịnh
 
Y pháp mà tu trì
 
Chánh quán tự tương ưng
 
Xuất gia tâm an lạc.
 
Trì giới nên nhất tâm
 
Những người phạm giới pháp
 
Người thấy, lòng khinh chê
 
Cả hai đều phạm tội.
 
Trì giới hay phá giới
 
Cho đến người bị bệnh
 
Thuyết pháp không hợp cơ
 
Người nghe không tôn trọng
 
Khi chết chịu khổ lớn.
 
Nếu dùng các thuốc độc
 
Hoặc trì các chú pháp
 
Khiến người phải mạng chung,
 
Lại dùng mọi phương cách
 
Để giết hại chúng sinh
 
Đều là nhân phá giới
 
Mãi chìm ba đường ác
 
Địa ngục, quỉ, súc sanh
 
Thứ lớp chịu tội báo.
 
Cho đến các vị trời
 
Nếu giết hại chúng sanh
 
Sẽ rơi vào đường ác
 
Chịu các quả báo khổ.
 
Nếu có người xuất gia
 
Phát động thân miệng ý
 
Ngộ sát loài trùng kiến
 
Sẽ bị ba tội nặng
 
Tương ưng với ba nghiệp.
 
Nếu dùng gậy, nắm đấm
 
Đất đá và gạch ngói
 
Đánh, ném loài hữu tình
 
Lạc đà, lừa, cầm thú
 
Cũng mang tội phá giới.
 
Nếu cưỡi trên các loài
 
Lừa, ngựa, voi, lạc đà
 
Đánh đập bức ép chúng
 
Cũng phạm tội phá giới.
 
Nếu là người xuất gia
 
Thì không được trộm cắp
 
Tự trộm, bảo người trộm
 
Được các loại tài vật
 
Dù chỉ một phần tư
 
Ca-lí-sa-ba-noa[1]
 
Cũng là nhân phá giới
 
Mà tạo thành tội nặng.
 
Như trộm lấy các loại
 
Thức ăn uống, gạo thóc
 
Hoa quả, các loại cây
 
Sanh từ đất hay nước
 
Hoặc trộm lấy thuế quan
 
Hoặc lén qua quan ải
 
Hoặc trộm của những loài
 
Hai chân hay nhiều chân.
 
Hoặc là người xuất gia
 
Đã thọ dụng đầy đủ
 
Lại tham trộm tài vật
 
Cũng đều bị tội nặng.
 
Nếu y bát của mình
 
Dù bị giặc cướp mất
 
Không được cưỡng đoạt lại
 
Nên thuyết pháp giáo hoá
 
Hoặc dùng tiền chuộc lại
 
Nếu cũng không chấp nhận
 
Thì tuỳ thuận ý họ
 
Đó là tâm xuất gia
 
Chẳng động tội ba nghiệp
 
Giới tánh tự thành tựu.
 
Nếu là người xuất gia
 
Không được hành dâm dục
 
Nam nữ và hoàng môn
 
Tự đến thương mến nhau
 
Ngu mê khởi ái trước
 
Thì phạm tội căn bản.
 
Nếu cố ý hành dâm
 
Như rắn và thuốc độc
 
Làm tổn thương thân mạng
 
Chịu khổ địa ngục lớn
 
Chướng ngại quả Niết-bàn
 
Không thể vượt sanh tử.
 
Chánh Giác chẳng phải thế
 
Thân chưa từng phạm giới
 
Giữ giới được lợi lớn.
 
Là một người xuất gia
 
Thì không được nói dối
 
Nếu nói thấy chư thiên
 
Cùng nói chuyện với mình,
 
Lại nói đã từng đến
 
Nơi ở của đại nhân,
 
Cho đến càn-thát-bà
 
Làm bạn rồng, dạ-xoa
 
Đến ma-hầu-la-già
 
Tì-xá, khẩn-na-la
 
Và quỉ bát-lí-đa
 
Cùng nói chuyện với chúng
 
Thảy đều là nói dối.
 
Hoặc nói được năm thông
 
Chánh đạo và bốn quả
 
Thông suốt pháp sâu xa,
 
Chưa được nói đã được
 
Lời nói dối như thế
 
Mãi chìm vào đường ác.
 
Là một người xuất gia
 
Không nên nói hai chiều
 
Li gián bạn bè người
 
Và nói lời thô ác
 
Thêu dệt đúng thành sai
 
Dẫu bị người mắng chửi
 
Chớ cùng họ phân trần
 
Dùng nhiều lời cãi nhau
 
Mỗi mỗi nên nhẫn chịu.
 
Nếu họ không y hạnh
 
Thì bị tội phạm giới
 
Người trí vẫn giữ gìn
 
Xa lìa lỗi thân miệng.
 
Các loại rượu gạo nếp…
 
Hay làm say mọi người
 
Không được cố ý uống.
 
Các loại rượu mía, hoa
 
Bồ đào và quả hạt…
 
Hay làm say mọi người
 
Không được cố ý uống.
 
