Cúng Đại Bàng
Cúng Đại Bàng là một nghi thức quan trọng trong lễ cúng Quả Đường mỗi buổi trưa ở các tự viện theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa, đặc biệt là mùa An Cư Kiết Hạ hằng năm. Theo lời thuật lại trong khế kinh, ngày kia Đức Phật đi du hóa gặp một con chim Đại Bàng bắt các loài chim nhỏ ăn thịt. Chim Đại Bàng này có chiều kích rất lớn, mỗi lần há miệng, một hơi hút của nó chiếm một phạm vi nhiều cây số, tất cả các loài chim nhỏ đều bị cuốn hút vào miệng nó. Thấy việc sát sanh quá nhiều nên Đức Phật đã từ bi giáo hóa. Ngài dạy rằng “ tất cả chúng sanh đều ham sống sợ chết, do đó chớ giết và chớ bảo giết”. Chim Đại Bàng tự nghĩ: “thực phẩm hằng ngày của mình là thịt sống của các loài chim, nay Phật không cho ăn, lấy gì để nuôi thân mạng này”. Phật dạy: “từ đây về sau ngươi về chùa nào gần nhất để quý Tăng Ni cho ăn”.
Tương tự như nghi thức cúng cháo Mông Sơn Thí Thực buổi chiều (sẽ được đề cập vào một dịp khác), Nghi thức cúng Đại Bàng buổi trưa được phát xuất từ đó, và hơn hai ngàn năm nay truyền thống này vẫn tiếp tục gìn giữ và duy trì. Có người thắc mắc rằng, sao chỉ cúng bảy (7) hạt cơm, có thể làm no đủ loài đại bàng, và 7 hạt cơm có thể thay thể được thịt sống? Theo như trong bài kệ ghi rằng :
"Pháp lực bất tư nghì
Từ bi vô chướng ngại
Thất liệp biến thập phương
Phổ thí châu sa giới
Án Độ Lợi Ích Tóa Ha"
Nghĩa là:
“Pháp lực khó nghĩ bàn,
Từ bi vô giới hạn
Bảy hạt biến mười phương,
Biến khắp cõi vô biên”.
Các Hòa Thượng cũng dạy rằng do nguyện lực của thần chú của Phật mà bảy hạt cơm kia sẽ biến thành cam lồ pháp nhũ khiến cho loài Đại Bàng ăn no đủ, nhờ lực gia trì của thiện niệm.
Nhớ lại thời gian hành điệu, làm thị giả, cúng Đại Bàng là thời gian hồn nhiên, đẹp đẽ ghi sâu vào tâm khảm tôi; hình ảnh tuổi thơ an bình, hiểu biết ngây ngô tình đạo, tình ân sư, huynh đệ. Tất nhiên nhiều khi vẫn nhớ nhà, nhớ mẹ, nhưng nỗi niềm nào cũng đến và đi thật mau trong lứa tuổi ngây thơ bấy giờ. Nhờ vậy mà tôi không thấy có sự khác biệt cách ly giữa tình ân sư và tình thân huyết nhục. Hôm nay nhớ lại quê nhà, nhớ lại kỹ niệm xưa, ghi lại vài nét hành điệu của những tháng ngày đồng chơn nhập đạo, khiến tôi không khỏi xúc động bồi hồi.
Tôi được Sư Phụ gởi xuống làm thị giả cho Hòa Thượng Trí Nghiêm & HT Thiện Siêu trong các mùa An cư Kiết Hạ từ những năm 81 đến năm 1984 tại Chùa Hải Đức, Nha Trang. Chùa Hải Đức từng là Phật Học Viện Trung Phần, nơi đào tạo các bậc tăng tài cho PGVN do Cố HT Trí Thủ khai sáng, do vậy sau 1975, có nhiều Thầy còn lưu lại nơi này. Lúc ấy tôi nhớ có Ôn Từ Đàm, Ôn Trừng San, Thầy Phước An, Thầy Phước Quảng, Thầy Phước Lượng, Thầy Chánh Lạc, Thầy Huệ An, Thầy Trí Viên, Thầy Thiện Vinh, Thầy Minh Châu, Thầy Minh Thông, Thầy Chơn Trí, Thầy Thiện Tu, Thầy Nguyên Quang… về Sa di thì có Chú Phượng, chú Pháp Đăng.. về phía Chùa Long Sơn thì có Ôn Trí Nghiêm (Hoàng Trúc Am trên đồi Trại Thủy trong khuôn viên chùa Long Sơn), Ôn Đỗng Minh, Ôn Chí Tín, Ôn Thiện Bình, Thầy Thanh Hương, Thầy Đức Bổn, Thầy Chí Nguyện… và các chùa lân cận có quý Thầy về tùng hạ tại Hải Đức trong các mùa hạ ấy có Thầy Thiện Hữu , chú Lâm từ Chùa Phước Điền, Thầy Chí Viên, chú Hải từ Chùa Núi (Linh Phong), Thầy Đức Thành từ chùa Hương Sơn (ngoài Đồng Đế) và sư phụ tôi là Thầy Tâm Trí (Chùa An Dưỡng, Vĩnh Thái)… cảnh trí nơi núi đồi Hải Đức này thật hùng vĩ, cây cối rợp bóng xanh tươi, nhất là con đường đất từ Chùa Long Sơn dẫn đến Chùa Hải Đức luôn phủ một màu đỏ của hoa phượng vĩ giữa mùa hè.
