Monday, March 18, 2019

Các Kỹ Năng Hoằng Pháp Trong Đạo Phật: Phương Pháp…

Chương 6: HOẰNG PHÁP 15: SOẠN DÀN BÀI

1. Sự tôn trọng người nghe
Khi xuất hiện trên pháp tòa, ta trở thành niềm hy vọng cho người nghe về một bài giảng đạo lý hấp dẫn lôi cuốn và lợi ích. Người nghe bỏ ra thời gian, công sức đi đến và cả một tấm lòng tha thiết với đạo để chờ đợi một trận mưa pháp tươi mát cho cuộc đời họ, cho tâm hồn họ. Vì thế ta không được khinh suất giảng giải tùy hứng, ứng khẩu nói ba trời bốn biển chẳng ra đâu vào đâu. Ta phải có một dàn bài được chuẩn bị đàng hoàng kỹ lưỡng. Ta phải có một sự sắp xếp ý tưởng theo một trình tự logic hợp lý. Như vậy, có khi ta giảng chưa hay, nhưng sự chuẩn bị chu đáo đó cũng giúp bài giảng có giá trị.
Khi soạn xong dàn bài thì xem như bài giảng đã thành công hơn một nửa. Công việc còn lại là khi đăng đàn thuyết pháp, ta nhìn từng Ý và ứng khẩu diễn đạt từng Ý đó sao cho vừa phải, rõ ràng, hấp dẫn... là tuyệt vời. Có dàn bài trước mặt, ta sẽ tự tin hơn rất nhiều. Ai có soạn dàn bài rồi sẽ thấy, có những Ý tưởng phải chiêm nghiệm mất vài tiếng đồng hồ mới phát hiện ra được. Ta phải tập trung tinh thần nhìn sâu thăm thẳm vào cuộc sống, vào đạo lý, vào Phật Pháp, vào tâm hồn con người mới tìm thấy điều kỳ lạ bất ngờ. Lúc đã lên ngồi trên pháp tòa rồi làm gì có thời gian suy nghiệm nữa. Lúc đó nếu Phật độ thì ta sẽ bất ngờ có phát kiến hay, nếu không thì ta sẽ lúng túng, ú ớ, nói đi lại nói lại một Ý gì đó mãi khiến người nghe phát chán.
Trừ những vị thánh cao siêu trí tuệ ngút trời không cần phải chuẩn bị trước mà vẫn có một dàn ý hợp lý sâu sắc, còn lại ai cũng phải soạn dàn bài trước khi thuyết pháp. Đây là điều kiện quan trọng của một giảng sư, là một bổn phận của giảng sư, là đạo đức của giảng sư. Nếu không có thời gian soạn dàn bài thì ta phải lập tức thông báo sớm từ chối buổi giảng để chùa còn thời gian thỉnh vị khác. Đây là thái độ hết sức đứng đắn, thành thật, biết làm việc. Lên pháp tòa mà chưa có dàn bài, hoặc không thể giảng mà không chịu thông báo sớm đều là coi thường mọi người.
Ta sẽ thấy rất rõ rằng để có một bài giảng khá, dài khoảng một tiếng rưỡi, ta phải chuẩn bị dàn bài cả ngày, thậm chí vài ngày. Giá trị bài giảng hay chính là lúc ta làm việc âm thầm soạn bài chứ không phải lúc ta xuất hiện trên pháp tòa. Nhưng phần đông không thấy được vấn đề này, cứ thích cái lúc hiên ngang nói thao thao trước thính chúng mà không quý trọng cái lúc chuẩn bị trong âm thầm lặng lẽ. Tất cả mọi việc trên đời đều như vậy, những công đoạn trong bóng tối mới là những phần việc quan trọng.
2. Phân tích Chủ đề để tìm ra những Ý chính
Thật ra nếu phân tích cho cặn kẽ, mỗi Chủ đề có thể được phân thành vài trăm Ý chính. Nhưng phân như vậy là không thích hợp cho một bài thuyết pháp. Ta cố gắng phân một Chủ đề ra trong vòng 10 Ý chính là khá đủ, quan trọng là tìm ra được những Ý chính độc đáo, căn bản, sâu sắc là thành công. Có những chủ đề chỉ cần được phân ra 5 Ý chính mà cũng rất hay.
