Monday, October 23, 2017

Chương 5: Trụ Trì
Lời thuật rằng, Trụ Trì gọi là chủ trì Phật Pháp; lập trụ trì ở Tòng Lâm là mượn người gìn giữ pháp làm cho tồn tại lâu ở đời không diệt. Luận về pháp là đạo của bậc đại thánh; có giới - định - huệ để duy trì được pháp; người làm việc trong tăng viện, duy trì là việc giữ pháp. Gốc có đứng vững thì mọi việc mới yên; việc yên nên gốc càng bền chắc. Cho nên người trụ trì có quan hệ rất trọng đại đối với Phật Pháp. Đáng đảnh lễ Linh Sơn Trụ Trì là Ngài Ca Diếp thống lãnh hết; trụ trì Trúc Lâm Tinh Xá là Xá Lợi Phất trông coi. 
Từ khi Phật giáo du nhập Trung Quốc trải qua 400 năm rồi Tổ Đạt Ma đến, lại truyền đến Tổ Bách Trượng; thời gian đó chỉ đem đạo truyền dạy, tuy cùng chúng đồng sống chung nhưng luật lệ lại đơn giản, qui tắc chưa hoàn bị, chưa có từ gọi Trụ Trì của thiền tông. Tổ Bách Trượng làm cho thiền tông hưng thạnh, trên từ vua tôi dưới đến sĩ dân đều hướng về học đạo. Thống nhất đưa Thiền về một gốc, thế chẳng thể không chuyên môn một người mà người này tạm chẳng xưng vị thì đạo chẳng sáng, chẳng được người tôn sùng thể đạo ắt pháp không lập được. 
Trong khi đó mới cống hiến một mẫu người lỗi lạc là Trụ Trì thiền tông, nhưng gọi là Trưởng Lão, vì đức độ rộng đáng tôn. Dần lại tạo nhà rộng để chúng ở lập thành hai dãy; chia phân người trông coi mà chế độ nấu ăn bắt đầu cụ thể. Nhưng cái thế của Trụ Trì tuy tôn trọng mà đến như làm việc chúng cũng chia đều làm việc. Như Ngài Bách Trượng, hể một ngày không làm việc là một ngày không ăn (nhất nhựt bất tác, nhất nhựt bất thực), là qui tắc hàm ý nghĩa mà Trụ Trì phải biết. Cho nên đương thời do chúng thúc đẩy hoặc do lệnh quan trên, do lời mời cất nhắc đưa lên mà Trụ Trì không nhận chức. Trọng trách thật nặng mà không đáng hâm mộ tới việc quan; thậm chí như ngày nay nhờ sự dồi dào của thuế má, chiếc xe chở an ổn đều là việc của Trụ Trì không lạ sao? Sang giàu lấn xen như món hàng kỳ lạ. Than ôi! Trụ trì chẳng phải người như thế. Một ngôi chùa bỏ hoang phế phương hại đến đời sau như thế nào rồi, thậm chí trong vòng một nghìn năm mà không có thể phục hồi được không đáng tiếc lắm thay! Người sau cử người vào Trụ Trì thật là may mắn thay! Xử lý vai trò Trụ Trì nên phải thận trọng; chọn người thành thật hơn là ở cho có người đạo pháp mới mong sáng tỏ. Thành lập Ban Điều Hành mọi việc sẽ được giải quyết êm đẹp. 

1.1 Thượng Đường  
Phàm có Phật tử tới chùa cúng dường nên định ngày, chùa ra thông báo: mời hoặc sau khóa lễ Tịnh Độ tối có buổi họp chúng. Tại phòng khách, gõ 3 hồi 3 bảng tập họp chúng, chuẩn bị thức ăn đầy đủ. Tri Khách mời người cúng dường ra trước đại chúng lễ chư tăng 3 lạy xong, Tri Khách bạch chúng: Hôm nay, tỉnh… phủ…huyện…, tên họ thí chủ tới chùa đặc biệt thỉnh 2 liêu chúng, tới thỉnh Hòa Thượng Phương Trượng, ngày mai thượng đường. Bạch xong, gõ 3 hồi khánh và 3 tiếng, chúng 2 dãy phòng trước hết tới phòng Hòa Thượng Phương Trượng, sắp hàng đứng 2 bên; kế trai chủ bưng khay lễ để lên pháp tòa Phương Trượng. Tri Khách hướng dẫn trai chủ chấp tay tác bạch Hòa Thượng Phương Trượng. Thị giả báo chư Tăng hay, Thầy Phương Trượng đến chư tăng xá một xá, nhưng vẫn đứng nguyên hai bên. Tri Khách hướng dẫn trai chủ ra phía trước đứng chính giữa xá 3 xá rồi lui phía sau. Tri Khách một mình đứng giữa tác lễ, chấp tay bạch rằng: ngưỡng bạch Hòa Thượng từ bi nhẫn nghe, nay có trai chủ (tên) hộ pháp, vì việc… đến bổn sơn tự cúng dường trai phạn. Kính mời đại chúng hai liêu và cần cầu thỉnh Hòa Thượng ngày mai thượng đường, vì đại chúng thuyết một thời pháp. Ngưỡng mong Hòa Thượng mở lượng từ bi mặc nhiên hứa khả (chấp thuận) đến chứng minh. Bạch xong, chờ Hòa Thượng đáp: Mô Phật, được ngày mai Thầy sẽ đến. Lễ 1 lạy rồi lui. Mời trai chủ vào cầm nhang lên vái, lạy 3 lạy. Thầy Trụ Trì đáp từ xong. Thầy Duy Na nói: 2 hàng đại chúng chư tăng, đảnh lễ Hòa Thượng 3 lạy. Lễ xong, người sau cùng đi trước lui ra phòng khách, mời trai chủ cảm tạ, đại chúng lui về chỗ. 
Sáng hôm sau, công phu xong, điểm tâm, công tác hoàn tất, nghe hiệu lệnh đại chúng vân tập Tổ đường lạy Tổ. Phân 2 bên đi vào chánh điện chấp tay nghiêm chỉnh. Thị giả thỉnh Hòa Thượng Phương Trượng chứng minh, Hòa Thượng niệm hương, cắm hương lên lư. Tiếp theo, trai chủ niệm hương, cắm hương lên lư, đảnh lễ Tam Bảo. Đốt 3 cây nhang cắm lên thảo lư, chuông trống bát nhã trổi 3 hồi, 4 tiếng. Đại chúng tránh qua 2 bên, thỉnh Hòa Thượng... Duy Na hô hàng sau đi trước vào phòng khách. Tại phòng khách mời 2 vị là Duy Na, Duyệt Chúng hướng dẫn lễ. Thị giả bưng khay lễ đi trước, kế đến lư nhang, kế nữa là bê tích, lọng 4 hoặc 6 người bưng. Trụ Trì cầm chuỗi Như Ý, chống tích trượng; thị giả theo sau; đại chúng tới pháp đường hay Phật điện, phân ra đứng đều 2 bên. Tri Khách mời trai chủ đứng một bên phía dưới. Trụ Trì tiến ra chính giữa phía trước lên tòa ngồi; thị giả đứng bên cạnh. Duy Na câu chung bảng, trống, tán: Lư hương…Tri Khách mời trai chủ niệm hương, Trụ Trì niệm hương, thị giả đỡ hương cắm vào lư. 
Duy Na xướng: 
Nam Mô Vân Lai Tập Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần). 
Lễ 3 lạy xong, chúng đứng đối diện 2 bên; Duyệt Chúng gõ 3 hồi, 3 tiếng khánh. Duy Na bạch: “Pháp diên chúng long tượng, đương quán đệ nhứt nghĩa”. Trụ Trì mở lời, tùy cơ mà khai thị. Hàng hạ tọa (thấp) muốn thỉnh vấn nên thành tâm chân thật tham cứu; phải chấp tay hỏi bằng giọng nhỏ nhẹ hòa nhã, xong rồi Trụ Trì thuyết pháp hoặc mời một thầy khác. Chờ cho thời pháp xong, Duy Na bạch rằng: “quán kỹ pháp Phật, Phật Pháp như thị”; nhập một hồi khánh. Chúng lui ra, người sau cùng đi trước. Khay lễ, bê tích, phất trần ra trước đến liêu phòng Hòa Thượng Phương Trượng. Tri Khách hướng dẫn trai chủ đảnh lễ tạ Hòa Thượng và chư tăng.
Phần Cúng Ngọ… Xem thêm nghi thức phạn tăng ở sau. 

1.2 Các Ngày Thánh Tiết 
Tết Nguyên Đán, lễ Phật Đản, Phật Thành Đạo, Kiết đông, giải hạ (ra hạ sau mùa an cư), không thường cũng phải ở Phật điện. Thầy Giám Viện được mời điều động nghi thức trên, duy chỉ không hương tín, tự thẩn, tề thẩn, công thẩn. Khi vào chánh điện, tu tập mùa đông chúng phải bỏ nón ngũ ngoài không nên đem theo bên mình. Thí chủ mời pháp sư thăng tòa thuyết pháp.
