Sử tích
Đại Thánh Ni GOTAMI.
(Ni Trưởng đầu tiên trong Phật giáo).
Đại Thánh Ni Gotami, tên viết đầy đủ là Mahà Pajàpati Gotàmi Therì (Sanskrit : Maha Prajapati Gautami Therì, Tàu âm là Ba-Xà-Ba-Đề Cồ-Đàm). Bà chính là dì ruột và cũng là dưỡng mẫu lẫn kế mẫu của đức Phật.
Theo kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy (Pàlì), Bà là người đầu tiên yêu cầu đức Phật cho phép nữ giới được xuất gia và tu học trong cộng đồng tăng lữ đạo Phật (Sangha). Bà cũng đã trở thành Nữ Trưởng Lão đầu tiên (Pathama Therì) đắc quả Bất Lai, thoát khỏi sinh tử luân hồi, hay A-La-Hán (Arahatta). Tên của bà thường được nhắc đến trong nhiều bài kinh và tài liệu liên quan đến đức Phật, cũng như tiền thân Phật.
Vả lại, hầu hết những nhân vật tiếp cận với Thái tử Sĩ-Đạt-Ta (=Siddhatta Gotama, Skrt. Siddharta Gautama, tên trước khi thành chánh quả của Phật), đã gần như ít được nhắc đến, trong thời gian khá dài, khoảng hai trăm năm sau khi Phật viên tịch, nên những «thư liệu» về Mahà Pajàpati Gotamì, nếu chúng ta thỉnh thoảng tìm thấy rải rác trong các kinh sách Pàlì, thì chúng có vẻ thiếu mạch lạc, và lắm khi «mâu thuẫn».
Chúng ta dĩ nhiên nên thận trọng. Đặc biệt là những thư liệu rút ra từ các sách trong bộ Túc Sanh Truyện (Jàtakà), bất kỳ theo Nam Tông hay Bắc tông. Vì nội dung chúng ta thường thấy chênh lệch khác nhau, lẫn đầy huyền thoại.
Nhưng khi «phối hợp chung kết» thì hầu hết có thể nói rằng, Mahà Pajàpati Gotamì chắc chắn là em gái (út) của Hoàng hậu Maya. Bà sinh ra ở Devadaha, và Phụ thân tên là Anjaya Sakka, thuộc vương tộc Koliya (Ap.ii538). Vương tộc nầy vừa là đồng minh vừa là kẻ thù truyền kiếp của dòng dõi Sakya (Thích-Ca). Cả hai vương tộc đều thuộc giai cấp «Chiến sĩ» (Khattiya, Skrt. Kshatriyas) trong xã hội Ấn Độ thuở bấy giờ.
Còn thân mẫu của Mahà Pajàpati Gotamì (theo kinh Appàdana) tên là Sulakkhana (Skrt.Sulakshana), nhưng «kinh truyện» Mahàvatthu (Skrt. Mahavatsu) thì không gọi là Sulakkhana, mà gọi là Yasodharà (trùng tên với công chúa vợ Thái tử Sĩ-Đạt-Ta, mẹ Ra-Hầu-La (Rahula) (Mhv.ii.18).
Mahà Pajàpati Gotamì có hai người anh, tên là Dandapani và Suppabuddha (Dpv.xiii.7f).
Khi chào đời, các nhà hiền triết đã tiên đoán rằng, cả hai chị em bà (kể luôn hoàng hậu Maya), đều là những người có phúc phần rất cao. Đó là «phúc phần» của hai bậc góp bàn tay «chuyển bánh xe pháp» (Cakkavattim) trong dân gian.
Riêng ý nghĩa cái tên «Pajàpati» (tạm dịch «nữ mô phạm») đã được cha mẹ cố ý chọn khi sinh ra Bà, bỡi vì «linh tánh» của họ đã báo trước cho họ biết rằng «Pajàpati Gotamì là kết tinh của nhiều đức hạnh» Về sau, tư cách của Gotàmì quả đã phản ảnh đúng cái tên, do cha mẹ chọn. Tính tình của Bà khác hẳn chồng bà, là vua Tịnh Phạn (Suddhodana).
Đến tuổi trưởng thành, hai chị em (Màyà và Pajàpati) lần lượt kết hôn với vua Tịnh Phạn (Suddhodana), người đứng đầu vương tộc Thích ca (Sakya). Rồi khi Hoàng hậu Màyà qua đời (7 ngày sau khi hạ sinh Thái tử), Mahà Pajàpati Gotàmì tình nguyện nhận trách nhiệm nuôi dưỡng Thái tử Sĩ-Đạt-Ta (Siddhatta). Bà vui lòng giao con đẻ của mình là Nanda cho người vú chăm sóc.
Do đó, chúng ta có thể nghĩ rằng, «Sĩ-Đạt-Ta Cồ-Đàm» (Siddhatta Gotama) đã mang «danh hiệu» của dưỡng mẫu. «Gotama» tàu âm là «Cồ Đàm». Vì thuở bấy giờ, khuynh hướng mẫu hệ rất thịnh hành. Tập tục gọi tên con theo «danh hiệu» của người mẹ, là một chuyện rất bình thường. Và ngoài Nanda (Nan-Đà) ra, Mahà Pajàpati Gotamì còn sinh một đứa con gái, tên là Sundarì Nanda. (MA.i.1001, cp).
