LUẬT NGHI TỲ-KHEO VÀ LUẬT NGHI TỲ-KHEO-NI
I. Khởi nguyên và phân phái của giới luật.
Giới luật là một trong ba tạng_ luật tạng. Luật có hiển mật, Đại Tiểu bất đồng. Nhưng chủ yếu nhất trong luật là luật tỳ-kheo. Tỳ-kheo ở đầu bảy chúng, vốn đã trọng yếu, nhưng so với giới Bồ-tát, giới Tam-muội-da, cũng riêng có sự đặc sắc, và không mất tính trọng yếu của nó. Vì sao giới tỳ-kheo hội đủ sự trọng yếu cao quý như thế? Vì giới tỳ-kheo là giềng mối của Phật pháp, nhờ giới này mà nhiếp Tăng, nhờ Tăng mà Phật pháp ở đời lâu dài về sau. Từ trên phương diện lìa tục xuất trần, lấy Phật pháp làm nhiệm vụ mà nói, thì không có điều gì trọng yếu hơn đây. Cho nên nói: “Trong tất cả các luật, giới kinh là trên hết”. Và trong ba tạng, luật tạng lại là căn bản của việc tự lợi lợi tha, Vì vậy luật Căn bản nói: “Đức Phật thuyết giáo tam tạng, tỳ-nại-da đứng đầu.” Quan hệ với ý nghĩa này, luật Tứ phần quyển 1 có đoạn văn nói rất rõ ràng “Tôn giả Xá-lợi-phất bạch đức Thế Tôn rằng: Vừa rồi, con ngồi chỗ vắng, tâm suy niệm: Sự tu phạm hành ở nơi những đức Phật nào mà Phật pháp trụ lâu? Sự tu phạm hành ở nơi những đức Phật nào mà Phật pháp không trụ lâu? Cúi xin Thế Tôn chỉ dạy cho con.” Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lơi-phất rằng sự tu phạm nơi các đức Phật Tỳ-bà-thi, Phật Thi-khí, Phật Câu-lưu-tôn, Phật Tùy-diếp, pháp được trụ lâu; pháp của Phật Ca-diếp và Phật Câu-na-hàm-mâu-ni không được trụ lâu.” Đức Phật lại bảo rằng: “Phật Câu-na-hàm-mâu-ni, Phật Ca-diếp không nói rộng khế kinh cho các đệ tử, cho đến kinh luận nghị, không kết giới cũng không thuyết giới, nên các đệ tử mỏi mệt chán nãn, do đó pháp không trụ lâu... Lúc chư Phật đó và các Thanh văn còn tại thế, thì Phật pháp được lưu bố rộng. Sau khi chư Phật đó và các Thanh văn diệt độ, thì người ở thế gian có nhiều tên, có nhiều họ, có nhiều nhà xuất gia, cho nên diệt mau, Phật pháp không trụ lâu. Vì sao? Vì không dùng kinh pháp để thu nhiếp. Ví như nhiều loại hoa để trên bàn rãi rác, khi gió thổi đến thì bay tan tác. Vì sao? Vì không xâu kết chung lại.” “Các vị Phật Tỳ-bà-thi, Thi-khí, Câu-lưu-tôn, Tùy-diếp nói rộng kinh pháp cho các đệ tử, từ khế kinh cho đến kinh luận nghị, cũng kết giới, cũng thuyết giới, khi tâm của các đệ tử mệt mỏi chán nãn, bấy giờ chư Phật biết tâm của họ mệt mỏi chán nãn, mà dạy như sau: Điều này nên nhớ nghĩ, điều này không nên nhớ nghĩ, điều này nên tư duy, điều này không nên tư duy, điều này nên đoạn, điều này nên thành tựu và an trú. Lúc chư Phật đó và các Thanh văn ở đời, thì Phật pháp được lưu bố. Sau khi chư Phật đó và các Thanh văn diệt độ, thì những người thế gian có nhiều tên, có nhiều họ, có nhiều nhà xuất gia, không làm cho Phật pháp diệt mau. Vì sao? Vì kinh pháp khéo thu nhiếp vậy. Ví như các loại hoa để trên bàn, được xâu lại bằng sợi dây, tuy bị gió thổi mà không phân tán. Tại sao? Vì được xâu kết lại bằng sợi dây.