Chứng nghĩa ghi rằng: phàm người thăng tòa thuyết pháp phải chí tâm nghe kỹ không nên gây khó khăn cho đại chúng làm cho mọi người thoái tâm, cũng như không làm động chúng mà nên dung dị. Nghe tới những sự thành bại, ắt có cơ hội phát sanh. Đó không phải là ngôn ngữ của người có học. Chỉ nghe miệng bàn luận có thể như rắn uống nước thành nọc độc; bò uống nước thành sữa; người tin tưởng học thành Bồ Đề, kẻ ba lơn học thành sanh tử là vậy. Pháp không phải là người; cũng như không được sanh nơi cao mà có tư tưởng khinh thường, ngược lại làm ngăn ngại tự tâm. Do vậy nên nói rằng, y theo pháp chứ không y người là vậy. Cho nên lúc nghe pháp, phải lắng lòng thanh tịnh mà nghe, thu nhiếp các căn, trần để lãnh hội. Giá có nghi vấn phải tìm hỏi ngay không nên che dấu, lấy đạo làm tâm niệm; trừ sạch mọi thói xấu, giữ cho được nhất tâm. Cần tu quán dùng lực chuyển sâu, rèn luyện mà tu tập để đạt lợi ích thanh tịnh. Như thế, một thời gian lâu định huệ phát hiện ngay nơi tự tâm. Người chí thành thuyết pháp phải đưa ra điểm chính để cho giới có học nắm được lợi ích; bằng hình thức vấn đáp, nói chung vì vấn đề sanh tử là việc lớn phải chặt đứt mối hồ nghi; không thể dùng người mù dắt người mù, người ngu dẫn người ngu. Giá tự mình thấy kém không bằng người, chẳng cần phòng giữ mà có thể chuyển qua; mời một vị pháp sư hiền đức thay thế. Như có thiền khách nêu hỏi, nên thành thật trả lời, chân thành bày tỏ ý mình. Ví mua tài lộng ngôn hẳn chiêu lấy ác báo. 
Sách Thiền tông bí yếu ghi: Căn cứ theo sách thiền tông Thiên Thai, dưới tòa Thiều Quốc Sư có Hòa Thượng Minh Hưng giáo hỏi rằng: 
- Ẩm Quang mặc y 6 trượng của Thích Ca, vào núi Kê Túc chờ Phật Di Lặc hạ sanh. Y dài 6 trượng đắp lên thân một nghìn thước hợp cở là dễ dàng. To lớn như Thích Ca thân cao 6 trượng, Di Lặc 1000 trượng, phải thu thân ngắn lại ư? Hay y mở rộng thêm ra?
Quốc Sư trả lời:
- Ông không lãnh hội, ngày mai cuốn áo đi ra.
Sư nói tiếp: 
- Thằng con nít, sơn tăng nếu trả lời ông không đúng, phải có nhân quả; nếu ông không đúng ta phải thấy đó. 
Ngày hôm sau trở về chỉ ngày đâm ra thổ huyết. Phù Quang Hòa Thượng khuyên rằng:
- Ông mau tới sám hối.
Sáng hôm sau Sư bèn tới liêu Phương Trượng (Quốc Sư), khóc kể rằng “mong Hòa Thượng từ bi cho con sám hối”.
Quốc Sư nói:
- Như người ngã xuống đất, từ đất mà đứng lên, không hiểu lời ta dạy, ông đứng lên ngã xuống, mai lại nói tiếp. Nếu hứa cho sám hối thì một người suốt đời cứ dựa thế. Quốc Sư bèn nói một hơi:
Phật Phật đều đạo
Chẳng có thấp cao
Thích Ca, Di Lặc
Như ấn, đóng vào.
Căn cứ vào câu chuyện này cho thấy nêu lên vấn nạn không phải là dễ. Lộng ngôn xão ngữ như lưỡi búa trong miệng há không thận trọng hay sao ? 

1.3 Phần phụ: 5 cách tham vấn 
1.3.1 Tham Vấn Tối - Tiểu Tham 
Công việc hằng ngày của Trụ Trì là hoằng pháp, trừ ngoài giờ thượng đường ra, ngày rằm giữ theo lệ thuyết pháp hẳn việc này không thể lơ là buông lõng được. Nếu tham vấn lúc thuyết pháp, hai dãy ghế ngồi bên dưới chúng đứng lên. Thầy Trụ Trì đăng tòa (vào chỗ ngồi) trước khi ngồi phải lạy Phật, để chúng tham chiếu học theo. Phàm nhóm chúng khai thị đều phải tham cứu cổ nhân. Khuôn rập theo khiến chúng sớm tối không buông lung; không phải thời mà chẳng kích bác đạo. Mỗi tối phải có thời tham vấn riêng gọi là tham vấn tối, hoặc sáng sau khóa lễ, chúng tới phòng Hòa Thượng Phương Trượng tham vấn. Nghi thức giống như thượng đường, gọi là tiểu tham. Ngoài ra, gặp khi an cư, giải hạ, đêm đông, tiết đông, đối trước chư linh v.v.. đều nói tiểu tham (một bài khai thị ngắn gọn, ý nghĩa sâu sắc). Mới đầu không định nơi chốn, mà xem số chúng nhiều ít, hoặc tại phòng Ngài Phương Trượng, hoặc tập trung nơi giảng đường, trước trai đường v.v.. chuẩn bị cuộc tiểu tham. Hoặc tại chánh điện, quét dọn sạch sẽ chúng cùng ngồi dưới đất hoặc trải tọa cụ, xong đâu đó một vị đi mời Hòa Thượng hoặc một vị pháp sư đăng tòa ban lời khai thị. Chúng nêu nghi vấn những gì không hiểu để Thầy giải đáp về việc tu tập, công phu, bái sám, việc chùa, việc chúng v.v…
Chứng nghĩa ghi rằng: Xưa ở Phần Dương, Chiêu Thiền Sư ở viện Thái Tử tại Phần Châu, vì một phần đất sông Phần quá lạnh nên bỏ tham vấn tối. Có một tỳ kheo lạ chống tích trượng đi tới gọi Sư hỏi:
- Trong chúng hội đại sĩ có 6 người, tại sao không thuyết pháp?
Nói xong lẫn vào hư không mà biến mất. Có để lại Sư bài mật kệ, ghi rằng:
Hồ tăng cầm tích trượng vàng
Vì pháp đến đất Phần Dương
Sáu người là bậc Đại sĩ
Khuyến thỉnh vì pháp tuyên dương.
Lúc bấy giờ Sở Viên giữ vườn hiệu Thượng Thủ mà Sở Viên từ là Từ Minh. Về sau có một thời ở Thạch Sương, là Giám tự Hội Công tại Dương Kỳ, chúng mời thuyết pháp ban đêm. Từ Minh nói rằng;
- Tối mà thăng tòa, quy tắc này từ đâu có?
Hội chúng đáp:
- Phần Châu tham vấn tối, không phải là mực thước sao?
Từ Minh lãnh hội được ý.
1.3.2 Phụ: Trà Đàm – Ngày Rằm, Mồng Một 
Mỗi tháng 14 và 30 cạo tóc, sám hối, mặc y phục sạch sẽ. Sau giờ ngọ trai, có chỉ tịnh (nghỉ ngơi), tắm rửa. Buổi chiều, giờ học xong, dùng dược thạch. Đại chúng nghe hiệu lệnh y hậu chỉnh tề lên Tổ đường lễ Tổ, vào chánh điện lạy sám hối hồng danh. Sau khi sám hối xong đại chúng lui ra giải y, chờ có hiệu lệnh vào Thiền đường hoặc trai đường dự buổi trà đàm hay tiểu tham. Qui tắc buổi tiểu tham như sau: Hòa Thượng Phương Trượng mời 2 liêu chúng tham gia: một bên quán sát hỏi chỗ kiến giải; bên kia bình luận công việc thường trụ (y luật kỳ Bố Tát vào 2 ngày này).
1.3.3 Lễ Thù Ân Vào Sáng Rằm, Mồng Một 
Sau thời Kinh Lăng Nghiêm, tới thượng lai hiện tiền… đảnh lễ Phật, Bồ Tát, Tổ Sư, ân Thầy, cha mẹ, thí chủ, quốc vương, những người làm công quả, chư vị thiên thần giữ gìn ủng hộ già lam v.v…
1.3.4 Vào Thất Thỉnh Giáo 
Mỗi tháng các ngày mồng 3, 8, 13, 18, 23 và 28 là những ngày Hòa Thượng Phương Trượng treo bảng nhập thất. Nhập thất có nghĩa là người kham nhẫn chuyên tu học đạo. Văn sách người ấy chưa đạt đến, điều chánh bị tà chấp, như lò luyện kim, bao nhiêu quặng, chất chì lọc sạch không còn lưu lại gì. Người ngọc sánh với ngọc, đá ngọc bỏ hết không nệ tối sáng, không chọn nơi chốn ở đâu cũng có thể thực hành được. Người học vào thất thỉnh giáo phải thành tâm, đắp y tề chỉnh mang theo tọa cụ. Trước phải thưa cho Thầy Trụ Trì biết để Thầy ấy cho người dẫn tới thất Hòa Thượng. Người hướng dẫn thường là thị giả, thị giả đứng trước cửa khảy ngón tay 3 lần hay bấm chuông 3 lượt. Ngài Hòa Thượng mở cửa, xá chào rồi đưa người tham vấn vào, lạy 3 lạy quỳ gối chấp tay cầu xin khai đạo nói:
- Kính bạch Hòa Thượng, con tự nghĩ suốt đời tham học chưa tỏ ngộ được hết, chưa khám phá được một tơ hào chỗ bí tàng, chưa đủ hiểu biết cái vọng chấp của tự thân, ngang tạo dị thuyết, múa may quay cuồng.
Hòa Thượng đương nhiên sẵn từ tâm xót xa nghe đệ tử như kim châm vào mình. Ngài đề cập gìn giữ duy trì sự tiến bộ là điều trước nhất. Hòa Thượng khai thị xong, đứng lên lạy tạ rồi lui ra; theo thị giả về phòng khách không nên tự ý không theo khuôn khổ. Không để thì giờ trống không mà cô phụ chí phát tâm xuất gia ban đầu.
Chứng nghĩa ghi rằng: Việc nhập thất, là người có học nên thật thận trọng thỉnh giáo. Vị Thầy nhập thất nên tận tâm chỉ bày để không phụ người hỏi. Nếu người học tham vấn không thật tâm, vị thầy đạo nhãn thiếu sáng suốt nào có khác chi nương hình dáng vẽ mèo, chỉ phỏng dựa đáp ứng sự tích xưa mà thôi. Thời gian gần đây các Ngài trừ một vài vị chân tu ở thiền lâm, chuyên việc nhập thất ra, đa số thiếu hành, thật là đáng tiếc thay.