SỰ RA ĐỜI CỦA NI CHÚNG.
Tưởng cũng nên nhắc lại, rằng khi vua Tịnh Phạn (Suddhodana) từ trần, đệ nhị hoàng hậu Mahà Pajàpati Gotamì đã đắc quả Tu Đà Hườn (Sotàpanna), bậc thứ nhất trong thánh lưu giải thoát.
Theo Dh.A.i.97, thì Bà đắc đạo khi đức Phật, trong chuyến trở về thành Ca-Tỳ-La-Vệ (Kapilavatthu), đến thăm tư dinh của thân phụ Bà, và thuyết một bài Pháp, có tên là Mahà Dhammapàla jàtaka (Truyện người Đại Hộ Pháp). Thời pháp đó đã làm Bà phát nguyện sẽ hành trì cho viên tròn phạm hạnh, tiến tới giải thoát sinh tử.
Nhưng nhìn vào thực tế, Bà còn sống trong «tình trạng» một cư sĩ, và vì đại nguyện nói trên, Bà đã luôn luôn chờ dịp, để yêu cầu Phật cho phép Bà xuất gia, nhập vào «cộng đồng thanh tịnh khất sĩ».
Lúc ấy đức Phật Cồ-Đàm (Buddha Gotama) trở lại quê quán, với mục đích hòa giải sự xung đột, giữa 2 vương tộc Koliya và Sakya, tranh chấp quyền xử dụng dòng nước con sông Rohini, nằm giữa 2 lãnh thổ, vốn đã nhiều lần là nguyên nhân gây gổ giữa đôi bên.
Ở đó, sau khi Phật nói kinh Kalahavivàda, thì có 500 nam thanh niên quí tộc Sakya (Thích-Ca) xin xuất gia, nhập vào cộng đồng Tăng lữ (Sangha). Vợ của những người ấy nhân dịp liền cùng với Mahà Pajàpati Gotamì đến cầu Phật, để họ được làm như vậy, nhưng đức Phật đã từ chối. Rồi Ngài lên đường đi Tỳ-Xá-Ly (Vesàli=Vaisàli).
Sẵn quyết tâm, Mahà Pajàpati Gotamì và những thiếu phụ quí tộc Sakya kia liền tự mình xuống tóc, ăn mặc vải thô màu vàng, rồi cùng nhau lên đường theo chân Phật. Tuy đã bị Phật từ chối nhiều lần, nhưng họ không nãn chí bỏ cuộc. Đoàn người đi mãi cho đến nơi Phật dừng chân, là Tỳ-Xá-Ly.
Đến nơi, Phật đi thẳng vào tịnh phòng Mahayana, trong sảnh đường Kutagara, thì Mahà Pajàpati Gotamì và 500 phụ nữ quí tộc cũng theo sau. Đoàn người nữ «cầu xuất gia» nầy nhất định không rời Phật nửa bước, làm cho tăng đoàn tùy tùng bên cạnh đức Phật càng khó xử.
Tiếp theo, nhờ Tôn giả A-Nan-Đa (Ananda) ủng hộ họ, hỏi Phật về «hạnh nguyện của Dì mẫu Mahà Pajàpati Gotamì có thể viên tròn giải thoát, trong kiếp nầy hay không», thì được Phật trả lời «có thể». Với câu trả lời «tích cực» đó, A-Nan-Đa đã mạnh dạn yêu cầu Phật chấp thuận cho Mahà Pajàpati Gotamì, và các thiếu phụ quí tộc Sakya (Thích-Ca) đi tu.
Đức Phật khi ấy dùng vô lượng tâm quán chiếu về các kiếp quá khứ, thì thấy Mahà Pajàpati Gotami đã từng phát đại nguyện gặp Phật thì nâng cao phạm hạnh, trở thành tu sĩ, sống đời sống giải thoát, và hướng dẫn những đồng đạo chung quanh. Liền đó Phật chấp thuận lời yêu cầu cho nữ phái xuất gia, cùa Tôn giả A-Nan-Đa (Ananda), lẫn của dì mẫu Mahà Pajàpati Gotamì.
Nhưng không phải chỉ có thế, song song với việc cho phép nữ giới xuất gia, đức Phật còn nêu ra 8 điền kiện (cũng có thể gọi là 8 giới luật) dành riêng cho nữ tu, hay tỳ-kheo-ni (bhikkhùnì) phải tuyệt đối tuân hành. Và người đầu tiên sốt sắng chấp nhận 8 điều kiện ấy là Hoàng hậu Mahà Pajàpati Gotamì (Sp.i.242).
8 giới luật ấy là :
1/Tỳ-kheo-ni (Bhikkhùnì) phải luôn luôn kính trọng Tỳ-kheo-tăng, hay khất sĩ nam (bhikkhu), dù cho vị ấy xuất gia sau họ.
2/Tỳ-kheo-ni không được «an cư kiết hạ» ở một nơi riêng rẽ, không có Tỳ-kheo-tăng đủ phạm hạnh hướng đạo.
Chú dẫn :
Phật phê chuẩn : Vào mùa mưa, tất cả khất sĩ tu Phật phải ở yên một chỗ, để thanh tịnh thân tâm. Khi có việc bất khả kháng phải đi đâu, thi không được vắng trú sở qua một đêm, mà không quay về chỗ cũ trước 24 giờ ngày hôm ấy.