Mỗi Chủ đề có một cách phân Ý khác nhau, nhưng ta có thể đi theo cách này là căn bản:
- Định nghĩa: làm gì thì trước hết phải định nghĩa Chủ đề cái đã. Ví dụ ta giảng chủ đề Bình đẳng, thì phải định nghĩa Bình đẳng nghĩa là thái độ đối xử không phân biệt với mọi hạng người. Hoặc ta giảng chủ đề Lòng biết ơn thì phải định nghĩa Biết ơn là quý trọng người đã giúp mình.
- Có trường hợp khó định nghĩa, ta có thể dùng phương pháp nêu ra nhiều chi tiết để minh họa. Ví dụ ta muốn định nghĩa về Tình đạo nhưng thấy rằng càng định nghĩa càng rối rắm, nên dùng nhiều ví dụ để minh họa. Ta kể về sự tương thân tương ái của các huynh đệ, kể về những khi khó khăn mà các huynh đệ kề vai sát cánh bên nhau... như vậy cũng làm cho người nghe cảm nhận được thế nào là tình huynh đệ.
- Ý chính tiếp theo là liệt kê từng tính chất. Ví dụ trong chủ đề Bình đẳng, ta liệt kê ra những tính chất như bình đẳng giữa người nghèo và người giàu, giữa người mới và người cũ, giữa người Kinh và người Thượng... Ví dụ trong chủ đề Lòng biết ơn ta liệt kê ra những ơn nghĩa như lòng biết ơn cha mẹ, biết ơn thầy cô, biết ơn đất nước, những anh hùng, những vị quan tướng có công lao, những bạn bè tốt, nhưng người ơn, những người công nhân trên công trường vất vả...
- Ý tiếp theo là ta nói lên hậu quả xấu của ai làm ngược với điều tốt. Ví dụ, ai vô ơn sẽ phải chịu những quả báo như thế nào, ai không biết cư xử bình đẳng phải chịu quả báo như thế nào.
- Ý tiếp theo ta trình bày những trường hợp ngoại lệ, ví dụ nếu người giúp ta bây giờ đã trở nên xấu xa ác độc thì ta không thể vì mang ơn mà phục vụ tiếp tay cho họ. Hoặc có khi ta phải cư xử thiên vị vì sự ưu ái lúc đó cần thiết để thể hiện một đạo lý gì đó.
- Phần cuối thì ta nhắc nhở công đức tu hành,khuyến khích mọi người tinh tấn.
Đại khái trên đây là một gợi ý cho dàn bài mẫu. Khi đi vào thực tế soạn dàn bài cho những chủ đề khác, tùy theo trí tuệ của mỗi người mà ta sẽ có sự điều chỉnh cho thích hợp. Có những chủ đề cho ta rất nhiều Ý chính, nhưng cũng có chủ đề khó phân ra nhiều.
Trường hợp soạn dàn bài để giảng một bài kinh Phật trong Đại Tạng thì sự phân Ý dễ có nhưng rất khó về đạo lý. Kinh Nikaya có sắc thái riêng và Kinh tạng Đại thừa có sắc thái riêng. Kinh Nikaya gần gũi thực tế nhưng cao vút về sự chứng ngộ; kinh Đại thừa mênh mông huyền bí nhưng lại dễ bị ngoại đạo mượn để bổ sung cho giáo lý của họ. Lần sau ta sẽ nói về vấn đề này.
Từ mỗi Ý chính trên đây, ta sẽ phân ra các Ý phụ theo như bài học lần trước. Mỗi Ý chính có thể cho ta năm ba Ý phụ. Mỗi Ý phụ có thể được trình bày vài phút. Cộng hết mười lăm hai mươi Ý phụ đó là ta có một bài giảng khoảng hơn một tiếng đồng hồ. Như vậy là rất đạt.