1.3.5 Đi Tuần Liêu 
Theo Thanh Quy cổ mỗi tháng ngày mồng 3 và 28 chùa tụng Kinh Nhân Vương. Một năm bốn dịp đi tuần liêu. Trước tăng xá dán bảng tuần liêu, thông báo để chúng các liêu biết. Chuẩn bị hương đèn, trà nước, chúng nghe hiệu mộc bảng tập trung trước liêu, đợi Thầy Trụ Trì đến cùng đi vào các liêu. Liêu trưởng đốt nhang đưa cho Thầy Trụ Trì niệm, xong toàn chúng đều xá xuống 3 lần. Tất cả cùng ngồi xuống hỏi thăm nhau về sức khỏe, việc học hành, ăn uống, tu tập, kiểm điểm việc thiếu đủ ra sao; mỗi việc Trưởng Liêu cứ tình thiệt trình bày để chùa bổ túc, cải thiện, nếu việc bất cập. Xong rồi chúng đứng lên tiển Thầy Trụ Trì lui về. Cũng có thể tuần liêu vào 2 ngày Rằm và Mồng Một không cần treo bảng. Ngày nay tuần liêu tháng 4 lần, ngày mồng 3 và mồng 8 tụng Kinh cũng không làm. Mỗi khi gặp ngày Rằm, Mồng Một lễ thù ân chúc Thánh có nơi thay vào tụng Kinh; nói chi việc tuần liêu, Trụ Trì mỗi ngày sáng chiều 2 thời khóa tụng, lúc lạy Phật đi chung quanh lạy các thánh tượng, tùy nghi đi tới các liêu hỏi thăm huynh đệ, kiểm điểm việc chùa viện…
Chứng nghĩa ghi: Luật Tăng Kỳ ghi rằng; Thế Tôn lấy 5 việc, thường nên 5 ngày một lần đi tuần các tăng phòng vì:
1- Sợ đệ tử đắm việc đời
2- Sợ mắc vướng luận bàn thế tục
3- Sợ đắm mê ngủ
4- Vì để xem xét chúng bịnh
5- Làm cho các tỳ kheo nhỏ tuổi quán oai nghi Phật, sanh lòng hoan hỷ.
Ngày nay vị Trụ Trì tuân lời Phật cũng đi tuần các liêu chúng như vậy. Đó là lý do đi tuần liêu mỗi tháng 4 kỳ.
1.3.6 Giữa chúng 
Nói công khai là nghi cách khởi sự dừng lại cùng với tiểu tham, tương tự gần giống tiểu tham. Chỉ có Trụ Trì nói lời khai thị ngay tại thiền đường; trong khi nói công khai có nhiều loại không giống nhau. Như Trụ Trì nói, hoặc cáo hương, hoặc thông báo trước khi kiết hạ, giữa hạ, hay làm một Phật sự gì đặc biệt. Hoặc nhân thỉnh khai thị, hay cầu thầy giải quyết nghi vấn, vì hành giả mà thuyết, hoặc cảnh sách để khuyên bảo hành giả, hoặc khích lệ đạo đức cổ nhân… Vì lời văn dài ý nghĩa đầy đủ nên gọi là nói rộng (hay công khai). Bắt buộc hoặc ra lệnh khiến mọi người đều phải nói, tùy theo lời của họ mà bàn luận. Dùng giấy bút viết thành câu văn thật đàng hoàng nghiêm chỉnh ghi lại những ý chính quan trọng. 

1.4 Cáo Hương 
Tòng lâm cổ y theo luật kiết hạ, mỗi lần trước kiết hạ có phần cáo hương, chưa làm lễ cáo hương không cho nhập thất. Lễ cáo hương ở phòng Phương Trượng hoặc tại thiền đường. Nay theo thiền tông trong mùa kiết đông có thêm một ngày.
Khi có hiệu lệnh cáo hương, chúng đắp y hậu chỉnh tề vào bàn Tổ hay trước điện Vi Đà hộ pháp. Trụ Trì niệm hương, cắm hương lên lư, lễ 3 lạy. 
Duy Na xướng tán: 
Lư hương… Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần). 
Chúng đứng thành 2 hàng đối diện nhau. Thầy Trụ Trì bạch lớn giữa chúng rằng:
Nhà tối tâm giảm, mắt thần như điện sáng; thiện ác báo ứng như bóng theo hình chỉ có đến sớm hay chậm mà thôi, trọn không trót lọt được. Cẩn bạch đại chúng, nghĩ kỹ mỗi sự thực càng nơm nớp càng kinh sợ thêm, hầu răn dè cẩn thận đó. 
Bạch xong, đến trước tượng Vi Đà niệm hương, lạy 3 lạy, quỳ gối chấp tay bạch rằng:
Con tên… Trụ Trì, như tòng lâm không thông suốt, Phật pháp không lưu truyền là do chúng yểm che, tổn hại của tín thí, cho con đang trong số đó, bớt lộc giảm thọ, tật xấu vây thân, hoặc gặp nạn dữ, chỉ cho đại chúng thấy rõ. Khi mạng chấm dứt đọa vào trong 3 đường ác thú. Chỉ thần giáng lâm, lấy đó cảnh báo người sau.
Từ đây trở đi, mỗi vị nên chuẩn bị nhuần nhuyễn cho lời đọc cáo hương. Cáo xong xá một xá rồi lui về vị trí. Các chúng trưởng tiến vào niệm hương, quỳ bạch rằng:
Chúng con là… các chúng trưởng chúng A, B, C… Nếu 3 nghiệp không tinh chuyên, 4 oai nghi không toàn vẹn, buông lung thô tháo, nợ của thường trụ khiến cho chúng con hiện đời bị chìm đắm trong 3 đường ác. Ngưỡng mong oai quang chứng giám gia hộ chúng con tội báo tiêu trừ, căn lành tăng trưởng.
Kế tiếp, Duy Na niệm hương, quỳ gối chấp tay và đọc lớn tiếng:
Con… Duy Na: như do tư tâm tà chấp, ỷ thế khinh khi áp đảo, cô phụ nhiều người; chấp sự không tròn khiến con hiện đời…
Tiếp theo các vị Đô Giám, Giám Viện, Phó Trụ Trì, đệ tử kế thừa v.v… tiến ra trước điện Vi Đà đứng giữa niệm hương, xá 3 xá, quỳ gối chấp tay bạch rằng:
Con Giám Viện, nếu dung chúng hẹp lượng, tâm thương chúng mỏng bạc, xâm công lợi tư, mê mờ nhân quả khiến con đời này…
Kế Phó Trụ Trì, Tri Chúng, Tri Khách, Chúng Trưởng, đệ tử kế thừa v.v... hể người điều hành việc chúng đều ra bạch cả.
Con… Tri Chúng, nếu ghét nghèo chuộng giàu, trọng tục khinh tăng, phí của thường trụ (Tam Bảo), do ý đồ ưa thích, khiến con hiện đời ...
Kế thiền đường thanh chúng… Nếu người điều hành nhiều lên 10 người cùng ra trước bạch giống như vậy.
Con… Thanh chúng, nếu giải đãi (biếng nhác) tìm nhẹ lánh nặng, không làm xong việc, tốn hao của tín thí, nợ của thường trụ…
Kế các chức sự khác 5, 10 người cùng lên tác bạch:
Chúng con… (nêu chức vụ đảm trách trong chùa), nếu không hết lòng làm phận sự, cố hiểu lầm chúng, phí của thường trụ mà giữ cho riêng mình an, khiến chúng con hiện đời v.v…
Cáo còn có nghĩa kính cáo, bày tỏ cho bề trên biết, hương là thơm, là tinh khiết. Người dâng hương tỏ bày tận tấm lòng mình trong lúc làm việc không tránh khỏi va chạm, mục đích là để thần minh chứng minh; cho đại chúng hiểu rõ phận sự điều hành của mình, và cũng để tự thân khắc phục sửa sai lỗi lầm sái phạm. Tất cả chức sắc điều hành viện đã ra dâng hương bày tỏ xong, đứng thành 2 hàng chúng xây mặt đối nhau. Duyệt Chúng lấy mõ nhỏ tất cả cùng ngồi xuống tụng Kinh Phạm Võng về 2 giới không phát thệ nguyện, như sau:
Phật thuyết Kinh Phạm Võng, phẩm Bồ Tát tâm địa, nếu Phật tử, thường phải phát nguyện hiếu thuận với cha mẹ, sư tăng, mong gặp được thầy hay, bạn tốt, bậc thiện tri thức, thường dạy ta Kinh Luật Đại Thừa về 10 phát thú[1], 10 trưởng dưỡng[2], 10 Kim Cang[3], thập địa[4], khiến cho ta khai mở, như phát tâm tu hành, kiên trì giữ giới luật Phật chế, thà bỏ thân mạng, niệm niệm không rời tâm. Nếu Bồ Tát không phát tâm nguyện như thế, phạm khinh cấu tội. 
Nếu Phật tử phát 10 đại nguyện rồi, gìn giữ cấm giới của Phật, đọc lời phát nguyện này: Thà đem thân này ném vào lửa dữ hừng cháy; hầm lớn, núi đao trọn không hủy phạm Kinh Luật 3 đời chư Phật; và cùng tất cả người nữ làm hạnh bất tịnh. Cũng nguyện rằng: thà lấy lưới sắt nóng buộc nghìn vòng quấn quanh thân trọn không để thân phá giới này. Nhận của đàn việt tín tâm tất cả y phục cũng phát nguyện rằng: Thà dùng miệng này nuốt hòn sắt nóng và chịu lửa dữ cuốn đi trải qua trăm nghìn kiếp trọn không để miệng phá giới này. Ăn của tín thí đàn việt trăm vị thức ăn, lại phát nguyện rằng: thà để thân này nằm trên lửa dữ lưới bao quanh sắt nớng trên đất, trọn không để thân này phá giới. Nhận của tín tâm đàn việt trăm loại giường, tòa ngồi lại cũng phát nguyện rằng: thà để thân này chịu 300 kim nhọn đâm vào mình qua một kiếp, hai kiếp, trọn không để thân này phá giới. Thọ của tín thí đàn việt trăm vị thuốc thang cũng phát nguyện rằng: thà đem thân này ném vào vạc đồng sôi trải qua trăm nghìn kiếp trọn không đem thân này phá giới. Nhận của tín thí trăm loại phòng xá, nhà cửa, ruộng đất, vườn tược, rừng cây cũng lại phát nguyện rằng: thà lấy dùi sắt dùi thủng thân này từ đầu đến chân khiến thành tro bụi, trọn không để thân này phá giới. 