3/Mỗi tháng 2 lần, Tỳ-kheo-ni phải yêu cầu Tỳ kheo-tăng cho biết «ngày sám hối» (tức là ngày kiểm tra hạnh kiểm, hoặc «Phát-Lồ», tiếng Phật, hay Pàlì gọi là Uposatha, để họ đến dự, và được nghe Tỳ-kheo-tăng hướng dẫn cách tu trì, cũng như tụng giới bổn, thuyết pháp. Nhất là đối với những ai giữ giới chưa vững chắc (thường phạm phải), hay không trọn vẹn.
4/Khi dứt mùa mưa, lễ kết thúc «an cư kiết hạ» phải được thực hiện một cách cộng đồng, gồm toàn thể tỳ-kheo-ni, và do tỳ-kheo-tăng chủ động.
5/Một số lỗi quan trọng do tỳ-kheo-ni phạm, phải được trình bày và «giải quyết» trước đại hội đồng tăng và ni. Chỉ có những lỗi nhỏ (hay xích mích riêng tư) mới do «ni chúng» tùy tiện giải quyết.
6/Sa-di-ni (nữ khất sĩ tập sự) phải trải qua 2 năm tu học và nếu tiến bộ, mới có thể thọ giới Tỳ-kheo-ni. Trong khi đó thì nam giới, khi quyết tâm xuất gia, có thể được truyền giới Sa-di và Tỳ-kheo cùng một ngày, khi giáo hội nhận thấy «đương sự» đủ yếu tố nhập chúng.
7/Tỳ-kheo-ni không được rầy la, hay nói «nặng» tỳ-kheo-tăng với bất cứ lý do gì.
8/Dù cho tỳ-kheo-tăng phạm lỗi, thì một tỳ kheo ni cũng không đưọc «quở trách, bàn tán, hay dạy dỗ». Việc ấy chỉ thực hiện giữa hội chúng tỳ kheo tăng mà thôi.
Sau khi Mahà Pajàpati Gotamì hoan hỷ thọ nhận 8 điều luật nêu trên, thì 500 thiếu phụ Sakya kia cũng đồng loạt vâng lời.
Kế đó đức Phật đã truyền giới, làm phép xuất gia, và chỉ định hai nữ khất sĩ làm Ni Trưởng, để giúp Ngài chăm sóc nữ tu. -Giống như Ngài đã chỉ định hai nam khất-sĩ (là Xá-Lợi-Phất và Mục-Kiền-Liên) làm «quản chúng» lúc trước vậy.
Và sau nầy, một số qui tắc được đặt thêm, do các vị «trưởng lão» trong cả hai giới nam và nữ, là do nhu cầu kỷ luật. Chẳng hạng như «Tăng L ệnh» không cho các tỳ-kheo-ni được phép giao dịch, hành đạo, và ở chung thiền lâm với tỳ-kheo-ni Uppalavanna, là vì lý do «huấn luyện riêng biệt».
Lời thêm của «dịch soạn giả» : Nữ tu sĩ ghi trên đây có cùng tên với Thánh-Ni Uppalavanna, một đại đệ tử Phật. Chúng tôi chưa có tài liệu chứng minh hai nhân vật ấy trùng tên, hay chỉ là một người (ở hai giai đoạn khác nhau). Nếu là một, dĩ nhiên hành động người chưa đắc quả, bao giờ cũng hẹp hòi phàm tục. Nhưng khi chứng đạt thì trở thành Thánh Nhân
(Nếu muốn tìm hiểu các giáo sự khác, mời xem chi tiết trong
luật phần Tỳ-Kheo-Ni = Vin.i.i.256ff*, và trong A.iv.274ff*).
Chú thích : * Hai nguồn kinh trên ghi rằng : Có một số nữ tu sĩ cố chấp, cho rằng, lễ xuất gia của hoàng hậu Mahà Pajàpati Gotami phải qui mô, mà trên thực tế quá đơn giản, không nhiều lễ nghi, như vậy «cụ túc giới» có thể không thành tựu, nên họ không chịu làm lễ Phát-Lồ (Uposatha, hay sám hối) với Bà. Đức Phật biết chuyện ấy, đã giải tỏa. Ngài xác nhận chính Ngài đã ban phép xuất gia đầy đủ cho Dì Mẫu một cách hợp lệ. (-Theo DhA.i.v.149).
Ngoài ra, Phật cũng «tiên đoán» rằng «yếu tố nam nữ tu sĩ sống chung hành đạo, đễ sinh ra việc xấu. Nếu giới luật giữa hai hạng khất sĩ không nghiêm minh, thì tuổi thọ (hay hiệu lực) của giáo lý giải thoát có thể sẽ bị ngắn lại».
Theo một số «truyền lục» (Jàtakà), thì công chúa Da-Du-Đà-La (Yasodharà, mẹ Ra-Hầu-La) cũng có mặt trong đoàn mệnh phụ quí tộc (500 người) xin xuất gia nầy.
Tưởng cũng nên nhắc lại lý do tại sao, Phật trước tiên đã từ chối việc «phái nữ xuất gia». Có những người, nhất là một số phụ nữ trong xã hội «tân tiến» ngày nay, chưa nắm vững «lý đạo» về «dư quả cộng nghiệp», cũng như về thực tại «đồng» lẫn «bất đồng» giữa 2 giới tính nam và nữ, rồi phê phán.