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe nhân duyên pháp trụ lâu và không trụ lâu của chư Phật quá khứ, cho nên bạch Phật rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Nay chính là lúc, cúi xin Đức Đại Thánh kết giới thuyết giới cho chư tỳ-kheo, làm cho giáo pháp chuyên tu phạm hạnh được ở đời lâu dài.” Đức Phật cho rằng thời gian nhân duyên kết giới thuyết giới chưa đến, cho nên nói: “Thôi đi! Phật tự biết thời...Nếu tỳ-kheo có danh vọng cho đến có nhiều của cải sự nghiệp, thì phát sinh pháp hữu lậu. Nếu pháp hữu lậu sinh, sau đó Thế Tôn sẽ kết giới cho các tỳ-kheo, vì muốn cho họ dứt trừ pháp hữu lậu.” Do đây có thể biết: Bổn ý của đức Phật chế giới là làm cho chánh pháp trụ lâu, nhưng động lực làm cho chánh pháp trụ lâu là ở Tăng đoàn, mà phần tử hợp thành Tăng đoàn, nếu không kiện toàn cũng không đủ để Phật pháp trụ trì và sách tấn chúng Tăng. Phương pháp kiện toàn Tăng đoàn, tức là giới luật. Sau khi đức Phật thành đạo, cho đến trong vòng mười hai năm, người theo Phật xuất gia đều lợi căn thượng trí, hoặc nghe pháp thấy được chân lý, hoặc chứng ngay vô sanh, đều tự nhiên ở trong luật, không có pháp hữu lậu (tức việc phạm giới) phát sinh, nên đức Phật chưa chế giới, chỉ nói kinh Giáo giới tóm lược cho Tăng vô sự :
“Khéo giữ gìn lời nói,
Tự tịnh ý chí mình,
Thân không làm điều ác,
Ba nghiệp này thanh tịnh,
Làm được hạnh như thế,
Là đạo bậc Đại tiên.”
Sau mười hai năm người xuất gia ngày càng thêm nhiều, căn tính bất đồng, không khỏi Thánh phàm lẫn lộn, rồng rắn hỗn tạp, do đó đức Phật liền căn cứ vào các việc vi phạm, kết giới theo từng điều, đó gọi là Quảng luật của tỳ-kheo. Đến như nghĩa căn bản của đức Phật chế giới, ngoài “việc đoạn trừ pháp hữu lậu kia” ra, đức Phật lại nói có mười cú nghĩa ở phần đầu kết giới: “(1). Nhiếp thủ chúng Tăng; (2). Khiến Tăng hoan hỷ; (3). Khiến Tăng an lạc; (4). Khiến người chưa tin sinh lòng tin; (5). Người đã tin khiến tăng trưởng; (6). Người khó điều phục khiến được điều thuận; (7). Người biết hỗ thẹn được an lạc; (8). Dứt hữu lậu hiện tại; (9). Dứt hữu lậu vị lai; (10). Chánh pháp được trụ lâu.” Mười cú nghĩa này là ý thú căn bản của đức Phật chế giới, cũng là lợi ích phải có của người xuất gia thọ giới trì giới. Nhờ tuân hành giới pháp, nên có thể đoạn trừ hữu lậu hiện tại và vị lai của chính mình, có thể dựa vào đây bảo vệ được người có hỗ có thẹn, có thể chế ngự trị phạt hay trừ đuổi người khó điều phục. Tăng đoàn nhân đây mà được thanh tịnh kiện toàn, tự nhiên có thể làm cho