3. Thực hành soạn dàn bài một số chủ đề cho sẵn
Bây giờ ta thực hành tại lớp soạn dàn bài một số chủ đề cho sẵn để hiểu những thuận lợi và khó khăn trong công việc này. Sau đó, ta sẽ về phòng làm bài tập soạn dàn bài cho 3 chủ đề khác nhau. Những dàn bài bài tập này nên được cất giữ để có khi sau này ta đem ra thuyết giảng ở đâu đó cũng rất hay.
Chủ đề số 1: Chướng ngại trong cuộc đời tu hành
Ñ Ý chính thứ nhất, Định nghĩa: Chướng ngại là: (dưới đây là các Ý phụ)
- Thiếu thốn vật chất.
- Huynh đệ chung quanh cư xử khắt khe.
- Phật tử dè bỉu bất kính.
- Bệnh hoạn.
- Thầy không thương lắm.
- Việc học không được suôn sẻ...
Còn nhiều Ý phụ về sự chuớng ngại nhưng ta sẽ để dành làm ví dụ cho những phần sau. Phần định nghĩa mà kéo dài quá lại làm nặng nề bài giảng.
Ñ Ý chính thứ hai, Ta vui vẻ chấp nhận vì hiểu đó là Nghiệp duyên đời trước. Các Ý phụ cho đoạn này là:
- Sự thiếu thốn là do ta đã bỏn xẻn, hoặc sử dụng tiền bạc không chính xác.
- Huynh đệ khắt khe vì ta có lẽ cũng hắc ám kiếp nào đó, hoặc ta ít quan tâm thương yêu họ.
- Phật tử nói bậy vì có lẽ họ có oan trái với ta.
- Thầy không thương vì có lẽ ta ít giúp đỡ thầy
- Việc học không suôn vì biết đâu ta đã từng ganh tị...
Ñ Ý chính thứ ba, Ta xem các nghịch cảnh đó là cơ hội để rèn luyện ý chí và nhân cách. Gồm có các Ý phụ như sau:
- Khi thiếu thốn, ta tập sống đơn giản để sau này dù cho có sung túc hơn, ta vẫn biết cần kiệm không hoang phí.
- Dù huynh đệ khắt khe, ta vẫn cố gắng trải lòng thương yêu họ. Sau này, biết bao kẻ xấu đang chờ đợi để hãm hại ta, ta vẫn sẽ thương yêu họ kia mà.
- Phật tử nói bậy giúp ta tập bình thản trước lời chê, và hứa sẽ thản nhiên trước lời khen sau này.
- Thầy ít thương thì ta vẫn nguyện lòng trung thành và vâng lời thầy để đạo tình không sứt mẻ.
- Việc học không suôn thì ta phấn đấu tự học...
Ñ Ý chính thứ tư, Những nghịch cảnh của các vị
Thánh, gồm các Ý phụ sau đây:
- Chính Phật cũng phải đối diện nhiều nghịch cảnh
sau khi tín đồ của các vị Bàlamôn chuyển sang quy y Phật. (ta phải kể một số ví dụ)
- Ngài Huyền Trang chịu nhiều khổ nạn trên
đường đi thỉnh kinh,
- Lục tổ Huệ Năng bị giành Y Bát thiếu điều bị
giết chết.
- Thời Ngô Đình Diệm cầm quyền, toàn bộ Phật
giáo bị trù dập hà hiếp khổ sở...
Ñ Ý chính thứ năm, Nghịch cảnh cũng là vẻ đẹp cho đời tu, gồm những Ý phụ như sau:
- Nghe thuật lại cuộc đời của một vĩ nhân mà cứ
thuận lợi tất cả thì rất nhàm chán. Chính những nghịch cảnh làm cho cuộc đời vĩ nhân đó thật sự vĩ đại.
- Cuối đời nhìn lại, ta đi qua một đơi tu hành đầy
cam go vất vả mà vẫn không thoái chí nản lòng thì thật là tấn gương đẹp cho muôn đời sau.
