Saturday, July 15, 2017

Trình bày về 30 tục lệ của Chư Phật, theo văn lục bát (kinh thẻ) của Đại Trưởng Lão Tịnh Sự (Mahā Thero Saṅtakicco).
30 Tụ lệ của Chư Phật
TAM THẬP TỤC LỆ CHƯ PHẬT
Trình bày về 30 tục lệ của Chư Phật, theo văn lục bát (kinh thẻ) của Đại Trưởng Lão Tịnh Sự (Mahā Thero Saṅtakicco), như sau :
Một là trong lúc đầu thai
Đều có chánh niệm biết nay giáng trần
Hai là trong bụng mẹ hằng
Day mặt phía trước sắp bằng ngồi yên
Ba là sanh đẻ vẹn nguyên
Bà mẹ phải đứng tự nhiên như thường
Bốn là ranh giới xứ phương
Chào đời nơi chốn biên cương hiện tiền
Năm là bảy bước kệ liền
Bốn câu vang rộng người - tiên phỉ nguyền
Sáu là Ngài gặp bốn điềm
Sanh con rồi mới quyết tìm xuất gia
Bảy là khổ hạnh nêu ra
Ít lắm tuần l đặng mà ngừa sau
Tám là ngài đắc Đạo cao
Dùng bữa cơm sữa trị lao yên thần
Chín là tự nguyện cỏ nhung
Hiện tòa đầy đủ thung dung chỗ hành
Mười là niệm thở đành rành
Ngồi nơi dưới gốc gọi danh bồ đề
Mười một thắng trận gớm ghê
Do ba chục độ hơn bề ma vương
Mười hai minh phát ba phương
Kế Đắc Toàn Giác lối đường Như Lai
Mười ba thành Phật sáng thay
Ở gần bảy chỗ bảy ngày đồng nhau
Mười bốn chán nói pháp cao
Đại Phạm xuống thỉnh nhậm mau độ đời
Mười lăm lộc giả đến nơi
Pháp Luân sơ chuyển lý chơn lần đầu
Mười sáu Thiên Thánh về chầu
Rằm giêng nghe giới ngài liền chúc ngôn
Mười bảy về chùa Kỳ Viên
Mỗi sáng trừ có ở yên hạ nào
Mười tám song thông tại xoài
Gần thành Xá Vệ độ ngoài giáo tông
Mười chín thuyết luân trọn ròng
Bảy bộ, Đao Lợi đáp công mẫu ngài
Hai mươi thang ngọc xuống ngay
Gần thành Săn Cách - từ rày thượng thiên
Hăm mốt mỗi đêm nhập thiền
An vui với hỷ thay phiền thùy Miên
Hăm hai quan sát căn duyên
Canh ba hai bận thấu tiền chúng sanh
Hăm ba chế luật phân minh
Đều do bằng cớ đinh ninh tỏ tường
Hăm bốn nói tích tùy phương
Gặp người duyên khởi phô trương thức lòng
Hăm lăm kể tích Phật Tông
Bà con tựu lại cũng đồng lệ hăng
Hăm sáu chỉ giáo khách tăng
Phương xa mới đến sớm phân giải bày
Hăm bảy chủ thỉnh hạ rày
Chưa đặng từ kiếu thì Ngài chưa đi
Hăm tám Phật sự gắn ghi
Năm việc thường giữ chẳng di một ngày
Hăm chín sắp diệt như vầy
Dùng bữa canh thịt khuya nay Níp Bàn
Ba mươi gần tịch lặng an
Hai triệu bốn ức nhập toàn thiền na.