người đời không tín ngưỡng Phật pháp sanh khởi lòng tin, người đã tín ngưỡng Phật pháp, làm cho tín tâm của họ tăng trưởng kiên cố bội phần. Tăng đoàn thanh tịnh tín chúng thêm nhiều, sự giáo hóa và chánh pháp của đức Phật tức có thể châu lưu phổ biến, và đạt thành mục đích làm cho chánh pháp trụ lâu. Do đây mà xem, sự trọng yếu của giới luật có quan hệ với sự tu trì của cá nhân, sự hòa vui của Tăng đoàn, sự giáo hóa người đời, sự hưng suy của chánh pháp, cho nên nói: “Tỳ-ni tạng là thọ mạng của Phật pháp, tỳ-ni tạng trụ, thì Phật pháp trụ lâu.” Và đức Phật dạy các đệ tử: “Phật tử xa Ta vài ngàn dặm mà nhớ đến giới của Ta, thì chắc chắn chứng được đạo quả. Còn ở bên Ta, tuy thường thấy Ta mà không thuận theo giới của Ta, thì cuối cùng không được đạo!” (kinh 42 chương). Lúc đức Phật sắp bát-niết-bàn lại răn dạy các đệ tử: “Các thầy tỳ-kheo, sau khi Ta diệt độ, nên tôn trọng kính quý ba-la-đề-mộc-xoa, như mù tối mà được sáng, như người nghèo mà được của báu, phải biết tịnh giới là Đức thầy cao cả của các thầy, nếu Ta ở đời thì cũng không khác vậy.” (lời kinh Phật di giáo) Lời dạy của đức Phật chân thành và tha thiết làm sao! Sau khi đức Phật diệt độ, Tôn giả Đại Ca-diếp nói với các vị tỳ-kheo: “Cúng dường xá lợi của đức Thế Tôn, chẳng phải là việc của chúng ta. Các vị quốc vương, trưởng giả, cư sĩ Bà-la-môn, là những người cầu phước, tự mình nên cúng dường; còn công việc của chúng ta, trước nên kết tập pháp tạng, chớ để Phật pháp diệt mau.” Cho nên ngay mùa hạ, tập hợp 500 vị A-la-hán kết tập pháp tạng ở hang Thất Diệp, phía bắc thành Vương Xá. Trước do Tôn giả Ưu-ba-ly tụng ra tỳ-nại-da, kế do Tôn giả A-nan tụng ra tu-đa-la. Tôn giả Ưu-ba-ly tám mươi lần ngồi tụng ra tỳ-nại-da tạng, nên người đời gọi là luật Bát thập tụng, là nguyên bản của các bộ giới luật về sau. Cho đến sau Phật diệt độ hơn 100 năm thì bộ phái phân chia, mới có các bộ giới pháp bất đồng. Nhưng sự phân chia bộ phái đầu tiên cũng bắt nguồn ở kiến giải khác nhau về luật pháp, như cuộc kết tập lần thứ hai (bảy trăm), thời vua A-dục, tức là do mười sự phi pháp của các tỳ-kheo họ Bạt-kỳ ở Tỳ-xá-ly mà phát sinh. Và cuộc kết tập lần thứ nhất (năm trăm) do Tôn giả Đại Ca-diếp lãnh đạo, xem như hòa hợp một vị, nhưng trong ấy hoàn toàn không phải không có ý kiến khác nhau chút ít. Trong luật ghi rằng Tôn giả Phú-lâu-na sau khi kết tập ở trong hang, đến thành Vương Xá, từng đề xuất tám việc như thức ăn để qua một đêm cho tỳ-kheo, thức ăn nấu trong phòng Tăng... Tôn giả Phú-lâu-na bảo chế mà lại khai, Tôn giả Đại Ca-diếp bảo khai mà lại chế, kết quả mỗi vị thực hành theo ý kiến của mình. Lúc đang kết tập pháp tạng, Tôn giả A-nan từng đề xuất lời Phật dạy: “Đại chúng nếu