Các vị Tổ sư vốn không cần chúng ta xưng tán các Ngài, xưng tán cũng được mà không xưng tán cũng được. Xưng tán ư? Các Ngài chẳng được thêm gì, mà phỉ báng thì các Ngài cũng chẳng mất gì, nghĩa là chẳng tăng, chẳng giảm. Có điều, về phía chúng ta, hàng hậu bối, trước những tấm gương đạo đức cũng như về học vấn và trí huệ của các Ngài, chúng ta không khỏi thấy cảm khái trong lòng, phải làm ra mấy câu để tán thán. Ngay khi đến nước Mỹ, tôi đã bắt tay vào việc soạn các bài kệ cho Tâm Kinh, cứ sau một vài câu hay sau mỗi đoạn, tôi làm 8 câu kệ tụng để tán thán. Về sau, đối với các vị Tổ sư, tôi cũng chỉ làm 8 câu cho mỗi vị. Điều này vốn chẳng cần thiết, nhưng với đạo đức, sự học hỏi và trí huệ của các Tổ sư thì một câu chẳng nói lên hết lòng kính ngưỡng, do đó tâm ý không dừng lại được, và, chẳng quản sự ngu muội của mình, đành phải soạn thành các bài kệ tán. Tôi không gọi đó là những bài thơ, bởi thơ thì phải có âm điệu bằng trắc, phải tuân theo quy củ của luật thơ. Còn đây là kệ tụng, nói cách nào cũng được. Kệ tụng ngày hôm nay là như sau đây…
Mẫu mộng thần kiếm sản kỳ nam: Bà thân sinh tôn giả Bà-Xá-Tư-Đa nằm mộng thấy một cây kiếm thần, nhân đó mà mang thai, rồi sau sanh ra một đứa bé trai kỳ lạ. Điều kỳ lạ ở chỗ nào vậy?
Tả quyền khẩn ác Tổ ý huyền: Khi sanh ra, bàn tay trái đứa bé nắm chặt, đến nỗi không ai có thể mở được nắm tay đó ra. Sự thể này có nguyên do, chính là vì đứa bé vốn đã có sự ước hẹn với Tổ Sư Tử. Tổ ý huyền nghĩa là đã có sự giao ước ngầm từ trước của Tổ. Nếu chẳng phải vậy thì vì cớ gì khi vừa gặp tôn giả, Tổ Sư Tử đã đòi hạt châu? Nếu như hạt châu đó chẳng phải là của Tổ thì vì lẽ gì Tổ lại đòi về? Nếu chẳng có sự giao hẹn giữa hai bên từ năm xưa thì tại sao tôn giả lại xòe bàn tay ngay tức khắc để dâng hạt châu cho Tổ? Chẳng qua đây là một màn diễn xuất mà hai bên, Tổ Sư Tử và tôn giả đã ước định với nhau từ trước, tạo nên cơ hội để cha tôn giả cho con xuất gia theo hầu Tổ, chỉ có kẻ ngoại cuộc là không biết mà thôi! Quý vị có nghĩ như vậy chăng?
Hoàn ngã châu lai Phật tiếp dẫn: Tổ Sư tử vừa đưa tay ra nói câu “ngươi trả lại hạt châu cho ta đi!” thì tức thời cậu trai trẻ mở ngay bàn tay ra rồi dâng hạt châu lên cho Tổ. Đủ hiểu chuyện này bên trong vốn đã có tiền duyên hậu quả của nó rồi, tựa hồ đã có bàn tay Phật dẫn dắt vậy!
Kim nhữ cấp khứ hà đạo truyền: Nay ngươi hãy mau mau hoằng dương Phật pháp! Cấp khứ là ý nói phải xuất gia ngay đi, để có thể đi truyền bá pháp Phật, gánh vác cơ nghiệp của Như Lai, pháp môn truyền tâm ấn của Phật.
Dự ngôn pháp nạn tu thừa thọ: Tổ còn nói trước về pháp nạn sẽ sẩy đến, do quốc vương gây ra và dặn dò tôn giả nhận lãnh kinh nghiệm đó.
Hỏa thiêu tín y mạc đạn phiền: Đốt tín y, chớ sợ hãi! Không có lý do gì để sợ cả, bởi khi ấy sẽ có cảm ứng. Trong tương lai, vì tin theo ngoại đạo, nhà vua sẽ gây khó khăn cho Phật giáo. Gặp hoàn cảnh đó, khi đưa y bát làm tin ra cho coi, nhà vua sẽ sai người lấy lửa thiêu tấm y, nhưng lửa đốt mà y vẫn không bị cháy, khiến cho vua phải sám hối, rồi vì đó mà có tín tâm đối với Phật giáo. Mạc đạn phiền nghĩa là chớ sợ hãi (đạn) mà sanh lòng phiền não (phiền).