Lý đạo đó là sự thật về dư quả phải chịu, không thể khác được, trong hiện tương luân hồi tái sinh với nghiệp quả bất đồng, mà nhà Phật đã kham phá nêu ra, vượt khỏi mọi khả năng cứu độ, trong thế giới động vật, nhất là loài người.
Những người nầy vội vã cho rằng, đức Phật đã đối xử «bất công» giữa hai phái nam và nữ. Nhưng nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu sâu sắc, thì chúng ta sẽ thấy, chư Phật quá khứ đều đã có những nữ đệ tử xuất gia, chư Phật tương lai thì chưa xuất hiện, chưa biết.
Nhưng đức Phật hiện tại Thích-Ca Mâu-Ni, đang mở giáo pháp để lưu truyền, thì hoàn cảnh tiếp độ cần phải đợi «chín muồi», hay thích hợp, mới thực hiện được. Lòng từ bi phải đi đôi với trách nhiệm. Và trách nhiệm vốn có ý nghĩa bảo đãm an ninh, hơn là làm theo quan niệm một chiều của thế gian.
Đức Phật được mệnh danh là bậc toàn giác (biết hết), thì ngay từ bước đầu truyền đạo, Ngài không thể không nhìn vào thực tế, để thấy rõ rằng, «phong tục Bà-La-Môn» đương thời, đang đè nặng trên xã hội Ấn Độ. Sống trong gia đình với sự che chở của cha mẹ, thân nhân, giòng họ, mà nữ lưu còn bị xem nhẹ hơn nam giới như thế nào, thì trong đời sống đơn độc, hằng ngày hành khất, họ sẽ ra sao ? Thoạt đầu, Ngài không «chủ trương» việc phái nữ xuất gia, là vì lòng từ bi, chứ không khải vì phân biệt giới tính.
Nghĩa là nếu chúng ta tìm hiểu kỹ hoàn cảnh xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, thì chúng ta sẽ tìm ra lý do tại sao Phật đầu tiên không cho phép nữ giới xuất gia, nhất là xuất gia làm nữ khất sĩ, không nhà cửa, không vật phòng thân, không của cải, phải hằng ngày xin ăn, từ nhà nầy sang nhà khác, để tu tập.
Thử đặt vấn đề : Oai lực nào có thể bảo đãm được sự an ninh của những bậc phạm hạnh «cành vàng lá ngọc» như thê ? -Kinh truyện đã chép vẫn còn đó : Có những nữ thánh nhân đạo phật thời ấy bị hãm hiềp, không nhất thiết là ở nơi vắng vẻ. Dù cho kinh cũng ghi rõ : Quả xấu đã đẩy những cá nhân dâm dật kia xuống lòng đất, vào «địa ngục»(?). -Nhưng mấy ai thực sự biết sợ quả báo nhãn tiền !
-Thực tại xã hội ngày nay và thực tại xã hội thời đức Phật khác nhau rất xa ! Chưa kể ngày nay đã đến thế kỷ 21, mà thực tại đời sống ở một địa phương nầy, và ở một địa phương khác cũng rất nhiều chênh lệch !
Hơn nữa, dì mẫu Mahà Pajàpati Gotami và 500 thiếu phụ vương tộc, là những người đã quen với đời sống trưởng giả, và rất có thể họ còn mang những nét quí phái xinh đẹp (dễ cám dỗ phàm tình, theo cáí nhìn của thế gian), thì sự «quan tâm về an ninh» của đức Phật, đối với các đối tượng ấy, phải đặt lên hàng đầu, là hợp lý !
Do đó, chỉ dựa vào câu chuyện «Phật không cho dì mẫu xuất gia» mà kết luận đức Phật đối xử bất công nam nữ, thì thật là một điều vội vã !
Chúng tôi đề nghị hãy quay về Phật học, đào sâu vào giáo lý, phân tích biệt quả cộng nghiệp, và thực tại đồng lẫn bất đồng, để hiểu vấn đề.
Xin mạo muội trình như sau :
1-Sanh làm nam nữ khác nhau là biệt quả, trong cùng một xã hội là cộng nghiệp. (Kamma Vipàka).
2-Thân thể nam hay nữ trong một gia đình chung cha mẹ, và cùng loài người là đồng. Nhưng đối phó với sự chịu đựng tự nhiên trong thân, lẫn an ninh ngoài thân, không giống nhau, là bất đồng.
Ví dụ, sau khi kết hôn, việc sinh nở chỉ có người nữ phải chịu, còn nam giới thì không (là biệt quả cộng nghiệp). Hay khi cạnh tranh trong đời sống, sự đối phó để tự vệ bản thân, thì hầu hết nữ giới kém thế hơn đàn ông. Cả hai trường hợp chính là thực tại đồng lẫn bất đồng.
Một Giác Giả biết rõ thực tại như thế, rồi đối xử với mọi người một cách thích nghi, trước các sự thật nghiệp quả và duyên phận, thì không thể gọi là Giác Giả ấy «phân biệt giới tính» hay «đối xử bất công».
Ngoài ra, chúng ta cũng nên nghĩ rằng, một bậc tôn sư, đầu tiên từ chối sự yêu cầu dấn thân nào đó (dù là yêu cầu dấn thân chính đáng) của người ngưỡng mộ, thì sự từ chối ấy phải chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc :
-Ý nghĩa thứ nhất, đầu tiên từ chối là để đo lường sự sáng suốt, chín chắn muốn thực hiện công hạnh, hay bồng bột.