muốn bỏ những giới nhỏ nhặt, thì có thể tùy ý bỏ.” Nhưng những giới nhỏ nhặt đó là gì, Tôn giả A-nan đã không dâng lời thỉnh thị lên đức Thế Tôn, ý kiến mọi người lại không nhất trí: Có người nói những giới nhỏ nhặt là chúng học pháp, có người nói đến bốn hối quá pháp, có người nói đến chín mươi đơn đọa, có người nói đến ba mươi xả đọa, thậm chí mươi ba tăng tàn. Do ý kiến của chúng phân vân, Tôn giả Ca-diếp mới tuyên bố trước chúng: “Những điều đức Phật chưa chế nay không chế riêng; những điều đức Phật đã chế không thể sửa đổi một chút.” Do đây có thể thấy, đối với việc nhận thức pháp bất đồng về giới luật, từ lúc cuộc kết tập 500 vị A-la-hán đã mở ra đầu mối rồi. Chẳng qua vì đức Phật mới diệt độ, ý kiến khác nhau không sâu, nên chưa phân phái mà thôi. Sau Phật diệt độ 100 năm, Phật pháp một vị chia làm hai bộ, kế đến năm bộ, hai mươi bộ, thậm chí năm trăm bộ. Trong đó gốc ngọn, cho đến dấu vết ảnh hưởng lẫn nhau, khó mà trình bày tỉ mỉ được. Nhưng giới kinh của các bộ tụng, điều đáng nói là, Trung Quốc thịnh truyền thuyết của năm bộ, và tên của năm bộ, truyền thuyết hơi khác nhau. Như trong phẩm Hư không mục phân sơ Thanh văn, quyển 22, kinh Đại tập, nói có năm bộ, mà liệt kê có tên sáu bộ:
1. Bộ Đàm-ma-cúc-đa: Kinh nói: “Sau khi Ta niết-bàn, có các đệ tử thọ trì mười hai bộ kinh của Như lai, biên chép đọc tụng, giải nghĩa điên đảo, vì giải nói đảo lộn, nên pháp tạng bị che lấp. Vì pháp bị che nên gọi là Đàm-ma-cúc-đa.”
2. Bộ Tát-bà-đế-bà: Kinh nói: “Sau khi Ta niết-bàn, các đệ tử thọ trì mười hai bộ kinh của Như lai, đọc tụng biên chép, mà lại đọc tụng biên chép tuyên thuyết ngoại điển, nhận có ba đời kể cả trong ngoài, phá hoại ngoại đạo, khéo giải luận nghĩa, nói tất cả chủng tánh đều được thọ giới, phàm bị vấn nạn đều có thể đối đáp, cho nên gọi là bộ Tát-bà-đế-bà.”
3. Bộ Ca-diếp-tỳ: Kinh nói: “Sau khi Ta niết-bàn, các đệ tử của Ta thọ trì mười hai bộ kinh của Như lai, biên chép đọc tụng, nói không có ngã , không có người thọ báo, chuyển các phiền não giống như xác chết, cho nên gọi là bộ Ca-diếp-tỳ.”
4. Bộ Di-sa-tắc: Kinh nói: “Sau khi Ta niết-bàn, các đệ tử của Ta thọ trì mười hai bộ kinh của Như lai, đọc tụng biên chép, không làm ra tướng đất, tướng nước gió lửa, tướng hư không và thức, cho nên gọi là bộ Di-sa-tắc.”
5. Bộ Bà-sa-phú-la: Kinh nói: “Sau khi Ta niết-bàn, các đệ tử của Ta thọ trì mười hai bộ kinh của Như lai, đọc tụng biên chép đều nói có ngã, không nói tướng không, giống như trẻ con, cho nên gọi là Bà-sa-phú-la.”
6. Bộ Ma-ha Tăng-kỳ: Kinh nói: “Sau khi Ta niết-bàn, các đệ tử của Ta thọ trì mười hai bộ kinh của Như lai, đọc tụng biên chép, xem rộng khắp năm bộ kinh sách, cho nên gọi là Ma-ha tăng-kỳ.”