Nhận của tín thí đàn việt sự lễ bái cung kính lại cũng phát nguyện rằng: thà để trăm nghìn mũi dao sắt cháy đỏ đâm vào 2 con mắt, trọn không để tâm này phá giới. Thấy người hiếu sắc cũng lại phát nguyện rằng: thà lấy trăm nghìn dùi sắt đâm thủng nhãn căn trải qua một kiếp, 2 kiếp, trọn không để tâm này phá giới. Nghe âm thanh hay cũng phát nguyện rằng: thà lấy trăm nghìn mũi dao nhọn cắt bỏ mũi đi, trọn không để tâm này phá giới. Tham nếm các mùi thơm cũng phát nguyện rằng: thà lấy trăm nghìn mũi dao nhọn cắt đứt lìa lưỡi ra, trọn không để tâm này phá giới. Người ăn trăm món cao sang cũng lại phát nguyện rằng: thà lấy búa bén bửa rả thân ra, trọn không để tâm này phá giới. Tham đắm vuốt ve xúc chạm cũng phát nguyện rằng: nguyện tất cả chúng sanh đều thành Phật, thành Bồ Tát; nếu không phát nguyện ấy là phạm khinh cấu tội.
Tụng xong, đại chúng cùng đọc bài kệ hồi hướng:
Cúi lạy Vi Đà tôn thiên,
Oai linh thưởng phạt phân minh,
Kẻ thiện hay giáng phước,
Người gian ác gặp tai ương.
Cúi lạy Vi Đà tôn thiên,
Oai thưởng phạt phân minh,
Người trung thường giáng phước,
Kẻ nịnh bị cực hình.
Cúi lạy Vi Đà tôn thiên,
Oai linh hộ tòng lâm,
Người nào phá quy tắc,
Ương họa gặp tức khắc.
Cúi lạy Vi Đà tôn thiên,
Xét tra chân giả tình,
Hiện tại người bạch hương,
Thề ghi nhận tinh tường.
Cúi lạy Vi Đà tôn thiên,
Tuần tra chúng phân minh,
Một câu hợp một câu,
Mỗi câu đáp rành rành.
Phật thuyết Kinh Phạm Võng, vì có người phát nguyện thọ giới, giữ giới nhân đây khuyên gắng giữ gìn; kẻ phá giới nhân đây chữa lành (bịnh). Nếu nói tâm chân chánh cần dùng lời thề nguyện làm gì: đây với người ngôn từ hoa mỹ muốn lung lạc tâm kẻ khác để thủ lợi, sợ đứng thề trước thần, tại sao phải tại tòng lâm? Vi Đà thiên cầm chày đáng sợ nên cẩn trọng chớ tự dối mình mà phụ lòng người cáo hương. Bướng bỉnh ngẩng đầu phanh da khấn lạy thần linh hiển gia tăng gấp 3 lần làm cho tòng lâm sắp suy hoại bại, gian tà dần tiến tới; khấn cầu lực Thần Thánh chóng ban ân phước để trừ sạch.
Tụng xong cử tán bài:
Thần Vi Đà thiên tướng
là Bồ Tát hóa thân
Ủng hộ Phật pháp nguyện cao thâm
Cầm Bảo xử trừ ma quân
Công đức thật khó lường
Tùy loài giúp quần sanh.
Nam Mô Phổ Nhãn Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).
Chứng nghĩa ghi rằng: cáo hương lập thệ; lời thệ hẳn là tâm phải bền vững; mới đầu tâm còn yếu nên phải cần hành trì. Nên phát thệ nguyện để giữ mình. Nếu không phát tâm thệ nguyện đạo do đâu thành chứ ? Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 38 ghi rằng: Tỳ kheo không phát thệ nguyện trọn không thành Phật đạo. Phước của thệ nguyện vô cùng không thể kể hết, như vị cam lồ rưới sạch một nơi. Muốn duy trì tòng lâm hẳn cần nên cáo hương để chứng tỏ sự thanh bạch. Nhưng thanh bạch cùng không chỉ mình tự biết, người khác không biết được. Con người không biết nhưng thần minh biết rất rõ. Giá như có ngu tăng dối láo đối với thần tự cho rằng thần là gỗ, bùn đất; nếu tỏ ra khinh thường tham muốn bưng bít ắt rơi vào quả báo xấu ác. Giả sử hiện thời chưa bị quả báo, cuối cùng hẳn thọ nhận lấy họa tai. Không ai chạy trốn được, không đáng sợ hay sao! 
Hỏi: Nguyện phần nhiều là mong đợi, thề là loại nguyền rủa, dường như không thích hợp với người tu hành?
Đáp: Thề, nguyện là ý chí vô cùng mạnh mẽ; trong khi nguyền rủa có hàm chứa ý thâm độc oán hận bên trong. Cớ chi cho tâm dũng liệt, mạnh mẽ là độc hại chứ? Cũng như 4 nguyện sâu rộng chẳng phải thệ ư? Bồ Tát tu hành không có 4 lời thệ nguyện đó hẳn không có cơ sở thành Phật; cũng đâu giống như đem lời nguyền rủa để nghi sao?
Tóm lại, điển tích cáo hương quan hệ ở tòng lâm không nhỏ vậy. Hành cáo hương là người biết sợ. Giả sử người có lời hoa mỹ cũng bỏ bớt được. Cáo hương phế bỏ nên lỗi nhỏ cũng không chừa. Vì vậy, tòng lâm được hưng thịnh do hành cáo hương; tòng lâm sắp suy, vì bỏ cáo hương vậy. Thẹn hưng suy là ở điểm này. 
Ngu Am Chích Cổ ghi rằng: Từ Thoàn Phốc thiền sư chủ trì Thiên Đồng 20 năm ăn không trái chúng, dù bịnh cũng không trái chúng vâng theo rất là chặt chẻ, đãi chúng thật là tốt đẹp. Có một sư chú tri khố (coi thủ kho ở chùa) biết trong kho đã cạn, đến xá sư bạch: 
- Con đã hết sức xoay xở thêm được một lần; kho trống trơn không dám tự chuyên xin nạp vào Tam Bảo. 
Sư Phốc giận nói: 
- Ông để kho trống rỗng ắt giữ theo cái xảo ngôn vô nghĩa đối với vật; tiền bạc của Tam Bảo dung túng cho Ông làm việc bất nghĩa ư? 
Không nạp vào là tranh của người khác, đâu phải của riêng tiểu sư? Nạp vào của thường trụ đã hiếm nghe thấy; còn giận không nạp đều là tranh đoạt của người khác. Duy trì việc cáo hương đây rất là trong sáng. Người xưa như thế kham nhẫn làm sư biểu (thầy người) mà cáo hương cần phải biết đó. 

1.5 Tụng niệm 
Việc tụng Kinh hoặc chúng ở chùa tụng, hoặc thí chủ phát tâm tụng cũng phải nên qui định trước. Nay dựa theo thí chủ nêu thí dụ: quan chức tới chùa; Thầy Tri Khách và Thầy Trụ Trì tiếp đón ( như tiếp khách tăng vậy). Nếu không phải nhân vật quan trọng, tiếp tại phòng khách như vị tăng khách. Dự định ngày lập đàn tràng trang nghiêm (xem chương Chúc Diên), viết thông báo như sau:
Tháng này ngày… quan chức… hộ pháp, vì việc… xin tụng Kinh… hồi hướng công đức, đảnh lễ…sám hối, cùng chư sơn thiền đức; ngày kế luân phiên mỗi ngày… vị như bên dưới:
1- Thầy A Thủ Tọa
2- Thầy B dãy nhà Tây
3- Thầy C dãy nhà Đông
Hoặc dành ngày khác, hoặc 3 ngày thay đổi một lần, từ Chúng Trưởng đến đại chúng, trong ngoài đều tham gia.
Lúc vắng, Kinh sư trước hết lên phòng Phương Trượng đảnh lễ Hòa Thượng. Thỉnh Ngài khai thị (cho tôn ý) trước khi vào nghi. Tri Khách mời thí chủ niệm hương thành kính trang nghiêm, cắm hương lên lư, lễ 3 lạy; Thầy xướng cho thí chủ đảnh lễ chư Tăng 3 lạy. Nếu nhân vật quan trọng thì tùy nghi không cần đảnh lễ. Ngày kế khai Kinh. Mời thí chủ niệm hương, cắm vào lư, lễ 3 lạy. Hôm nay chính lễ có đọc sớ, cúng ngọ. Thời tụng Kinh viên mãn trở lui về phòng Phương Trượng để trai chủ hậu tạ Sư, không nên tạ bên ngoài làm mất trang nghiêm.
Nguyên sách về tụng niệm sau, tiếp theo phần cúng thủy lục qui định 9 môn. Nay để lại sau cuối quyển. 