-Ý nghĩa thứ hai, từ chối các lần sau, là để thấy rõ sự quyết tâm, dũng lực hay ý chí vững chắc của người cầu xin.
Và sau đó, Đức Phật đã cho phái nữ xuất gia.
Phật yểm trợ DÌ MẪU trong vai trò Ni Trưởng
Khác hẳn với những gì «tiêu cực» nói trên, có vẻ như Đức Phật không «ưu ái» trong việc xuất gia của Dì Mẫu Mahà Pajàpati Gotamì, thì chúng ta lại tìm thấy trong kinh, có những đoạn «tích cực», miêu tả đức Phật đã đặc biệt hổ trợ Dì Mẫu Mahà Pajàpati Gotamì sau khi xuất gia, trong vai trò hướng dẫn đồng đạo.
Như trên đã nói, có một số nữ tu sĩ cứng đầu, không vâng lời Trưởng lão Mahà Pajàpati Gotàmi, viện dẫn rằng lễ xuất gia của một nhân vật như Bà mà đơn giản, là không «đầy đủ». Đức Phật liền xác nhận rằng, Dì Mẫu ngài chấp nhận lập tức 8 điều luật (khá khắc khe) được Như Lai chế ra tại Tỳ-Xá-Ly (Vesàli), một cách sốt sắng, không do dự. Điều ấy tượng trưng cho hành động «thọ giới đầy đủ» (Upasampadà).
Ngài còn nhắc thêm, «Dù cho thoạt đầu Như Lai có từ chối việc xuất gia của Bà, nhưng sau đó lá Y mà Dì Mẫu đã làm để cúng dường Như Lai, Như Lai khuyên bà đem dâng đến tăng chúng, là để làm tăng trưởng và tròn đủ ân đức Tăng Chúng hướng về bà».
Trong kinh Milinda Panhà (Vua Li-Lan-Đà Vấn), cũng có đoạn liên quan đến Mahà Pajàpati Gotamì. Đó là chuyện Bà «thất vọng», sau khi Bà đã bỏ rất nhiều công lao, với những vật liệu hiếm có, để chế tạo một lá y vàng qúi báu, hầu dâng Phật. Nhưng Ngài đã khuyên Bà đem cống hiến đến cộng đồng tăng chúng (Sangha).
Khi Tôn giả A-Nan-Đa (Ananda) thấy vẻ mặt Bà buồn, tìm hỏi duyên cớ và bạch Phật, thì được Phật nói rõ : «Đó là do lòng từ bi của Như Lai đối với dì-mẫu. Như Lai muốn Bà sau khi tiếp nhận ân đức của Như Lai, còn tiếp nhận được ân đức của Chư Thánh Nhân và phàm chúng nữa».
Thuật sự nầy phần chính nằm trong kinh Dakkhinàvibhanga (Phẩm cúng dường), hay bài pháp có tựa là «Sự giảng về phẩm tính những vật thí quí báu, qua lòng thành với nhiều công lao chuẩn bị, và quả phước của người dâng cúng».
Về sau, khi đã được xuất gia, Mahà Pajàpati Gotamì hằng ngày vẫn đến đảnh lễ đức Phật, và được đức Phật trực tiếp hướng dẫn pháp hành, chọn đề mục thiền định, để Dì-Mẫu hành đạo sớm có kết quả, nhất là giúp Bà thanh tịnh tiến vững lên mục tiêu giải thoát.
Chẳng bao lâu sau đó, Mahà Pajàpati Gotamì đã chứng đắc Thánh Quả A-La-Hán (Arahatta), cùng một lúc với 500 nữ đồng đạo, lúc tất cả được nghe lần thứ hai, Phật thuyết bài kinh Nandakovàda.
Biết Bà đã đắc được quả Thánh cao nhất, hoàn toàn giải thoát, đức Phật liền tuyên bố rằng : «Toàn thể chư Tỳ-Kheo-Ni hãy xem Mahà Pajàpati Gotamì là bậc tôn túc».
Một lần nọ, trước mặt đại chúng ở Kỳ Viên Tịnh Xá (Jetavana Vihàra), đức Phật đã xác nhận rằng, Mahà Pajàpati Gotamì là Thánh Ni hàng đầu, trong số những người có giới hạnh và sức mạnh tinh thần vững chắc nhất. (Theo Ang.i.25).
-Chữ Pali gọi «giới hạnh và sức mạnh tinh thần vững chắc» ấy là Rattannunam, tạm dịch là pháp hành thâm đạt). Phật cũng yêu cầu bà hãy «chứng minh» điều đó, đối với những người chỉ biết kính nể kẻ khác qua «ưu thế vật chất» bề ngoài. Đức Phật bảo :
«Ô, Dì mẫu Gotamì, thật là hiếm thấy một cựu hoàng hậu xuất gia, đắc quả Bất Lai (Arahatta, A-La-Hán), đạt nhiều thần thông, có thể dễ dàng biểu lộ phép lạ, để đánh tan thành kiến khinh thường của những người thiển cận, bảo thủ, luôn luôn nghi ngờ sức mạnh tâm linh của nữ thánh nhân».