Có thuyết bảo lấy Ma-ha tăng-kỳ làm gốc, năm bộ kia thì dựa vào mối liên hệ với bộ này, thu nhiếp cái đồng với ý kiến của mình hợp lại một bộ mà thành, nên phần kết của kinh nói: “Năm bộ như thế tuy mỗi bộ khác biệt, nhưng không chướng ngại pháp giới chư Phật và đại niết-bàn.” Kinh Xá-lợi-phất vấn cũng nói, có năm bộ như bảo: “Lưu tryuyền về sau lâu dài như thế, hoặc phải hoặc trái, chỉ năm bộ còn lại mỗi bộ nêu lên sở trương, nói về sắc phục của mình: Bộ Ma-ha tăng-kỳ siêng học nhiều kinh, tuyên giảng nghĩa chân thật, vì ở giữa gốc, phải mặc y vàng. Bộ Đàm-vô-quật-đa-ca, thông đạt lý lẽ ý vị, khai đạo lợi ích, biểu hiện sự thù thắng về pháp, nên mặc y màu đỏ. Bộ Tát-bà-đa, thông suốt rộng, diễn đạt nhạy bén, dẫn đạo giáo hóa bằng chánh pháp, nên mặc y đen. Bộ Ca-diếp-duy, tinh cần dũng mãnh, nhiếp hộ chúng sanh nên mặc y mộc-lan. Bộ Di-sa-tắc, thiền tư vào chỗ vi diệu, nghiên cứu thông suốt sự sâu kín, nên mặc y xanh.” Ở đây lấy bộ Ma-ha tăng-kỳ làm một trong năm bộ mà không có bộ Bà-sa-phú-la (Độc Tử). Nếu căn cứ sách Nam hải ký quy nội pháp truyện của Tam tạng Nghĩa Tịnh: “Các bộ phái sinh khởi bất đồng, ở Tây quốc truyền nhau đại cương chỉ có bốn.”; Ngài chú thích và nói: “(1). Bộ Thánh Đại chúng chia ra bảy bộ;(2). Bộ Thánh Thượng tọa chia ra ba bộ; (3). Bộ Thánh Căn bản Thuyết nhứt thiết hữu chia ra bốn bộ; (4). Bộ Thánh Chánh lượng chia ra bốn bộ.” Lại bảo “chia thành năm bộ không nghe ở Tây quốc”. Ở đây lấy bộ Chánh lượng thay bộ Độc Tử trong kinh Đại tập ở trước, nhưng ngoài năm bộ ở Đại tập và kinh Xá-lợi-phất vấn, phần nhiều có bộ Thượng tọa. Như vậy truyền thuyết của mới và cũ bất đồng, nhiều đời càng thay đổi, thấy nghe có khác, cũng không phải là lạ. Kinh Văn-thù vấn nói: “Mười tám bộ và hai bộ gốc, đều từ Đại thừa sinh ra, không phải cũng không trái, Ta nói sau này sẽ sinh khởi.” Nên dựa vào đó phụng hành, không ai không đắc đạo.
II. Giới pháp truyền ở Đông Độ và sự phiên dịch luật điển.
Luật học truyền vào Trung Quốc buổi đầu trong niên hiệu Gia Bình (Tây lịch 249-253) đời Tào Ngụy, Ngài Đàm-ma-ca-la (Trung Quốc gọi là Pháp Thời) ở Trung Thiên Trúc đến Lạc Dương dịch ra Tăng-kỳ giới tâm, làm mẫu mực cho sinh hoạt thường nhật, đồng thời thỉnh Tăng Ấn Độ lập pháp yết-ma. Ngài Ca-la đến rồi, luật pháp được thi hành rộng. Dùng luật Thập tụng làm tiêu chuẩn để truyền thọ giới pháp. Đây là đầu tiên Trung Quốc có giới luật. Trước đây lúc Ngài Đàm-ma-ca-la chưa đến, phong trào xuất gia tuy thịnh, cũng chỉ khác với người tục ở chỗ cạo tóc mà thôi, chưa thọ quy giới. Giả sử lại có tổ chức trai sám thì việc ấy đồng với tế lễ. Đồng thời trong niên hiệu Chánh Nguyên thời Ngụy, lại có Sa-môn Đàm-đế, người nước An Tức đến Lạc Dương, cũng giỏi luật học, ở chùa Bạch Mã dịch sách Đàm-vô-đức yết-ma, đây là pháp yết-ma thọ giới ban cho tỳ-kheo Trung Quốc. Bấy giờ, Quảng luật chưa truyền dịch, cũng chưa có tỳ-kheo-ni dựa vào luật thọ giới. Về sau luật điển dần dần đầy đủ. Đến năm thứ bảy niên hiệu Nguyên Gia đời Lưu Tống (Tây lịch 430), Sa-môn Cầu-na-bạt-ma, người nước Kế Tân thiết lập giới đàn ở chùa Nam Lâm cho Tăng ni thọ giới. Chư Ni hết sức cần cầu, lại muốn thọ trước Ni chúng. Đúng lúc ấy ở nước Sư Tử có tám tỳ-kheo-ni đến, nhưng niên lạp chưa cao, lại không đủ mười người, và còn phải học ngôn ngữ Nhà Tống. Nguyên nhân khác là cư sĩ Tây Vực lại thỉnh Ni nước ngoài đến để đủ số mười người. Và ba người là Thiết-sách-la... ở nước Sư Tử đến kinh, bổ sung vào những vị trước cho đủ số mười. Bấy giờ, ngài Cầu-na-bạt-ma đã viên tịch, thế là do ngài Tăng-già-bạt-ma (Chúng Khải) cho Ni thọ lại. Đây là đầu tiên Ni chúng Trung Quốc thọ giới trước hai bộ Tăng.