Tỷ dụ nếu ta gặp phải hoàn cảnh ‘Ôi! Ta phải làm sao đây?’ thì ta không vì vậy mà sinh lo buồn, bởi người tu hành là cần dẹp bỏ tình thức. Đối với mọi người, ta không dùng tình cảm để mua chuộc ai, trong quan hệ bạn bè thì không có tư tâm, luôn luôn giữ sự thực thà và không có một tình cảm nào khác ngoài sự chân thành; phải kiên quyết đối xử với mọi người như đối xử với chính mình vậy.
Trong lòng ta không nên có ý nghĩ, chẳng hạn như : ‘A! Có người hại mình!’, bởi vì nếu ta không hại người thì người đâu có hại ta. Thản hoặc có người hại ta mặc dù ta không làm điều gì phương hại đến ai, điều này có nghĩa là do nghiệp tội trước đây của ta đã gây ra, nay đem lại hậu quả, nhưng chẳng vì vậy mà ta oán trời trách người, ta không nên oán ai hết, chuyện gì xảy đến ta sẽ nhận lãnh.
Dùng tình thức trong việc cư xử là không đúng! Tình tức là cảm tình, thức là thức tâm. Phàm người tu đạo, không loại trừ ai, không thể lấy cảm tình, cũng không thể lấy thức tâm mà tu tập, chỉ có lấy chân tâm mà tu thôi, nghĩa là lấy cái tâm không tranh, không tham, không cầu, không tự tư, không tự lợi, không nói dối, nếu như tu được những cái tâm đó trong mọi hoàn cảnh thì tự nhiên sẽ có sự cảm ứng.
Tuy nhiên, chúng ta lại phải gạt ra ngoài ý niệm muốn có sự cảm ứng. Tu được một hai ngày, không thấy có gì khác lạ, đã vội thối chí : “Ủa! Sao chẳng thấy công hiệu gì? Sao công phu của ta chẳng có chút thành tựu nào vậy?” Quý vị không nên nghĩ có sự thành tựu chóng vánh. Không nên gấp rút, bởi “dục tốc tắc bất đạt”, gấp rút thì không thể thành công. Chỉ nhằm vào cái lợi nhỏ thì việc lớn tất chẳng xong, tóm lại không nên tham điều lợi nhỏ.
Bởi vậy, đối với người xuất gia tại Vạn Phật Thành chúng ta thì lề lối tu học là :
Dưỡng thành đại chuyết phương vi xảo
Học đáo như ngu thủy kiến kỳ [3]
Học khờ dại, học ngu si, học không tính toán, cam chịu thiệt thòi, học trong sự nhẫn nhục, không tranh lấy tiện nghi, học như vậy đó! Không bao giờ dùng mánh lới hay sự lanh lợi của mình để dối người hay để mua chuộc tình cảm của ai. Bởi vậy, những người xuất gia như chúng ta ở đây đều là khờ dại cả; càng khờ dại càng tốt, càng ngu si càng hay. Tại sao vậy? Bởi quý vị đương tu học theo sư phụ của quý vị, mà vị sư phụ đó thì quá khờ dại, khờ dại đến cực điểm! Những gì quý vị học được đều là các pháp khờ dại hết. Mặc dầu hiện nay, nhân loại đã đi vào thời đại không gian, nhưng chúng ta thì vẫn cứ cần cù dụng công, chẳng hề dùng tới các phương pháp khoa học.
Quý vị không thể dùng phương pháp khoa học để áp dụng vào việc tu hành của quý vị được! Quý vị phải tận dụng thời gian của mình, đem hết chân tâm ra tu tập, với một tinh thần không sợ khổ, không sợ khó, không sợ nghèo hèn! Phải thực sự đi ngược lại trào lưu của thế gian! Những gì mà thế gian ưa thích thì chúng ta không ưa thích, thế gian ham thì chúng ta không ham, thế gian mong cầu thì chúng ta không mong cầu. Chúng ta tới đây chẳng phải là để kiếm cái danh, kiếm cái lợi, chẳng phải kiếm cơ hội để xuất đầu lộ diện, những thứ đó đều phải bỏ lại hết!