Mahà Pajàpati Gotamì liền vâng lời, biểu lộ vài phép lạ. Bà bay lên không trung 3 lần, chắp tay hầu Phật một lúc, rồi hạ xuống mặt đất đảnh lễ đức Bổn sư. Lần thứ tư, Bà bỗng nhiên biến mất và hiện ra trong tư thế ngồi kiết già trên cao, trước khi hạ xuống đất, để nhập định một lúc lâu….
Tiền kiếp Đại Thánh Ni
MAHÀ PAJÀPATI GOTAMI.
Theo kinh điển Palì, Phật Giáo Nguyên Thủy, thì mỗi «địa vị» đặc biệt trong xã hội, hay tôn giáo, vốn đã được «chuẩn bị» do những kiếp sống và hành động trong quá khứ, nhất là không những chỉ do viên tròn các thiện hạnh (Pàramì=Ba-La-Mật), mà còn do nguyện vọng đạt mục đích sau nầy nữa.
Trong Phật giáo gọi đó là nguyện vọng thành Phật Toàn Giác (Sammà Sambuddha) hay thành Thinh Văn Giác (Arahatta, Sàvaka buddha). Từ đó, sự thành tựu đạo quả trong kiếp chót vốn đã «hữu duyên» với chư Bồ Tát, và vị Phật của kiếp cuối cùng. -Riêng Mahà Pajàpati Gotamì, thì tiền thân Bà đã thực hiện hạnh lành và gieo duyên với chư Phật, để cuối cùng được giải thoát, trong một thời gian khá dài, đến 100.000 đại kiếp. («Đại kiếp» là kiếp trái đất).
Truy nguyên như vậy, thì chúng ta thấy vào thời đức Phật Padumuttara, tiền thân Mahà Pajàpati Gotamì đã sinh làm một cô gái xinh đẹp trong dòng họ Hamsavati. Sau khi «tiền thân» ấy được nghe lời tán dương phúc đức một nữ phạm hạnh, của 500 vị Phật Độc Giác, đã phát nguyện sẽ noi gương lành kia. Và đức Phật Padumuttara liền thọ ký, nói rằng, trong tương lai cô gái nầy (tiền thân Mahà Pajàpati Gotamì) sẽ là người đứng đầu những đồng nghiệp thiện duyên, hay công đồng nữ tu. (Theo Thig.A.140ff ; AA.i.185f ; Ap.ii.529 43).
Một giai thoại khác khá phổ thông, còn thuật rằng, trong một tiền kiếp nọ, tiền thân Mahà Pajàpati Gotami đã cùng với những người ngưỡng mộ Phật Độc Giác (Paccekabuddha), đồng tâm làm phước. Nhân lúc có 5 vị Phật từ Nandamùlaka đền Isipatana tìm nơi tịnh tu trong 3 tháng mùa mưa (hay an cư kiết hạ, Vassa). Tiền thân Mahà Pajàpati Gotamì bất chấp khó khăn, gây ra bỡi một «thủ bổn» sở tại (bhandàgàrika), «Bà» đã quyết tâm xây dựng nhiều tịnh cốc, và cúng dường tứ vật dụng (gồm thực phẩm, chỗ ở, y phục, thuốc men) đến chư Phật Độc Giác suốt 3 tháng. Và khi mãn «an cư kiết hạ», tiền thân Mahà Pajàpati Gotami còn kêu gọi những người thiện tâm, tổ chức lễ Kathina, dâng đến mỗi vị Phật đầy đủ tam y.
Căn cứ theo các giáo sử ấy, thì tiền thân Mahà Pajàpati Gotami, sau khi cúng dường 5 vị Phật Độc Giác trong suốt mùa an cư kiết hạ, lúc hết tuổi thọ, đã tái sinh hưởng phước rất nhiều lần trên thiên cảnh lẫn cõi trần. Và kiếp kế đó tiền thân bà sinh làm người điều khiển xưởng dệt, đồng thời cũng là kẻ đứng đầu một nhóm bạn hướng thiện, là những nữ hầu của các gia đình trưởng giả, tổng số lên đến 500 người.
Ngoài ra, Túc Sinh Truyện Cullanandiya cũng nói, vị bồ tát trong kiếp kế tiếp đã hiện thân là một con khỉ, và tiền thân Mahà Pajàpati Gotamì là khỉ mẹ. Còn tích ghi trong Culladhammapàla jàtaka (câu chuyện Tiểu Hộ Pháp) thì nói, công tử con trai của tiền thân Mahà Pajàpati Gotamì đã bị cha ra lệnh giết chết.
Một tiền thân khác, Bà chính là nàng Canda trong Culla Dhammapàla. Theo J.iii.182)
Và người cha ấy bây giờ không ai khác hơn là Đề-Bà-Đạt-Đa (Devadatta), anh em họ, trước theo Phật làm đệ tử, và sau trở thành kẻ thù, như các kíếp trước của Sĩ-Đạt-Ta (Siddhatta), hay như kiếp chót «của» Phật Thích-Ca. Tuy trước khi chết vì đất rút, Đề-Bà-Đạt-Đa đã hối hận, nhưng quá muộn.
Mặt khác, vào thời đức Phật Ca-Diếp (Kassapa), tiền thân Mahà Pajàpati Gotamì chính là Bhikkhunidasika, tức công chúa thứ tư của vua Kiki, trị vì tại thành Ba-La-Nại (Bàrànasì), Bénares ngày nay. Công chúa ấy đã đoạn lìa tình dục, giữ mình trong trắng, và hằng xây dựng tịnh thất cho những bậc Sa-Môn phạm hạnh.