Đến như sự phiên dịnh luật bộ, xưa nay vẫn có thuyết bốn luật năm luận. Từ năm thứ hai niên hiệu Gia Bình đến năm thứ năm niên hiệu Hoằng Thỉ đời Diêu Tần (tức năm thứ ba niên hiệu Nguyên Hưng, vua Tấn An), trải qua trong vòng 154 năm, mới có phiên dịch Quảng luật. Nhưng thời đại phiên dịch các bộ luật điển đồng thời cũng gần như nhau.
1. Luật Thập tụng: Luật Thập tụng là Quảng luật của Bộ Tát-bà-đa. Năm thứ sáu niên hiệu Hoằng Thỉ, ngài Cưu-ma-la-thập và Phất-nhã-đa-la cùng dịch trong vườn Tiêu Diêu, văn chưa xong mà ngài Phất-nhã-đa-la mất. Nối tiếp có ngài Đàm-ma-lưu-chi mang bản tiếng Phạn luật này đến Trường An, rồi cùng dịch với ngài La-thập thành 58 quyển. Ngài La-thập sắp tịch, mà văn còn rườm rà chưa kịp sửa chữa nên lấy làm tiếc. Ngài Ty-ma-la-xoa cùng học luật Thập tụng với ngài La-thập ngày xưa đến Trường An, lại hiệu đính thêm, sửa Tụng cuối cùng thành một bản tụng là Tỳ-ni tụng, bắt đầu thành 61 quyển, đồng thời giảng thuyết luật ấy. Do đó luật học rất hưng thịnh.
2. Luật Tứ phần: Luật Tứ phần là Quảng luật của bộ Đàm-vô-đức. Năm thứ 12 đến 15 niên hiệu Hoằng Thỉ, Tam tạng Phật-đà-da-xá cùng dịch với ngài Trúc Phật Niệm. Ngài Da-xá cũng là thầy theo học ngày xưa của ngài La-thập, tụng thông thạo luật Đàm-vô-đức. Ông Diêu Hưng(1)nghi sự thiếu sót sai lầm của Ngài, mới thỉnh ngài Da-xá tụng dộc sách của người Khương, và các sách thuốc, được năm vạn lời, trải qua hai ngày mới cầm văn giở ra, không lầm một chữ, tất cả phục sự nhớ dai của Ngài. Thế là do Ngài Da-xá tụng ra Phạn văn, ngài Trúc Phật Niệm dịch thành ngôn ngữ Nhà Tần. Buổi đầu thành 44 quyển, nay mở ra thành 60 quyển. Hai loại Quảng luật ở trên liên hệ đến công việc phiên dịch từ Quan Trung.
3. Luật Tăng-kỳ: Luật Ma-ha tăng-kỳ tương truyền là Quảng luật được truyền tụng bởi bộ Đại chúng. Bản Phạn văn do ngài Pháp Hiển mang về, cùng dịch với ngài Phật-đà-bạt-đa-la ở chùa Đạo Tràng kinh đô, năm thứ 12 niên hiệu Nghĩa Hy, thành 40 quyển.