1.6 Qui Ước Tụng Niệm, 11 Điều 
Tòng lâm cổ ẩn nơi non cao không liên hệ với thế tục; ngoài nghi chúc Diên (Ly) ra, không theo thông thường đáp ứng. Đúng là đại sự không rõ, việc nhỏ không bận tâm; cứ chạy theo thù ứng làm tán thất đạo niệm. Ngoài ra, như chưa tự độ lấy gì độ người, nên kinh ghi rằng: chỉ một việc Du Già cũng là việc lợi sanh của đăng địa Bồ Tát, không phải việc thích nghi của phàm phu sơ tâm. Song sợ đời sống tòng lâm thanh đạm thiếu thốn làm cho nhà tu giải đãi; lui sụt pháp tu không đạt được, nên cần phải tụng niệm để được tinh tấn. Nhờ đạo tràng đối trước kinh tượng, tưởng như đối trước Phật vậy. Tụng Kinh văn nghĩ tới nghĩa Kinh; làm việc gì cho đạt kết quả ắt làm cho thân, miệng, tâm hợp nhau, không hôn trầm (ngủ gục), không tán loạn, không giải đãi, không tham lợi; biết nhân quả, biết tàm quí, sợ nghiệp lực. Nếu như thế không cần độ người mà tự độ người; không chờ lợi ích mà tự lợi ích. Cho nên nói rằng: người lấy của cho ta, ta đem pháp cho người, so ra 2 việc bố thí không khác mà do nơi ta có thể quyền phương tiện làm, như đánh trống. Không đọc ra tiếng hoặc không biết chữ mà xem Kinh, lễ sám như chày giả gạo. Không quán tưởng nên tâm không thành thật; thân đối trước tôn tượng mà mắt nhìn hướng khác, miệng tụng kinh sám mà tâm dấy niệm riêng tư. Như thế cho thấy trước mắt đạo tràng tòng lâm suy vi, tương lai chính ta chịu khổ. Lấy pháp tự lợi làm lợi người; trái lại lấy cái sai lầm của mình gán cho người tội sai lầm, há không cẩn thận sao?
Những qui định (11 điều) ghi rõ như dưới đây:
1- Người tụng Kinh, ngày hôm trước thấy tên mình có nêu trên bảng lo tắm gội sạch sẽ, sáng hôm sau tụng kinh sám hối. Nên để mắt, để miệng và để tâm đến lời Kinh, không nên lúc tụng kinh sám mà nói bàn tạp nhạp; cũng không được ngưng tụng để nói chuyện. Nếu bàn tạp đùa cười trong lúc tụng kinh sám sẽ bị phạt tiền là một tiền 8 phân (khoảng US$10,- bây giờ). Người ở sau mình bàn tạp phạt 8.01 phân. Lúc tụng niệm không được quay đầu liếc xem người, trông vật 2 bên.
2- Nhứt tâm tụng Kinh chữ chữ rõ ràng, tụng không ra tiếng, sau khi khóa lễ xong, phạt rất nặng. Nếu làm mất sự nghiêm tịnh không chí thành phạt 3 phân tiền; tụng lớn tiếng một mình át chúng phạt 6 phân tiền. Kinh sám nên tụng hòa nhau với chúng.
3- Người chủ lễ không được tán tâm vọng tưởng mà phải nhứt nhứt đúng kinh văn, chí thành niệm quán.
4- Chỉ cho Phật tử không nên gấp gáp giản lược mà nên nhứt nhứt theo văn, tụng có thứ tự. Xử dụng chuông trống cũng phải nhẹ nhàng trang nhã không nên làm phiền người khác.
5- Tụng kinh và thí thực, khóa lễ chưa xong, không được thâu tượng Phật, dọn đồ đạc trước, làm mất trang nghiêm.
6- Cúng thí thực nhất nhất theo văn chí thành kết ấn, tụng chú, quán tưởng. Ba nghiệp hợp nhau không nên sân si cải lẫy; đọc nhanh cho xong khóa lễ, văn bạch cũng vậy.
7- Người phụ trách việc hương đăng trong ngoài đều phải thanh khiết, chú ý tới đèn nến. Giữa đàn tràng thủy lục lại càng phải thận trọng hơn về đèn đuốc.
8- Hương đèn, quả phẩm v.v... nếu có rớt dưới đất không dùng; đồ đã cúng cũng không dùng lại.
9- Rau dưa, cơm nước v.v. phải nấu chín có vị, không được thêm các mùi, không nên cúng đồ khô, vật sống.
10- Người phạm tranh cải phạt tiền 8 phân. Nếu tranh cải làm mất oai nghi phạt 1 tiền 8. Người không tuân hành cho ra khỏi chùa. Khoản tiền phạt đó cho ghi vô sổ tài chánh để chùa tu sửa tượng Phật, kinh điển.
11- Kho lẫm nên để tâm trông coi sắp đặt các đồ dùng ngăn nắp, không nên bỏ bừa bãi.
Những điều qui định trên nên chấp thuận tuân hành; nếu không như vậy, tự chuốt lấy hoạn họa mà việc trước mắt là phạt người phạm Thanh Quy, và về sau ắt chịu nhân quả, há không thận trọng hay sao!
Ngày…tháng…năm… Trụ Trì….sao lục.
Chứng nghĩa ghi rằng: phàm tụng niệm là chuyển pháp luân. Xưa tăng chúng xưa nay phần nhiều hay cẩu thả, tội lỗi không nhỏ. Vân Thê Pháp vựng ghi: Xưa tại Ô Trấn có vị tăng chùa Lợi Tế, hai thầy trò đều nổi tiếng được khen rất nhiều, nhờ tụng kinh sám ngày càng lợi nhiều. Nhân vì đầy đủ sung túc nhưng lại dè xẻn không hưởng cũng không bố thí. Về sau, mắc bịnh người nhà đón về trị bịnh, chẳng bao lâu bèn qua đời. Khi sanh tiền lo tích chứa, rốt cuộc để thân tộc hưởng. Mười năm sau ông hiện về báo mộng cho người thân biết rằng, Kinh tụng chưa đủ, âm phủ hạch tra rất gấp, khổ không thể tả hết! Người đời còn truyền tụng câu rằng: Điện chớp ánh sáng thấy chữ đọc hết không lừa dối! Ghi câu chuyện ấy để nhắc nhở cho người hữu duyên. Ngoài ra, cúng thủy lục trước sau có liên quan tới tụng kinh bái sám tiếp tục không gián đoạn; kế làm gấp gáp như chọn quan chức, mời Kinh sư, bận rộn như báo tin mừng… Tụng Kinh sám ngày càng thịnh; đạo đức ngày càng suy. Tòng lâm đến như thế, không báo động hay sao! Quả là đáng buồn! 

1.7 Lập Hộc lường đồ cúng  
(đóng hộc đong lường đồ cúng) 
Phàm tiết Thanh Minh, Trung Nguyên, rằm tháng mười, đêm trừ tịch… lập hộc cúng. Trước tiên ngay hôm lễ buổi chiều dán thông báo ở phòng khách. Thông báo rằng, tối nay… tại giảng đường thiết hộc (hoặc thí chủ có việc tùy đó thay đổi). Chính giữa là Hòa Thượng hay Sám Chủ (tùy theo thay đổi), tả bạch Thầy A, B; hữu bạch Thầy C, D, 4 vị. Tòa chính giữa do chức sự mời vị chủ sám trình bày rõ tại trai đường. Mời các chức vụ Duy Na, Duyệt Chúng, Tri Khách, công văn (viết sớ, giấy tờ), ẩm thực, hương đăng, hầu đàn, trà nước, tiếp tân, thủ quỷ… đều chiếu theo các pháp cựu lập.
Chứng nghĩa ghi rằng: Việc thiết hộc đến nay phần nhiều là ngụy tạo, nói tóm có 10 điểm. Chiếu theo Mật bộ nghi quy: sắp sửa muốn cúng thí thực, trước hết phải kiết giới hạn để trở thành nơi thanh tịnh. Phép kiết giới hạn: lấy cây cắm 4 góc làm móc, lấy dây giăng làm cho người, vật không vào được phạm vi; sau đó lập đàn thí thực, đàn quỉ thần. Tục thường gọi là đài Hàn Lâm cũng còn gọi là đài Cô Hồn; và lập 2 bên giới nội bàn chư tiên linh. Đàn thí thực đến đàn cô hồn khoảng giữa lấy 3 mét vải trắng ngăn ra 3 đường. Đợi cho tới đầu giờ Tuất, pháp sư cùng vào ngồi đàn. Trước hết tụng chú đại bi, chủ sám sái tịnh bốn góc đàn tràng, quán tưởng giới nội dùng lực thần chú và lực quán tưởng biến thành tịnh địa. Vì nền đàn tụng 3 biến chú đại bi, vị pháp sư trước bàn thí thực đứng ngay chính giữa; tả bạch, hữu bạch xướng, Kinh sư theo đó quán tưởng giới nội đất tịnh rộng lớn vô cùng. Trống phách khua vang sáng tỏa 7 vì sao, như xướng A Di Đà Phật thân kim sắc, tất cả đồng xướng kệ tịnh địa như sau:
Hết thảy cạnh vuông chỗ có đất
Ngói, sỏi, cát, sa mạc đều không
Lưu ly đất báu như bàn tay
Vi diệu uyển chuyển mong an trụ
Như cõi Cực Lạc thật trang nghiêm
Đất báu hoa phô trổ sắc hương
Vườn rừng, ao rạch không thiếu chi
Vì đại pháp âm mong đầy đủ
Vượt ngoài thế gian lại hay hiện
Vô số thất bảo đều thành tựu
Vô lượng ánh sáng chiếu khắp nơi
Mong chư Phật, Bồ Tát an trụ.
Xướng xong, hồi 1 hồi 3 tiếng trống; pháp sư đọc kệ: 
Trước kết đại luân minh vương ấn
Gia trì đàn tràng thảy thanh tịnh
Con nay y giáo tụng mật ngôn
Cho con đều đạt thành như nguyện.
Đọc rồi, liền thầm đọc Chú đại luân minh vương 21 lần. Chú nêu rõ nghi cách cúng thí thực. Đọc chú xong, tiếp tán: 
Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần). 