- Những kinh nghiệm xương máu khi đối diện với
nghịch cảnh khiến ta có thêm kinh nghiệm để dạy dỗ đàn hậu tấn...
Một dàn bài như thế cũng là rất phong phú. Tổng số 23 Ý phụ như thế có thể được triển khai khoảng 60 phút là rất linh động.
Chủ đề số 2: Đạo Phật yêu chuộng hòa bình
Ñ Ý chính thứ nhất, Định nghĩa, gồm những Ý phụ như sau:
- Tin luật Nhân quả nên người đệ tử Phật không dám sát sinh.
- Giới luật của Phật cũng nghiêm cấm sát sinh.
- Đạo Phật khuyến khích tu tập lòng Từ bi phủ trùm thương yêu tất cả.
- Ngay cả việc ăn chay của đạo Phật cũng thể hiện lòng hiếu sinh mạnh mẽ của đạo Phật.
Ñ Ý chính thứ hai, Thế giới chiến tranh liên miên, gồm những Ý phụ như sau:
- Nhìn trên Nhân quả thì loài người đang trả những quả báo giết hại lẫn nhau từ nhiều kiếp, như săn bắn, câu cá, giành đất, hận thù...
- Nhìn trên hiện hữu thì con người gây chiến vì quyền lợi kinh tế.
- Hiện nay tín đồ các tôn giáo cực đoan thì gây chiến để bành trướng tín ngưỡng của mình.
- Các nước có sức mạnh thì muốn bành truớng ảnh hưởng của mình lan rộng và thống trị nhiều nước khác.
- Thậm chí các nước sản xuất vũ khí phải bí mật xúi giục chiến tranh để tiêu thụ vũ khí.
Ñ Ý chính thứ ba, Sự đóng góp của đạo Phật đối với hòa bình thế giới, gồm những Ý phụ như sau:
- Đệ tử Phật phải tích cực truyền bá niềm tin hiểu về luật Nhân quả cho khắp mọi nơi trên thế giới để mọi người biết tự kềm chế.
- Khuyến khích ăn chay để làm giảm thiểu Nghiệp sát của chúng sinh.
- Phổ biến sự hành trì tu tập lòng Từ bi cho mọi người để tiêu diệt lòng hận thù giữa người và người.
- Đối thoại với các tôn giáo bạn để kêu gọi chấm dứt sự cuồng tín bạo loạn giết chóc.
- Những Phật tử nào có duyên tham gia chính
quyền ở các quốc gia thì giúp ngăn chận ý muốn chiến tranh của chính quyền đó.
Ñ Ý chính thứ tư, Phật giáo cần củng cố khả năng của mình để làm được việc, gồm những Ý phụ như sau:
- Các tăng đoàn khắp thế giới phải đoàn kết thật sự.
- Phải đề phòng âm mưu của thế lực bên ngoài len lỏi vào gây ly gián các tông phái, các giáo hội.
- Những trường Phật học phải cải cách giáo trình giảng dạy để tăng thêm khả năng hoằng pháp của Tăng Ni.
- Khuyến khích Phật tử biết làm kinh tế giỏi để ủng hộ các hoạt động Phật sự vì hòa bình thế giới.
- Làm cho chùa trở thành nơi nương tựa tinh thần cho quần chúng về đạo đức, từ bi, thiền định.
Ñ Ý chính thứ năm, Nhưng không có nghĩa đạo Phật là nhu nhược, gồm những Ý phụ như sau:
- Yêu chuộng hòa bình, nhưng đạo Phật vẫn sẵn
sàng kiên quyết bảo vệ đạo pháp và đất nước khi bị xâm hại.
- Ba đức tính Bi Trí Dũng là một sự cân đối lý tưởng cho sắc thái của một tôn giáo tuyệt với nhất thế giới, trong đó, Dũng có nghĩa là dám đương đầu với kẻ xấu ác.
Một dàn bài như vậy là rất tuyệt vời. Nhưng để có những Ý tưởng đó thì ta phải có trí tuệ và có kiến thức, nhìn thấy những điều còn dấu kín trong lòng người, còn dấu kín trong bóng tối, cũng như ta phải có tầm nhìn bao quát cả thế giới.