Tạng Luật (Vinaya Pitaka) trong Phật giáo gồm 5 bộ sách, thì nội dung của cả 5 bộ nầy đều chứa đựng những gìới luật của Tỳ-Kheo-Tăng (Bhikkhu), và nhất là chứa các «luật phần» (Vibhanga) của Tỳ-Kheo-Ni (Bhikkhùnì). Các «luật phần» ấy rất xứng đáng cho chúng ta nghiên cứu, noi gương. Đặc biệt là những tính cách «dân chủ», gương mẫu, đặt ra hệ thống tổ chức nhằm ngừa trước, những vi phạm có thể xảy ra, trong đời sống hằng ngày.
Lord Zetland, Cựu Phó Vương Ấn Độ, trước đây đã từng viết «Điều làm ngạc nhiên nhiều nhà nghiên cứu kinh điển đạo Phật, là hơn 2500 năm trước, trong thời Phật giáo, đã có những hình thức sinh hoạt dân chủ, tượng trưng cho quốc hội ngày nay».
Một hôm, để tỏ lòng tri ân đức Phật và cố hoàng hậu Màyà cưu mang một nhân vật cứu độ chúng sanh và cho đời, Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotamì, đã cảm hứng thốt thành kệ :
«Đức Đại Giác, vị anh hùng chân thật.
Ta tôn Ngài như cây đuốc tuyệt luân.
Giải thoát nhân sinh khỏi bể hồng trần.
Mọi đau khổ, mọi khát khao chấm dứt.
Bát Chánh Đạo ấy con đường vượt bực.
«Diệt đế» đắc rồi, tâm sáng thuần chân.
Xưa : mẹ, con, cha, anh, nội tổ…xoay vần.
Nay tự tại, anh minh qua cuộc sống.
Đã muôn kiếp lang thang trong ảo mộng.
Đầy nhân duyên mới gặp được Thế Tôn.
Tam giới hoàn không ngã sở chẳng còn.
Tam độc* dứt, hết luân hồi tan hợp.
Pháp vô thường đổi thay như ánh chớp
Kiếp cuối cùng, không điều kiện tái sinh.
Ngũ uẩn hoàn không, ta niệm thân mình.
Giữ giới luật và quyết tâm hành đạo.
Chẳng kiến chấp, “ta” noi gương Phật Bảo.
“Ta” tán dương Ngư ời, đức Phật Cồ-Đàm..
Thân tâm “ta” giờ, thanh tịnh ngàn năm.
Khi nhắm mắt, Niết Bàn không phải cõi !”
(Tuệ Lạc thoát dịch thành văn vần,
theo Therìgàthà số 157-162). (*Tam độc là tham, sân, si).
Đại Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotami có thể xem là người “khởi xướng Ni Bộ” trong đạo Phật, không phải từ kiếp hiện tại, mà kể từ thuở xa xưa, vào thời đức Phật Padumuttara, khi tiền kiếp thuận duyên chứng kiến vị Phật nầy, tán dương đức hạnh của một nữ đạo sĩ. Tiền thân Bà (Mahà Pajàpati Gotami) đã nhân đó cúng dường đức Phật ấy, và phát nguyện sẽ hành đạo tương tự, khi gặp vị Toàn Giác tương lai. Phật Padumuttara biết nguyện vọng của tín thí, nên thọ ký và tiên đoán “Bà sẽ trở thành nữ đại đệ tử số một, “khởi xướng” và lãnh đạo ni chúng của Phật Tổ Thích-Ca Mâu-Ni sau nầy”.
Vừa xong lễ xuất gia, thì quốc vương Licchavi của xứ Tỳ-Xá-Li (Vesali=Vaisali) đã phát tâm xây dựng một nữ tu viện, mệnh danh là Mahà Pajàpáti Gotami, hiến dâng đến Bà và 500 “đồng đạo” tu tập.
Hạnh kiểm của Mahà Pajàpati Gotamì từ đó mỗi ngày một vượt bực, không những có thể làm gương sáng cho toàn thể nữ-tu tỳ-kheo-ni, mà Bà còn là mẫu mực của nữ giới hoàng gia, và giai cấp quí tộc.
Hằng ngày ngoài việc tu trì, một mặt Bà luôn luôn khuyến khích, và an ủi, hóa giải những khắc khổ trong đời sống nữ tu, cho những “cựu mệnh phụ” xuất gia theo Bà. Mặt khác, Bà rất quan tâm đến việc giảng đạo, và khéo léo tổ thức tu viện, làm sao cho đời sống cộng đồng được bình thường, hòa hợp.
Ngoài ra, chính đức Phật cũng đã nhiều lần «phá lệ», đích thân đến Ni Viện thăm Dì Mẫu bất cứ lúc nào bà đau yếu……
Cuối đời
Thời gian lặng lẽ trôi qua, lúc Đại Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotamì 120 tuổi, một hôm Bà cảm thấy xác thân như chiếc xe đã cũ, sẽ ngưng hoạt động, tan rã, tiêu hoại. Thánh Ni thanh tịnh đến nơi Phật ngự. Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, Bà ngồi xuống bạch rằng :
“Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử xin Người tha thứ cho, nếu từ trước đến nay, đệ tử có làm điều chi sai chánh pháp, không vừa ý Thế Tôn. Nay đệ tử xin sám hối lần cuối để từ giã, và xin phép Thế Tôn cho đệ tử nhập diệt”.