Đây là Mật bộ không ảnh hưởng, không theo kết giới là một sự thất cách. Lại theo Kinh bổn Phật thuyết tại nước Ma Già Đà, có chỗ dùng hộc, vì đồ ăn, đồ uống này lượng như pháp giới; thức ăn vô tận. Nay y cứ theo nước ta (Tàu) một hộc tương đương với 5 đấu (thăng). Phàm thí thực phải dùng 5 đấu gạo nấu cơm để thành núi cơm; 5 đấu bỏ thùng hấp chín có mùi thơm, để thành núi rau. 5 đấu nước trong thanh khiết để thành biển sữa mới hợp lời Phật dạy. Cúng xong, sáng sớm hôm sau đem cơm này chia thành 3 phần: 
1- Cho loài sống dưới nước tức tại hồ phóng sanh hoặc sông lớn, hay biển
2- Cho loài bay tức chỗ phóng sanh hoặc nơi núi vắng
3- Cho phương khác, tức cho kẻ ăn xin hay những người nghèo khổ.
Nếu không có chỗ phóng sanh, đem cho người thiếu thốn nơi biên địa; thấy cơm không đầy một chén, rau không trải một đôi đũa hoặc ăn ngấu nghiến quả một ít thì gọi là 7 hạt biến 10 phương; nhưng nước hoàn toàn không có; còn hơn là chẳng biết 7 hạt biến 10 phương, đó là phép cúng thí xuất sanh 2 bữa ăn mỗi ngày. Lúc chư tăng dùng bữa, nhưng luôn thực hành là dối thứ nhứt. Lực hành động, cúng xuất sanh không nhiều, thí thực chuyên làm vậy để duy trì. Phải cần hình tướng hoàn bị nên y lời Phật dạy, dùng pháp Ma Già hộc nên gọi là thiết hộc tu trai. Thêm pháp lực thần chú có thể làm cho một món ăn biến thành vô số thức ăn cung cấp cho hết thảy mọi loài đều được no đủ. Lại sợ các loài lấy sang khinh hèn, lấy mạnh hiếp yếu, lấn át kẻ cô thế yếu đuối khiến không được ăn làm mất sự phân đều, vượt ngoài tâm từ của Phật nên thỉnh Tam Bảo và chư thần linh gia tăng sắc lịnh duy trì của bố thí cho ta. Hết thảy vô ngại, không cao không thấp, không chọn lựa oán thân mà cho đều bình đẳng. Xưa nay phần nhiều không theo đúng pháp chỉ dùng đấu (hộc) bằng tay, không đong lường cơm. Đúng là đồ ăn chưa phân đều, hoàn toàn thành hư thiệt, đó là điểm lấp lững thứ hai.
Lại việc thí thực hoàn toàn chú trọng vào tự răn có quán Định, quán Huệ, có thủ ấn, có chân ngôn, cho đến ca xướng nhằm trợ giúp đạo mà thôi. Đây không đắc giới định, không quán tưởng kỹ, tay ấn bắt sai, chân ngôn mơ hồ, nhằm xướng không cốt để làm đúng việc ứng phó mà vị tăng không cần làm như thế. Đạo đức tòng lâm cũng bắt chước mà không tế nhận, thậm chí lấy rượu làm đồ trọng kính, đào lựu cung hiến mà không biết lỗi. Đó là ngụy tạo gian dối thứ ba.
Lại tế cô hồn nguyên là để gọi việc thí thực mà chú trọng tới cơm rau nhiều. Nước nhiều, có thể biến khắp nơi làm cho đỡ khát tới cõi âm; vật cúng loại như áo giấy mà cũng đem bố thí nhưng nay thì đã chấm dứt. Nay ngược lại, cơm rau, thức uống không hợp nghi cúng Phật dạy; nhưng gia chủ ham uống mua sắm tốn phí thật nhiều mà không thành tâm tạo niệm cảm thông; không cứu khổ được cô hồn đói khát. Mãi theo tục cố nhiên đều điên đảo, là điều ngụy dối thứ tư.
Lại lập đàn tế cô triệu mời các hồn đến, quan trọng nơi 3 đàn thí: đàn thí ăn uống, những vật tư sanh, thí các thứ đó phá ngục trừ dứt các tội; vô úy thí là cho 3 pháp quy y 7 đức Phật; và pháp thí là ban cho giáo pháp giải thoát. Song 3 môn thí này có đủ trước đàn pháp để chúng được lợi ích, có chiếc đỉnh u minh cũng nên đặt trước đàn; đợi tụng xong chú Tôn Thắng sau mới đem đốt. Sắp đầy đủ các thức ăn, đúng pháp, đủ đồ vật là đã cứu đói khát rồi. Lại chuyển sang con đường thiện mới là điều hữu ích. Nhưng trước cúng Diệm Khẩu chưa triệu quỉ xong mà đã tới trước che lối đốt đĩnh u minh khiến bọn quỉ không được đầy đủ 3 pháp. Vì chúng quỉ thọ đồ minh khí nên không nghe được pháp; thọ thức ăn, yêu pháp là quỉ mất đồ minh khí. Ngoài ra, không đốt đồ minh khí trước đàn thì không linh kỳ, giám quan tin bọn quỉ kia ỷ mạnh khi yếu giành lấn không trừ, thí không bình đẳng. Hoặc cây đào lựu ở bên, liền hóa giấy tan đồ ăn là quỉ sợ khiếp không dám tới nhận, hoặc đốt lửa chưa cháy hết mà quét tro, làm tan bột không dùng. Ngay việc đời chẳng biết đó là trái, là dối thứ năm.
Lại nữa, thí đàn pháp thực toàn phát xuất từ Mật bộ (Mật giáo) nay chỉ nói sơ lược. Dùng 2 chiếc bàn vuông lớn, một cái phía trước thiết bàn Phật cao hơn, rồi tới lư hương, chân đèn, bình hoa, dĩa quả. Ở bàn thứ nhì, hoa, hương đèn, đồ quả, nhạc. Tượng Mẫu lục thiên hoặc lấy gỗ chạm, hoặc dùng đồng nhuyễn đúc với nhan sắc y trang đẹp. Sáu vị mỗi vị một màu, một mặt, 4 tay đồng kiết ấn; 2 chân, chân trái múa, chân phải quỳ. Hai tay, mỗi tay cầm sách dâng lên, mặt hướng về Phật. Hoa Mẫu cầm hoa, áo màu hồng nhạt, tiêu biểu ban thí. Hương Mẫu cầm hương, áo màu vàng, áo giới. Đăng Mẫu cầm đèn, áo màu hồng, tiêu biểu nhẫn. Đồ Mẫu bưng nước, áo màu trắng,tiêu biểu tấn. Quả Mẫu cầm quả, áo vàng hồng, tiêu biểu định. Nhạc Mẫu cầm nhạc khí, áo màu xanh lục tiêu biểu huệ. Duới chân tượng đạp lên hoa sen, dưới hoa đều có chữ Án hồng. Chữ đứng ở mặt đài. Đại chúng xướng chữ Hồng phát ra dõng xuất. Lúc tán, pháp sư tay không cần bắt ấn, chỉ lắng lòng nhắm mắt tưởng sắc tướng 6 mẫu thiên theo mỗi hướng một chữ Hồng. Chữ Án dõng xuất, đã hiện rồi mặt tay phóng quang. Mỗi mẫu cầm hương, hoa v.v... cúng dường Tam Bảo, đây gọi là vận tưởng cúng dường. Hàng thứ ba kiệu Phật ở giữa vẽ giống như hình bảo tháp, bên trong đặt hình Phật Tỳ Lô Giá Na. Sau kiệu Phật đặt một cành tre trên có móc nhỏ treo một lá phan, viết chính giữa Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Ngoài ra, ở 4 hướng đặt 4 tượng Phật mặt hướng vào Phật chính giữa. Sau ngọn lửa liên tòa đang cháy cũng có một cành tre trên đầu có móc nhỏ, 4 phía đều treo mỗi bên một lá phan trên đó viết: Đông phương A Súc Như Lai, Nam phương Bảo Sanh Như Lai, Tây phương Vô Lượng Thọ Như Lai, Bắc phương Bát Không Thành Tựu Như Lai. Hai bên Phật giữa lại đốt một cây đuốc lớn. Sau Phật trung ương tức là sau bàn bát tiên, hàng thứ nhất dùng giá để một kiếng lớn lên tượng trưng cảnh đàn, chỗ Chuẩn Đề thuyết pháp. Trước tấm kiếng là bàn Mạn Đát, sở dĩ nói Mạn Đát vì gọi theo tiếng Phạn, Trung Hoa gọi là Đàn. Đàn này dựa theo một thế giới mà luận chung, không phải chỉ nói có một châu Nam Thiệm Bộ; đàn như núi Tu Di của trung thế giới. Chỗ tòa pháp sư ngồi như châu phía Nam, 4 châu đều chầu núi Tu Di. Châu Nam ngồi phía Nam hướng về phía Bắc; sau đây dựa theo phương Nam mà luận. Núi Tu Di ở phía Bắc, vị trí của Nam Bắc đã định thì châu phía Đông hợp bên phải, châu phía Tây hợp bên trái. Nương theo đây bày gạo nhập quán. Trước Kinh sư là bàn đặt hoa, gạo, chày, linh; 2 bên theo nghi thức có 4 bản khác nhau, đây là bản quy định chính. Trước kia phía trước đàn, ngụy dùng 5 phương đồng tử, giữa đàn bày cúng nước, trái cây, chẳng biết Phật quá ngọ không dùng; sao còn dùng quả, thức ăn đặt bày ra trước đàn? Lầm lấy hướng Nam trên hướng Bắc dưới; Tây bên phải, Đông bên trái, là ngụy tạo thứ sáu.
Lại, văn thí thực một cuốn dày, phần sau nửa cuốn trong đó có cả kệ văn, ấn chú đều nên tụng chậm rãi. Nửa quyển trước từ phần mở đầu đến triệu thỉnh Địa Tạng đều là cầu Phật Pháp Tăng Tam Bảo chứng minh, xin tế độ bạt trừ khổ mà thôi. Chỗ có kệ có thể cao giọng xướng tụng khoan thai trầm bổng. Ngày nay trái lại trước tiên ở dưới đàn tất cả thiết trí phía trước, mọi phần tụng niệm, thậm chí thượng đàn và nhẫn đến thỉnh riêng biệt than kể mỗi mỗi cao xướng, hòa hưởn lúc yên vắng; ngay đến phá ngục triệu thỉnh ngạ quỉ, cũng như đọc chú Tôn Thắng, nên phải vận tâm quán tưởng tụng hòa hưởn đi đến gấp rút như gió thổi. Thậm chí tụng Kinh chưa xong mà thu dọn đàn, trên là khinh mạn Phật thánh, dưới dối trá quỉ thần. Cả việc đời không biết đó là điều dối thứ bảy.