Chủ đề số 3: Giảng bài kinh Chân Nhân trong Trung Bộ kinh 3.
Soạn dàn bài cho kinh thì ta dễ sắp xếp Ý tưởng vì cứ đi theo tiến trình của bài Kinh là được. Tuy nhiên cái khó ở đây là ta phải hiểu cho đúng Ý của Phật. Giảng Kinh mà sai Ý Phật thì mang tội nặng.
Mỗi khi giảng kinh, ta nên kể một đoạn ngắn về hình ảnh đức Phật, về cuộc đời đức Phật rồi hãy đi vào phân tích giáo lý. Hình ảnh và cuộc đời đức Phật luôn luôn là niềm cảm xúc dạt dào cho tất cả chúng ta.
Những bài kinh Phật được ưu điểm là Phật đã có một dàn Ý rất logic, từ đơn giản đến phức tạp, từ căn bản đến nâng cao. Ta cứ việc đi dần theo những dàn ý đó là tốt lắm rồi.
Đại ý của bài kinh Chân Nhân là Phật muốn răn dạy những người tự khen mình khi mình có ưu điểm hơn người, dù cho ưu điểm đó thuộc về sự tu tập chân chính. Ban đầu một người xuất gia tự khen mình, tự cho mình là ưu thắng vì xuất thân từ dòng dõi cao quý sang trọng. Những đoạn sau, người thành tựu những
sự tu tập như giới luật, thiền định... rồi tự khen mình. Tất cả những trường hợp tự khen mình, tự cho mình hơn ngưòi như thế đều bị Phật chê là phi chân nhân. Những lời Phật dạy như thế dường như không bao giờ lạc hậu vì cho đến giờ này tất cả chúng ta vẫn mắc cái lỗi âm thầm tự khen mình mỗi khi mình đạt được ưu điểm gì đó.
Điều khó của cách giảng bài kinh này là nếu nói lại đúng y chang những gì Phật đã nói thì có khác gì cầm quyển kinh mà đọc cho thính chúng nghe đâu. Vì vậy, ta sẽ đi qua từng Ý của bài kinh, nhưng sẽ thêm nhiều ví dụ minh họa, nhiều câu chuyện dẫn chứng, phân tích thêm các tâm lý sâu xa mà chính chúng ta phải trải nghiệm khi ta cũng đã từng phạm những cái lỗi y như thế. Những ý niệm tự khen mình vừa là kiêu mạn, vừa là cố chấp làm tổn phước rất nhiều, và có thể khiến cho ta bị thoái thất công phu chẳng bao lâu.
4. Bài tập
Tăng Ni sinh sẽ soạn dàn bài cho 3 Chủ đề như sau:
- Đời sống xuất gia
- Đầy thì sẽ tràn
- Kinh Tứ Thập Nhị chương trích đoạn theo ý thích.
Trong bài Đời sống xuất gia, ta tập trung nói về Cuộc sống ở chùa, cuộc sống chung với huynh đệ, chứ không cần nói cái gì quá cao siêu. Nhưng ta vẫn phải làm cho người nghe cảm thấy thương quý người xuất gia vì những khía cạnh cảm động trong đời sống đó.
Trong bài Đầy thì sẽ tràn, ta chứng minh rằng khi mà tâm một người đầy ắp đạo lý thì chắc chắn người đó sẽ tìm cách san sẻ với mọi người chung quanh. Tự nhiên người đó sẽ trở thành một nhà hoằng pháp. Ta cũng cảnh giác về những người hay nói về đạo lý nhưng có tính khoe khoang chỉ vì họ chưa có chiều sâu tu tập.
Trong bài Trích đoạn kinh Tứ thập nhị chương thì ta chọn đoạn nào ta cảm thấy thích để triển khai. Dài ngắn gì cũng được, nhưng đừng trải rộng vấn đề quá thành ra loãng.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.19/3/2019.

No comments:

Post a Comment