Chúng ta phải vùi đầu, chịu khổ cực, lặng lẽ mà dụng công. Chúng ta không thể nói chẳng hạn như: ”Ta hãy ra ngoài đời, mang công phu tu này ra bán, kiếm chút tiền chơi!” Không thể có vấn đề mua bán trong việc tu hành được! Không thể bắt chước cái gương của người nào đó, không chịu học cho thuộc cái chữ “không” của người tu. Tên y là Hằng Không mà thực tế lại là “Hằng Bất Không”. Còn tên là Quả Hàng thì kỳ thực là “Quả Bất Hàng” mới đúng.Tuy nhiên, tôi nói chuyện đó là nói ở đây với quý vị. Còn như đối với y, tôi còn bảo y là phải mau mau trở về đi! Chúng ta phải che chở cho y, vì tuy y có điều lầm lỗi, nhưng trong thời buổi này, kiếm được một người như vậy không phải là chuyện dễ. Điều thứ nhất, nói về vấn đề tiền bạc, y quả có giữ giới. Bao lâu nay, đi ra ngoài, y không bị mê mờ vì đồng tiền. Tuy rằng y mắc tật kiêu ngạo, song tôi hy vọng dần dà sẽ có sự sửa đổi, mong rằng Phật và chư vị bồ tát gia hộ khiến cho y tự mình thấy hổ thẹn. Các quý vị, mọi người trong chúng ta hãy giúp đỡ y, không nên vì đó mà tỏ ý khinh khi
Bách thiên tam muội thường du hý: Kể số tam-muội thì nhiều, tính ra tới trăm ngàn loại, tuy nhiên, nếu đã chứng được một tam muội thì hết tất cả các tam-muội đều thông; một thông, tất cả đều thông. Thường du hý là ý nói rằng sự biến hóa của tam-muội diễn ra dễ dàng như trò chơi vậy!
Xá lợi doanh xích khế chân nguyên: Tôn giả Bà-Xá-Tư-Đa để lại rất nhiều xá-lợi. Điều này dễ hiểu vì ngài chẳng phải là người bình thường mà là một nhân vật siêu quần, rất là đặc biệt. Ngài biến hóa ra lửa để tự thiêu và xá-lợi thâu được xếp lên cao tới cả thước. Trên quan điểm Phật giáo, nếu tu hành mà dụng công thực sự thì công phu đó không hề uổng phí. Dĩ nhiên, ở đây chúng ta không kể tới các trường hợp nói khoác lác, nói phóng đại, tới khi kiểm điểm lại thì chẳng có gì gọi là thực chứng. Trong việc tu hành thường ngày, chúng ta không nên dối trá, mà phải thực tâm tu tập cần cù, không màng tới kết quả, thành tựu tới đâu cũng không quan tâm. Khi thời khắc đến, thấy có kết quả thì càng hay, nếu chưa thấy gì thì lại tiếp tục ráng sức, chỉ biết tu, qua đời này kiếp khác, lấy sự hoằng dương Phật pháp làm trách nhiệm của mình.
Đã nhiều ngày qua tôi chưa có dịp hỏi xem trong đầu óc quý vị có nổi lên vọng tưởng gì không? Nay tôi hỏi thử xem ai có ý nghĩ gì? Lúc tôi giảng đến chỗ cậu trai trẻ đưa tay ra dâng hạt châu lên tôn giả, có thể có người nổi lên vọng tưởng đại khái như sau: “Hạt châu đó bây giờ ở đâu rồi?” Cũng có người khác lại nghĩ rằng vì lý do gì tấm y bị lửa đốt mà không bị cháy? Tấm y đó hiện tại ở đâu? Có vị nào có những vọng tưởng như vậy chăng?
Kỳ thực câu chuyện không có gì là kỳ lạ. Hạt châu đó vốn là của Sư Tử Tỳ Kheo giao cho tôn giả Bà Xá Tư Đa năm xưa, bởi vậyTỳ Kheo mới nói câu : “Ngươi trả lại cho ta!” Nếu không phải vậy thì trả lại cái gì? Chẳng phải là nghĩa đó hay sao? Hạt châu của Tỳ kheo cũng tựa như một cây kiếm, có thể biến hóa tùy tiện.
Thật ra dù quý vị có những vọng tưởng gì, tôi cũng không quan tâm, hôm nay tôi chỉ có một điều mong quý vị ghi nhớ là chúng ta không nên lấy tình thức để dụng công, không lấy tình thức để học Phật pháp. Chúng ta phải thực thà lấy chân tâm mà học Phật! HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.13/4/2015.
No comments:
Post a Comment