Năm đầu tiên tôi được dạy đến trình diện Ôn Trừng San, Trụ Trì Chùa Hải Đức, Ôn là một bậc danh tăng giới đức của PG Khánh Hòa; Ôn có người em ruột cũng xuất gia tu hành và đang làm trú trì Chùa Nghĩa Trũng ở Diên Khánh, Khánh Hòa. Ôn Trừng San tướng người cao lớn và đẹp đẽ, Ôn giỏi về nghi lễ, mặc dù là người Khánh Hòa nhưng lại nổi tiếng trong khoa nghi chẩn tế theo truyền thống Huế. Ôn bảo tôi hô Đại Bàng nghe thử, tôi liền bắt ấn cam lồ đưa lên trán và bắt đầu hô:
Minh hoạ của T. Phổ Huân |
Đại Bàng Kim Sí Điểu
Khoáng Dã Quỹ Thần Chúng La Sát Quỹ Tử Mẫu Án Mục Đế Tóa Ha ( 7 lần).
Dịch nghĩa:
“Chim Đại Bàng cánh vàng Chúng quỷ thần dã hoang Cùng mẹ con La sát Hương cam lồ sung mãn”. |
Ôn nghe xong lắc đầu vì tôi hô tệ quá. Sau đó Ôn chỉ dạy luyện giọng cho tôi, cuối 3 câu đầu phải lên giọng, cuối câu thứ 4 phải xuống giọng, câu thần chú phải hô đúng 7 lần và phải ngắt ra làm 3 lần, 2 lần đầu mỗi lần 3 biến, và lần ba 1 biến, kéo dài ra và xuống giọng. Khi thử hô vài lần, Ôn Trừng San hoan hỷ gật đầu và thế là tôi trở thành thị giả tống thực trong suốt bốn năm sau đó tại Chùa Hải Đức. Cứ mỗi trưa, tôi giữ trách nhiệm lo chén súc sanh, đánh khánh, cúng đại bàng và làm thị giả cho hai Ôn Trí Nghiêm và Ôn Từ Đàm (HT Thiện Siêu). Thỉnh thoảng tôi được đi làm thị giả cho Ôn Trí Nghiêm ở Ni Viện Diệu Quang, Chùa Kim Quang hoặc Chùa Tỉnh Hội Long Sơn để hô đại bàng, rồi tôi cũng có dịp hầu quả đường và hô đại bàng khi Ôn Hưng Từ (từ Phan Thiết) ra cúng ở Nha Trang.
Thông thường, công việc làm thị giả và hô đại bàng của các chú tiểu hoặc các vị mới xuất gia. Từ ngày xuất gia đến giờ tôi được nghe rất nhiều chú tiểu hô đại bàng, có người hô rất hay, nhưng có người hô nghe không được, cũng có người chế biến cách hô nghe rất lạ (có người hô 4 câu đầu đến 3 lần). Từ ngày ra hải ngoại đến nay, tôi cũng được nghe nhiều vị mới xuất gia hô đại bàng, nhưng vào năm ngoái, trong khóa An Cư tại Tu Viện Quảng Đức, chú Hạnh Đức (đệ tử của Thượng Tọa Như Điển) hô đại bàng rất hay, đúng giọng điệu và rõ ràng.
Trên đây là một chi tiết rất nhỏ trong sinh hoạt thiền môn, nhưng nếu tinh tế để ý quán xét, chúng ta thấy bậc giáo chủ của Đạo Phật dùng nhiều phương tiện độ sanh ngoài sức nghĩ bàn của phàm tình thế nhân. Lòng từ bi của đức Phật tỏa rộng khắp vạn loại sanh linh, kể cả trời mây, non nước, cỏ cây, hoa lá….truyền đạt cho hàng đệ tử xuất gia hành trì, do vậy là đệ tử của Đức Như Lai không thể không thực hiện được hạnh từ bi, lợi tha của bậc đại giác Thế Tôn.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.29/4/2015.
No comments:
Post a Comment