Lại việc thí thực, kiết giới thượng đàn hợp tại cuối Dậu, đầu Tuất trong khoảng 2 giờ Tuất, Hợi hoàn toàn thuộc ban đêm (âm) là thời gian quỉ thần không sợ. Thí thực cho họ lúc đó hẳn thọ được nhiều lợi lạc hơn. Giờ giao nhau là đầu giờ Tý dương khí chuyển thạnh nhưng khí âm suy, quỉ sợ hãi, cúng thí pháp thực, bọn quỉ không dám tới thọ. Sát tới gần giờ Mậu, Mùi còn chưa đăng đàn đến canh 5 mới xong, hoặc một đêm đăng đàn 2, đăng đàn 3 là hao tốn đồ vật, lừa đảo quỉ thần. Chỉ biết rõ tâm nguyện không nghĩ tới âm linh, đó là điều dối thứ tám.
Lại thí thực là kết duyên rộng cùng chúng quỉ, trước hết nên ban cho họ pháp vô úy. Vì thế trước kết giới hạn không cho người vật nhập vào giới nội để làm cho đàn tràng được thanh tịnh; lợi ích người còn sống và loài quỉ cõi âm. Âm thường sợ dương nên trước đàn thí thực không người nào được chạy qua lại. Giá như bất đắc dĩ nên đứng phía sau đàn. Gần đây hoặc vì ngày Vu Lan Thắng Hội tiêu biểu, hoặc vì cầu được bình an là chính mà kết đầy đèn giấy treo khắp chỉ thần, mời gọi nam nữ tụ tập như xem trò vui chơi, quán sát những màn lạ mắt, đôi khi cả đại nhạc hội làm náo nhiệt; thuần lấy khí dương của người lấn át đó, xua đuổi quỉ thần tránh xa, không dám tới theo lời mời thỉnh; còn tổ tiên của bản địa cũng sợ mà lánh sang một nơi khác. Như thế dù cho có bày đồ vật cúng cũng khó mà kết nạp quỉ tới thọ hưởng; trái lại còn làm quỉ giận nữa. Việc đời chẳng biết, đó là điều dối thứ chín.
Lại khảo cứu nơi kinh tạng, duyên khởi ban sơ của việc thí thực, chỉ Phật thuyết Kinh cứu bạt diệm khẩu ngạ quỉ Đà La Ni, do Ngài Bất Không dịch. Ngoài ra, Ngài Thật Xoa Nan Đà dịch là Kinh Phật thuyết cứu diện nhiên ngạ quỉ Đà La Ni thần chú, tức dịch trùng Kinh trên, mà đầy đủ chỉ có biến thực chân ngôn mà thôi. Ngài Bất Không lại dịch: Du Già Tập Yếu, Kinh cứu A Nan Đà La Ni Diệm Khẩu nghi quỉ. Nối tiếp A Xà Lê lại cũng dựa Kinh này đưa vào chi tiết là Du Già Tập Yếu, Diệm Khẩu thí thực nghi quỉ. Quyển này hiện còn thấy trong Đại Tạng, đơn giản quan trọng chỉ một điều là triệu thỉnh chung pháp giới 6 loài, và nghi triệu thỉnh ngạ quỉ ấn chú v.v.. Không nại người đời, thích trau chuốt miệng lưỡi thêm triệu thỉnh riêng, thán kể v.v.. những việc đời, thường gọi là Hải Thượng Diệm Khẩu là đây vậy. Thậm chí như tìm lục trong Đại Tạng nguyên bổn tra xét nhưng không gặp. Nối pháp có Thiên Cơ đại sư mắt thấy đi trên biển là trái lời Phật dạy. Lược bớt, bỏ chỗ phức tạp rườm rà không hợp ý người sau. Nhưng thêm vào phức tạp là sách lưu thông tới ngày nay. Ngoài ra, y cứ sách Vân Thê, khảo cứu bản chánh đều không thấy có kết giới ngũ phương. Xưa nay việc tốt hơn hết nên mời 5 vị pháp sư thiết 5 đàn đông, tây, nam, bắc, trung ương 5 đàn pháp. Đương nhiên gọi là 5 phương kết giới; nên như phần trên nói về kết giới để kiết giới; tức 4 phương 4 vị pháp sư, mỗi vị nên trì một bài chú: Đông Bắc chú Lăng Nghiêm, Đông Nam chú Đại Bi, Tây Bắc chú Tôn Thắng, Tây Nam chú Tùy Cầu. Ngày nay 4 phương bỏ trống mà chẳng trì chú, dối xưng niệm quán, đó là điều ngụy thứ mười vậy.
Trên đây là 10 điều dối, thiếu nghĩ suy không lợi ích mà còn e có tổn hại nữa. Tục ngữ có câu: đoản thọ miệng lửa, đúng là đây vậy. Người cúng thí thực há không thận trọng ư? Vì thế, muốn học cúng thí thực, ngoài phải đổi 10 điều dối này thành 10 điều chân thật, trong phát tâm vô thượng Bồ Đề, trước tập quán chiếu và các ấn chú đều làm cho thuần thục không được sai lầm. Nếu như lỗi lầm không thành khế ấn, hiền thánh không hoan hỷ. Phàm việc cầu nguyện mà không đạt thành tựu, người chủ trì phải biết đó. Sách chư gia thí thực sớ có giải thích điểm này. 

1.8 Xông Hương Tháp  
Xông hương tháp, trai chủ và quý Thầy, mỗi vị cầm hương mà đi nhiễu tháp, nên gọi là xông hương tháp. Nay chỉ tụng kinh mà không cầm hương làm mất chỗ cung kính.
Trai chủ đến phòng khách nên tiếp mời cơm nước giống chư tăng; lập tức thông báo như sau: hôm nay… giờ, có đạo hữu… tới xông hương tháp, xin mời …vị như danh sách dưới đây…A, B, C, D…liền báo cho tháp chủ, trên dưới trong ngoài tháp quét dọn sạch sẽ. Cử 2 người vô kho lấy đèn dầu, đèn bảo, đèn bàn, chén nhỏ các thứ. Mỗi chén để dầu đầy, đèn bảo 7 ngọn. Tới giờ tập họp chúng để xông hương tháp, Thầy Tri Khách mời trai chủ niệm hương, Thầy Duy Na cử tán bài: Lư hương… Thí chủ lễ 3 lạy xong, Duy Na bắt tán bài kệ nhiễu tháp sau:
Cung kính quán tháp
Nguyện cho chúng sanh
Người và chư thiên
Cùng được chiêm ngưỡng.
Đi nhiễu bên hữu tháp
Cầu nguyện cho chúng sanh
Bước đi không trái nghịch
Thành tựu nhứt thiết trí.
Nhiễu tháp 3 vòng
Nguyện cầu chúng sanh
Đạt thành Phật đạo
Tâm không giải đãi.
Tán kệ xong, Duy Na cử nhịp, đại chúng tụng hòa như:
Nam Mô Đa Bảo Như Lai, 
Nam Mô Bảo Thắng Như Lai, 
Nam Mô Diệu sắc thân Như Lai. 
Nam Mô Quảng Bác thân Như Lai,
Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai, 
Nam Mô Cam Lồ Vương Như Lai , 
Nam Mô A Di Đà Như Lai.
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Vừa tụng vừa đi nhiễu, bắt đầu từ hàng đầu đi phía tay phải, tiếp theo hàng thứ hai cho tới hàng sau cùng, đều đi nhiễu 3 vòng. Rồi từ trên xuống dưới cũng đi nhiễu 3 vòng như vậy. Xong Duy Na dứt niệm Phật, liền bắt sang bài kệ tán thán tháp:
Đảnh lễ tôn tháp
Nguyện cho chúng sanh
Hết thảy nhân thiên
Không thể thấy đảnh.
Tán xong Duy Na xướng lễ:
Nhứt tâm đảnh lễ Đa Bảo Như Lai, (7 Phật như trên) Thích Ca Mâu Ni Như Lai, chúng đều lạy 48 lạy, ít nhất là 12 lạy. Trước giờ ngọ phải cúng ngọ, nếu sau ngọ, không phải cúng. Mỗi ngày 3 lần hoặc 2 lần tụng Kinh tùy ý, tối lại đốt đèn để cho tới sáng hôm sau, lại đi nhiễu xông hương tháp như trên một lần nữa.
Duy Na đọc sớ như sau: 
Lại vì, thấy ánh sáng của xá lợi lung linh trải cùng khắp pháp giới, cao rộng như cõi Diêm Phù Đề phảng phất biến chiếu cõi nhân thiên. Rưới nước thơm xin quét bụi bặm, đốt đèn sáng mà giao bái, hết lòng thành khẩn thiết, ngưỡng mong chiếu soi.
Kế đến vào hương quán (đền miếu làng), ngày… tháng… năm… vì việc…
Thành tâm niệm (tên)…trải qua bao kiếp trôi lăn không ngộ nhập cảnh giới thay đổi của Pháp Hoa, nhiều đời đắp đổi gặp được ánh sáng tàn nơi hai cây song thọ, may nhờ ở đó có bảo tháp nguy nga, tin pháp thân Như Lai thường trụ; vui mừng tu tập hạnh nguyện bày tỏ để chí thành cung kính. Hôm nay ngày…tháng…năm… chuẩn bị đầy đủ hương hoa, đèn nến cung tựu (tên) chùa, đảnh lễ bảo tháp, xưng dương Phật hiệu…lần, đốt đèn…đêm; kết nạp nhân lành này mong đáp đền ân đức sâu dày.