Tự uống, bảo người uống
 
Mê loạn mất chánh niệm
 
Tăng trưởng tâm buông lung
 
Người uống mang tội nặng.
 
Vì vậy Thế Tôn dạy:
 
Nếu uống rượu hoa quả
 
Dù chỉ một giọt thôi
 
Cũng tăng trưởng tội lỗi.
 
Hát múa và ca nhạc
 
Nếu cố đến xem nghe
 
Thì phạm vào tội nặng.
 
Dùng dầu thơm xoa thân
 
Dùng Chiên-đàn, Uất kim
 
Và các vòng hoa đẹp
 
Vàng bạc cùng châu báu
 
Trang sức khắp thân thể
 
Đều mang tội phạm giới.
 
Hoặc vẽ mày, vẽ mắt
 
Khiến trở nên xinh đẹp
 
Cũng mang tội phạm giới.
 
Giường ghế dùng nằm ngồi
 
Chiều cao bằng một trửu[2]
 
Lại không được trang hoàng
 
Cũng không quá cao rộng
 
Để buông thân, trái hạnh
 
Mà bị tội phạm giới.
 
Phật dạy hàng xuất gia
 
Nên lìa xa lầm lỗi.
 
Còn như việc thọ thực
 
Thì không được quá Ngọ
 
Sáng sớm đến trước Ngọ
 
Là thời gian thọ thực
 
Nếu ăn uống phi thời
 
Phật nói phạm tội nặng.
 
Nếu có tì-kheo bệnh
 
Trị bệnh cứu thân này
 
Cho phép ăn sau Ngọ,
 
Không bệnh ăn phi thời
 
Thì bị tội phạm giới.
 
Hễ là người xuất gia
 
Không được giữ vàng bạc
 
Thọ nhận khởi lòng tham
 
Mà bị tội phạm giới.
 
Nếu có những tín thí
 
Cúng dường Phật, pháp, tăng
 
Vì họ tạo phước lợi
 
Thì cho phép thọ dụng.
 
Lại chẳng nên tham đắm
 
Những vật dụng vui chơi
 
Nếu khởi tâm tham đắm
 
Thì chúng nên tẫn xuất.
 
Tất cả trò đùa giỡn
 
Sa-di không được làm
 
Nếu làm sẽ phạm tội.
 
Những lúc sắp muốn ngáp
 
Nên dùng tay che miệng
 
Không vậy, sẽ phạm tội.
 
Thấy Thượng tọa hắt hơi
 
Nên thăm hỏi, đảnh lễ.
 
Tân học mà hắt hơi
 
Thượng tọa nên chú nguyện:
 
“Trường thọ, thân không bệnh!”.
 
Sa-di đứng trước thầy
 
Quyết không được khạc nhổ,
 
Cũng không được xỉa răng,
 
Không được ngồi đối diện
 
Và kinh hành trước thầy.
 
Phải như pháp tôn trọng
 
Bậc tuổi cao đức dày.
 
Khi đến nhà vệ sinh
 
Nếu là người tới sau
 
Nên nói khẽ cảnh báo.
 
Nước đã lọc vô trùng
 
Khi thêm vào tịnh bình
 
Tay sạch khoan thai rót
 
Không mất hạnh xuất gia.
 
Giường, tòa thầy ngồi nằm
 
Dùng nệm sạch trải lót.
 
Tất cả giường, ghế… ấy
 
Sa-di không được ngồi.
 
Nếu thầy đã viên tịch
 
Nên nương tăng thanh tịnh
 
Bậc hiểu rõ luật nghi
 
Vâng theo mà hầu hạ.
 
Chớ nương theo tăng khác
 
Trái phạm sẽ bị tội.
 
Nếu tì-kheo ra ngoài
 
Vì cầu duyên sự gì
 
Trong năm ngày phải về
 
Được lợi, đồng chia chúng,
 
Chúng được lợi cũng vậy
 
Chia người ngoài trở về.
 
Nếu đi quá năm ngày
 
Cả hai đều không chia.
 
Sa-di đại tiểu tiện
 
Nên hỏi đất Phật, tăng
 
Không nên đi lẫn lộn
 
Nên theo khu vực mình.
 
Hễ làm những việc gì
 
Chắp tay thưa hỏi thầy
 
Thực hành đúng như vậy
 
Không mất đi chánh hạnh.
 
Chiều tối lễ tháp Phật
 
Sau đó vấn an thầy
 
Rửa sạch chân của thầy
 
Xong việc tâm kính cẩn
 
Lắng nghe điều cần thiết.
 
Đầu đêm và cuối đêm
 
Trì tụng chớ nên dừng
 
Nữa đêm khi ngủ nghỉ
 
Như dáng sư tử nằm.
 
Tất cả pháp được dạy
 
Một lòng hành trì theo
 
Huân hạt giống Thánh hiền
 
Phiền não tự tiêu diệt
 
Chóng thành Vô thượng giác.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.16/5/2016.MHDT.