Thốt xong, Thánh Ni đứng dậy chắp tay nghiêm trang đứng đối diện, xá Phật 3 lần, rồi Bà ứng khẩu ngâm kệ ngôn tán dương đức Phật lần cuối cùng. Bài kệ nầy đối với chúng ta có vẻ rất thiết tha cảm động, nhưng đối với Đại Thánh Ni, đó là sự chân thành vô nhiễm. Chúng tôi xin “thoát dịch” ra Việt ngữ như sau :
Ôi, Đức Thế Tôn,
“ta” đã nuôi lớn thân Người,
bằng sữa trắng,
và tình thương nghiệp lưc.
Nhưng Người đã nuôi lớn tâm linh “ta”,
bằng vô vàng ân đức.
Nhờ chánh pháp của Người,
“ta” đã dứt khổ đau
giải thoát hợp tan, sinh tử, buồn rầu
Giữa bể luân hồi, “ta” tự tại,
và không dễ có một Người con
cao siêu phong thái !
Nên trước khi nhắm mắt…
“ta” không phàm tình nhỏ lệ
“ta” chỉ muốn được thấy gót chân con
và kính ngưỡng dung nhan.
của những bước vàng son,
dưới lớp áo màu trí tuệ rạng ngời,
tinh anh giải thoát,
Vô Nhiễm. như đóa sen hồng
nở từ bùn đen…dứt khoát.
-Xin Thế Tôn đừng từ khước.
Hãy phô bày đôi chân,
Cho mẹ được cúng dường !
(Theo Therìgàthà = Nữ Tôn Túc K ệ Ngôn).
Đức Phật nghe thế liền đưa đôi bàn chân ra, màu da hồng thắm như hai đóa sen tươi. Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotamì vội quỳ xuống lễ bái ba lần và mỉm cười….
Đức Phật từ bi xác nhận : Cuộc sống kiếp nầy Bà đầy đủ ân đức, cũng như cuối đời tu hành, Thánh Mẫu đạo hạnh viên dung.
Nghe Phật nói xong, Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotamì mặt hướng về Bổn Sư, cung kính chắp tay đi lùi bước, cho đến khi không thấy Phật nữa, rồi bà thanh thoát trở về tịnh thất. Đến nơi bà yên lặng đứng nhìn khung cảnh xung quanh một vòng, như có vẻ chờ đợi ai, trước khi bước vào phòng….
Khi những đại đệ tử Phật hay tin ấy. Họ đã lần lượt đến thăm Bà. Trong số đó, về phía nam giới có các Ngài Sàrìputta (Xá-Lợi-Phất), Mahà Moggallàna (Đại Mục-Kiền-Liên), A-Nan-Đa (Ananda), Ràhula (Ra-Hầu-La), Nan-Đà (Nanda)…Và phía nữ tu sĩ, có các tỳ-kheo-ni Khema, Uppalavanna, Sotàpanna..v..v.., cùng hầu hết những tỳ-kheo-ni trong tu viện.
-Theo một số nhà viết sách Phật giáo, thì khá nhiều trong những vị đến thăm, vì chưa đạt thánh quả giải thoát, đã thương tiếc, khóc than thảm thiết…Và Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotamì đã khuyên giải họ rất nhiều.
Khuyên giải và tác bạch (từ giã cùng tạ lỗi nếu có) với những vị tôn túc đến thăm xong, bà đưa họ ra đến ngoài phòng, rồi quay về nhập thất. Thánh Ni trang nghiêm vén khéo y phục, nằm ngay ngắn lên giường nhập định. Và Bà an nhiên thị tịch chẳng bao lâu sau đó.
Trong lễ trà tỳ, chính đức Phật đã đi sau quan tài, dẫn đầu đoàn Tăng-Ni và tín đồ tiễn nhục thân Thánh Ni đến nơi hỏa táng. Và vua Licchavi là vị «chủ lễ». Vương gia đã dâng chiếc quan tài bằng vàng, để tẩn liệm nhục thân Thánh Ni. Nhà vua đích thân cung kính châm lửa lên giàn hỏa, làm bằng gỗ quí, với vật đốt là củi trầm….
Khi ngọn lửa tắt, nhục thân Thánh Ni đã biến thành những Xá Lợi trong sáng, óng ánh như ngọc trai (Sàrì, Perles).
Tiếp theo, Tôn giả A-Nan-Đa (Ananda) được lãnh trách nhiệm phân phối Xá-Lợi quí báu của Đức Bà. Ông liền dâng một phần lên đức Phật. Một phần khác, Tôn Gi ả trao cho vua Licchavi. Và mọi người đều nghe theo lời Phật dạy, mà tạo bảo tháp phụng thờ. Trên mỗi bảo tháp đều có hàng chữ «Đại Thánh-Ni Mahà Pajàpati Gotamì, Vị Đệ Nhất Nữ Thinh Văn Đệ Tử Phật».
-Nghĩa là do Bà, mà Ni Giới Đạo Phật được ra đời !
Theo những nhà nghiên cứu giáo sử, thì lễ Trà Tỳ của Thánh Ni Mahà Pajàpati Gotami đã rất trọng thể, chỉ thua lễ Trà Tỳ của đức Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.29/10/2016.MHDT.
No comments:
Post a Comment