Lại nguyện, lọng báu che không, nhạc trời tấu khúc, phạm âm vi diệu. Sen vàng vọt khỏi đất, hoa chiên đàn tung rải đó đây, Phật hiện thân tướng đẹp ở Ta Bà, khiến chúng sanh đều biết quy ngưỡng. Phật phóng hào quang ở cõi trần sát, đưa muôn loài vượt khỏi biển khổ. Nhân lễ xưng tán hôm nay, mong kết thành quả vị Bồ Đề. 
*Như có việc nguyện cầu gì nên cho vào đây. Chỉ một điều là không được gần việc thế tục mà xa rời Phật pháp; phải chí thành suy nghĩ cho kỹ.
Sớ như trên là cung thỉnh Tam Bảo chứng minh, văn sớ xông hương tháp, ngày…tháng…năm.. (tên) cẩn sớ.
Đọc xong, đốt sớ như thường lệ. Tiếp đọc hồi hướng:
Xông hương tháp công đức hạnh nhiệm màu….
Phục nguyện và cuối cùng là 3 tự quy y. 
Chứng nghĩa ghi: trong nghi nhiễu tháp này có 4 bài kệ, trích từ Kinh Hoa Nghiêm phẩm Tịnh Hạnh. Lại trong Đại Tạng có Kinh Công Đức nhiễu tháp 1 quyển. Phật dạy việc nhiễu tháp thù thắng cao quý không thể nghĩ bàn. Người xưa nói rằng, không có việc gì đừng lên điện Phật, đợi lúc rãnh mới đi quanh tháp, nếu không quét dọn rưới nước thơm, dù phước như vua chuyển luân cũng tiêu sạch. Bởi bảo tháp là nơi gìn giữ pháp thân chư Phật nên phải tin và ngưỡng mộ. Lúc hiện đời tăng thiện giảm ác, mà lại lễ lạy được phước không thể đùa cợt, giởn chơi được. Viết ra đây để cảnh cáo những ai ngày nay vui đùa trước điện Phật cũng nên cận thận vậy. 

1.9 Đốt Đèn Tháp Dược Sư  
Đốt đèn tháp Dược Sư như Kinh ghi rằng, nếu có người bịnh muốn thoát khỏi bịnh nên vì người ấy mà thọ 8 pháp trai giới 7 ngày 7 đêm. Phải sắm đồ ăn thức uống và các thứ tùy sức mình đem cúng dường tỳ kheo tăng; ngày đêm 6 thời lễ lạy tu tập, cúng dường Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, do tụng Kinh Dược Sư 49 biến, đốt 49 ngọn đèn, tạo 7 hình tượng Dược Sư Như Lai, trước mỗi tượng để 7 ngọn đèn cho đến 49 ngày ánh sáng cháy mãi. Làm tràng phan 5 sắc, phải phóng sanh các loài chúng sanh, đến ngày thứ 49 thoát khỏi mọi hoạn nạn khổ ách, không bị các hoạnh họa, ác quỉ làm hại.
Y cứ theo Kinh này, đàn tràng cúng rất là đơn giản dễ thực hiện. Nay đổi lại đốt đèn tháp Dược Sư. Đó là y cứ theo Đại Quán đảnh bộ hình thành. Nếu không có đèn tháp, nhưng theo Kinh vẫn đốt đèn cúng được. Lại nếu không có tượng 7 đức Phật bên trên phải treo hình 12 đại tướng Dược Xoa, phan 5 sắc và các thứ trang nghiêm khác. Hoặc tụng Kinh hay lễ sám, một ngày, 3 ngày, 7 ngày cho đến 49 ngày, tùy ý trai chủ. Sau đó đọc sớ hồi hướng như sau:
Mong vì, mặt trời trí tuệ tròn sáng soi khắp 10 phương thế giới; đèn trí sáng ngời phá tan u tối của địa ngục theo 12 lời nguyện, vượt biển khổ ba kỳ (ba đời).
Tiếp theo: đình làng…ngày…tháng…năm.. cầu việc gì…
Cung kính: Mười hai nguyện thệ độ hết trầm luân, 49 ngọn đèn soi rọi ánh sáng tới khắp chốn u minh, 7 từng thấu tận tới thiên cung, ba đức gội nhuần khắp mọi cõi. Mạng sống lâu đến vô cùng, đức rộng sâu khó so lường.
Nay ngày… tháng… năm… cung tựu tới (tên) chùa…
Lại nguyền: vô minh phá sạch, tánh giác hiển bày, thường chiêm ngưỡng Kim dung (Phật) như trăng rằm, luôn thấy xe ngọc cõi trời rợp bóng từ khắp chốn, tai nạn hoàn toàn tiêu dứt. Nguyện giáo pháp lưu truyền mãi mãi bền lâu. Cung thỉnh Tam Bảo chứng minh xét soi chứng sớ.
Ngày…tháng…năm… đệ tử…chí thành dâng sớ.
Đọc xong, đốt sớ. Tiếp theo tụng: Đốt đèn công đức hạnh nhiệm màu…
Ngoài ra, cũng có thể đốt đèn cúng vong linh người quá cố, có ghi đầy đủ như trong Kinh Bổn.
Chứng nghĩa ghi rằng: có thể cúng đọc danh hiệu 7 đức Phật, y cứ theo Kinh Dược Sư 7 đức Phật đó là:
1- Thiện Minh Xưng Kiết Tường Vương Phật,
2- Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quan Âm Tự Tại Vương Phật,
3- Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Phật,
4- Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường Phật,
5- Pháp Hải Lôi Âm Phật,
6- Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Phật,
7- Dược Sư Lưu Ly Quang Phật.
12 tràng phan tên 12 vị thần Dược Xoa như sau:
1- Đại tướng Cung Tỳ La – Kim Long Thân Thủ Oai Quang Đồng Vương
2- Phạt Chiết La Đại tướng - Chấp Kim Cang xử đồng nhan trường thọ 
3- Mê Sý La Đại tướng – Yêu Thúc Kim đới đa chủng phước thiện
4- An Để La Đại tướng – Trú Trì 10 đại danh sơn
5- Át Nể La Đại tướng – Thân như cõi tịnh châu hương quang nghiêm
6- San Để La Đại tướng - Thủ quang hoa mấn hiện hình thạch nữ
7- Nhơn Đạt La Đại tướng – Hay vì thiên chủ hộ trì điền địa
8- Ba Di La Đại tướng – danh hiệu Kình ngư đủ các huyễn thuật
9- Ma Hổ La Đại tướng – hành đồng long mãng chấp nhựt hý nhạc
10- Chân Đạt La Đại tướng - đầu có một sừng, người thấy liền khởi nghi
11- Chiêu Đỗ La Đại tướng – Oai nghiêm như sát thân sáng như nguyệt
12- Tỳ Yết La Đại tướng - rộng tìm thiện nghệ giáo hóa tự bổn.
Lại Kinh bổn ghi rằng, đem thiện căn này nguyện sanh về cõi Tây phương Cực Lạc, của Phật Vô Lượng Thọ, được nghe chánh pháp mà chưa quyết định. Nếu nghe danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thời lúc lâm chung có 8 vị đại Bồ Tát theo hư không hiện đến dẫn đường người đó liền sanh về Cực Lạc quốc; tự nhiên hóa sanh hoặc nhân đây được sanh lên cõi trời, nhẫn đến sanh trở lại làm người nhân gian. Y cứ theo đó, niệm danh hiệu Phật có thể độ thoát vong linh mà tiến bạt vãng sanh.
Đốt đèn cũng có thể độ thoát hương linh mà tiến bạt vãng sanh; không những hiện đời tai họa tiêu, mạng sống kéo dài thôi đâu. Nghi cúng bên trên, xem chương báo bổn ở trước, như nghi thức lễ Khánh Đản Phật Dược Sư. 

1.10 Phổ Phật 
Tiếp đón trai chủ như đã ghi rõ giống tiếp mời chư tăng, liền ra thông cáo là Phổ Phật, đến giờ thỉnh đại hồng chung 3 hồi 3 tiếng hoặc hiệu lệnh thường nhật như mộc bảng, vân bảng hoặc khánh (bảo chúng). Đại chúng vân tập chánh điện, Tri Khách chỉ trai chủ niệm hương, lễ Tam Bảo. 
Duy Na cử tán: Lư hương sạ nhiệt… tụng Kinh Di Đà, đại sám hối hồng danh chư Phật, nhiễu Phật kinh hành niệm Phật 1000 lần, lạy 12 lạy Phật A Di Đà, Quan Âm, Thế Chí, Địa Tạng, hải chúng mỗi vị 3 lần; đọc sớ, tụng Bát Nhã, hồi hướng, phục nguyện, 3 tự quy y. Phần đọc sớ có thể đưa ra trước, sau bài tán lư hương…
Nếu siêu độ hương linh, sau phần niệm Phật, tới trước bàn linh cúng tiến hương linh. Đốt sớ, hồi hướng xong, Thầy Tri Khách hướng dẫn trai chủ lễ tạ chư tăng. 

1.11 Bạch Giữa Chúng  
Phàm tòng lâm có việc công, tại phòng khách gõ 3 hồi 3 tiếng bảng, 2 dãy liêu chúng tề tựu nơi phòng khách, tuân theo quyết định trình vị Trụ Trì rõ, Trụ Trì chấp thuận mới làm; nếu không chấp thuận nên bàn thảo lại. Nếu có người tranh cải, thủ chúng đứng lên dàn xếp. Tri Khách đem xử tội v.v.. Mỗi trường hợp chiếu theo sự tình mà xử phạt nặng hoặc nhẹ. Nếu phạm giới căn bản tội trọng hoặc gây sự, gây họa trầm trọng, bạch Hòa Thượng Phương Trượng đưa ra xử trước chúng hoặc báo với tư pháp,
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/10/2017.

No comments:

Post a Comment