------
 

30 TỤC LỆ CHƯ PHẬT THEO VĂN XUÔI

1.     Khi đầu thai vẫn có chánh niệm, nghĩa là : Luôn có chánh niệm trong 3 thời kỳ (lúc tái tục, lúc ở trong bào thai và lúc sanh ra khỏi lòng mẹ).
2.     Ở trong bụng mẹ, ngồi xếp bằng day mặt về phía trước, tức là lúc ở trong bào thai, Bồ Tát luôn xoay mặt về phía trước.
3.     Khi sanh, bà mẹ phải đứng, hay Bồ Tát luôn lọt lòng mẹ trong khi bà đang tư thế đứng.
4.     Sanh tại nơi biên giới, hoặc luôn sanh tại nơi biên thùy.
5.     Hai chân xuống đi bảy bước, ngó 4 phía rồi kệ. Tức là lúc sanh ra – hai chân bước xuống đi bảy bước và đọc bài kệ 4 câu :
Khắp trong ba cõi Sa bà.
Chỉ ta quí báu hơn là Nhân Thiên.
Kiếp này đoạn tuyệt căn duyên.
Dứt dòng sinh tử triền miên luân hồi.
6.     Gặp 4 điềm (sanh, lão, bệnh, tử) và có con liền xuất gia, hay là ngay khi gặp 4 hiện tượng động tâm và có con đầu long, Bồ Tát liền đi xuất gia (4 hiện tượng này luôn do chư thiên hóa hiện và người thị vệ của Bồ Tát sở dĩ có thể trả lời rành mạch về 4 hiện tượng đó cũng là nhờ oai lực căn lành của Đức bồ tát kiếp chót đã hành đủ 30 Pháp Pāramī, Pháp Quán mà đặng oai lực hiện bày những cảnh trên (tác động oai lực đó khiến cho chư thiên hổ trợ những cảnh đã trình bày).
7.     Khổ hạnh ít lắm là 7 ngày, nghĩa là tất cả Bồ Tát sau khi xuất gia đều phải trải qua ít nhất một tuần lễ khổ hạnh nhiều nhất là bảy năm.
8.     Ngày sẽ đắc đạo phải độ cơm sửa, tức là bửa cơm cuối cùng trước khi thành đạo là dùng cơm sữa.
9.     Ngồi tòa cỏ nhung do Ngài nguyện hiện, hay là luôn thành Đạo trên ngôi bảo tọa tự hóa ra.
10. Ngồi dưới gốc bồ đề niệm hơi thở, hoặc là bảo tọa luôn nằm dưới tàng một cội cây bảo thọ và đắc Đạo-Quả.
11.  Thắng bọn ma vương do 30 Pháp độ, hay cũng có nghĩa phải qua một lần đối đầu với Ma Vương trước khi chứng Quả Phật.
12. Đắc Tam Minh (Lậu tận minh, Thiên Nhãn minh, Túc mạng minh) rồi mới đắc Toàn Giác, hoặc có chỗ nói đắc Tam Minh rồi mới đắc Nhất Thế Chủng Trí.
13. Đắc rồi, ở bảy chỗ gần đó, mỗi chỗ bảy ngày. Hoặc là sau khi chứng Quả, Chư Phật trải qua 7 tuần lễ Tịnh Cư ở 7 nơi gần đó.
14.  Đắc rồi chán nói Pháp cao, Phạm Thiên thỉnh mời mới nói. Nghĩa là sau khi chứng Quả, Ngài không muốn nói Pháp, phải đợi Phạm Thiên thỉnh.
15.  Đến rừng đạo sĩ, chuyển Pháp luân lần đầu. Đây nói về tục của Chư Phật về thời Pháp đầu tiên gọi là “xoay chuyển” bánh xe Pháp, hay khai triển Pháp Bảo.
16.                        Rằm tháng giêng tụng giới nhóm tứ chúng và di chúc. Nghĩa là lệ của Chư Phật cũng có ít nhất đại hội Thánh Tăng. Đại hội này lúc nào cũng hội đủ các điều kiện sau đây :
-         Tất cả Chư Tăng đều là các vị chứng Lục Thông.
-         Tất cả Chư Tăng đều không mời mà đến.
-         Tất cả các vị đều xuất gia bằng thiện lai Phíc – Khứu (Ehibhikkhu).
-         Ngay ngày trăng tròn tháng Māgha (giêng)
17. Thường về Kỳ Viên Tự trước sáng, trừ kiết hạ nơi khác. Hoặc có thể hiểu Chư Phật luôn có ngôi chùa như là trú xứ chính.
18. Hiện song thông tại cây xoài gần Xá Vệ độ ngoại giáo. Hoặc là ý nói Chư Phật luôn có một lần hóa hiện song thông để thâu phục ngoại giáo, trước khi lên Đạo Lợi Thiên tế độ bà thân sinh.
19. Nói tạng Vô Tỷ Pháp - 7 bộ tại Đạo Lợi độ bà thân sinh đắc Thánh sơ quả. Đây là mục đích mà Chư Phật đền đáp đủ ân đối với bà thân sinh.
20. Từ Đạo Lợi Thiên xuống bằng thang ngọc đến cửa thành Săn Cách. Nghĩa là sau khi thuyết tạng Vô Tỷ Pháp luôn trở về nhân loại bằng thang châu báu.
21. Mỗi đêm đều có nhập thiền định. Nghĩa là hằng đêm Phật đều nhập định (đầu canh 1 : giáo giới, canh 2 :  nhập định, canh 3 : tiếp chư thiên, phạm thiên, canh 4 : quán xét nhân duyên chúng sanh).
22. Mỗi canh chót xem căn lành chúng sanh hai lần. Nghĩa là canh cuối quán xét nhân duyên chúng sanh hữu duyên nên tế độ, bằng cách thẩm xét 2 lần (1. Duyên lành, 2. Cơ tánh chúng sanh).
23.  Chế luật bộ bằng cớ đáng chế. Nghĩa là chỉ chế định giới luật khi có nguyên nhân thích đáng.
24.  Tùy theo duyên khởi nói sự tích. Hay là chỉ thuyết bổn sanh (tiền thân của Đức Phật) khi có cơ hội thích hợp.
25. Nói tích Phật Tông khi bà con tụ. Hoặc là khi thân quyến tụ họp, Phật luôn thuyết về Phật Tông.
26.  Khách tăng ở xa sẳn từ bi chỉ giáo. Nghĩa là luôn có những pháp thoại để nhắc nhở những đệ tử ở xa mới về.
27.  Chủ thỉnh kiết hạ, chưa kiếu chưa đi. Nghĩa là nói khi được thí chủ thỉnh (kiết hạ, cư trú hay thọ thực) chưa từ giã chưa đi.
28. Hằng ngày thường hành ngũ Phật sự. Tức là không bao giờ xao lãng trong 5 phận sự thường nhựt.
Ngũ Phật Sự :
-       Buổi sang, Ngài đi bát (khất thực).
-       Ban chiều, Phật Ngài thuyết Pháp cho cận sự nam, nữ.
-       Buổi tối giáo giới cho chư Phíc – Khú (Bhikkhu).
-       Canh khuya (canh 3), giảng thuyết và trả lời nghi vấn của chư Phạm Thiên.
-       Rạng sáng (canh cuối), Ngài quán xét người hữu duyên nên tế độ.
29.  Ngài, trước lúc Níp Bàn, độ cơm canh thịt. Hoặc là dùng ba cơm thịt (thịt heo rừng) cuối cùng.
30.  Trước Níp bàn, Ngài nhập 2 triệu bốn ức kinh thiền. Nghĩa là trước lúc Níp Bàn phải nhập liên thiền, còn gọi là Níp Bàn liên thiền. Đây là nói nhập sơ thiền – x sơ thiền, nhập nhị thiền – x nhị thiền … cho đến nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền – x Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền. Rồi nhập x lại sơ thiền tiếp tục đến các tầng thiền cao hơn (Các bậc Thánh tứ quả ngoài Đức Phật toàn giác, tùy theo trường hợp đắc nhiều hay đắc ít tầng thiền mà cũng đặng Níp Bàn liên thiền, nhưng riêng Đức Phật thì đặc biệt, Ngài nhập xả liên tục từ thiền thấp tức sơ thiền … đến thiền tột cao Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền, rồi xuất – nhập, lên xuống cho nên mới tính đặng 2 triệu bốn ức kinh thiền).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.16/7/2017.

No comments:

Post a Comment