4. Luật Ngũ phần là Quảng luật của bộ Di-sa-tắc. Bản Phạn văn là bản do ngài Pháp Hiển mang về, chưa kịp phiên dịch, mà ngài Pháp Hiển mất. Tháng 7 năm đầu niên hiệu Cảnh Bình đời Tống, có Sa-môn Phật-đà-thập (Trung Quốc gọi là Giác Thọ), người nước Kế Tân đến Dương Châu. Lúc còn nhỏ ngài Giác Thọ học ở bộ Di-sa-tắc, chuyên tinh luật này. Chư tăng vùng kinh đô thỉnh Ngài phiên dịch, tức ở chùa Long Quang tháng 11 năm đó, ngài Giác Thọ tay cầm bản Phạn văn, Sa-môn Trí Thắng, người nước Vu Điền dịch thành ngôn ngữ Trung Hoa, ngài Đạo Sinh, Tuệ Nghiêm chấp bút tham dự hiệu đính, dịch thành 34 quyển, nay hợp thành 30 quyển. Rồi từ bộ lớn sao ra Giới tâm và Văn yết-ma để cung cấp cho việc thực hành riêng. Hai bộ luật trên liên hệ với việc phiên dịch từ Giang Tả.
5. Căn bản thuyết nhứt thiết hữu bộ Tỳ-nại-da, gồm tất cả 18 loại, là luật của bộ Tân Tát-bà-đa lưu truyền. Bản Phạn văn được Tam tạng Nghĩa Tịnh đời Đường mang về từ Ấn Độ, sau niên hiệu Cửu Thị đời Võ Hậu (Võ Tắc Thiên), tự thân dịch ra, tất cả có 198 quyển. Ngài Nghĩa Tịnh chuyên môn nghiên cứu luật Căn bản thuyết nhứt thiết hữu bộ. Lúc cầu pháp ở Ấn Độ đã từng trước tác: Nam hải ký quy nội pháp truyện, giới thiệu luật chế và giới hạnh của năm nước ở Ấn Độ. Sau khi về nước, tuy “dịch khắp ba tạng, mà nghiêng về nghiên cứu luật bộ. Lúc rãnh việc phiên dịch thì truyền dạy chỗ khúc mắc cho học trò. Phàm làm việc đều chú trọng sự bảo hộ khẩn cấp: Túi lọc nước, rửa dơ, đặc biệt khác với người cùng tu bình thường. Bạn học truyền ra thực hành khắp cả Lạc Dương.”
6. Ngoài Quảng luật của năm bộ trên ra, còn có Giới bổn thuộc bộ Ca-diếp-di là Giải thoát giới kinh, 1 quyển, ngài Bát-nhã-lưu-chi dịch đầu đời Ngụy.
Ngoài ra có năm luận giải thích luật: (1). Tát-bà-đa Tỳ-ni Tỳ-ni Tỳ-bà-sa, 9 quyển, không rõ người dịch. (2). Tát-bà-đa bộ tỳ-ni ma-đắc-lặc-già, 10 quyển, ngài Tăng-già-bạt-ma dịch đời Lưu Tống. (3). Luận Tỳ-ni-mẫu (kinh), 8 quyển, không rõ người dịch. Ba loại sách trên đều tôn sùng luật của bộ Tát-bà-đa mà lập luận. (4). Thiện kiến luật Tỳ-bà-sa, 18 quyển, ngài Tăng-già-bạt-đà-la dịch đời Tiêu Tề. Luận này giải thích luật Tứ phần (chỗ này người viết hiểu sai. Luận này là tác phẩm của Phật Minh, giải thích luật Pali. DG). 5. Luật Nhị thập nhị minh liễu luận, 1 quyển, ngài Chân Đế dịch đời Trần. Luận này dựa vào luật của bộ Chánh lượng mà lập luận.
Thông thường gọi là bốn luật năm luận, bởi Tam tạng Nghĩa Tịnh dịch luật của bộ Căn bản thuyết nhứt thiết hữu, sự phiên dịch tương đối trễ, Luật sư Đạo Tuyên còn chưa xem kịp sách này. Nên không được kể ở trong đây. Lại có người bảo Tam tạng Nghĩa Tịnh dịch luật của Hữu bộ, tức là dị dịch của luật Thập tụng, nên cũng có thể bảo là bốn luật năm luận. Ngoài ra còn có kinh Giới nhân duyên (Tỷ-nại-da); các kinh Xá-lợi-phất, Mục-kiền liên, Ưu-ba-ly hỏi, đều là sách thuyết minh riêng có quan hệ với luật pháp, đều phụ thuộc ở luật bộ.
Thuyết xưa truyền rằng luật của Ấn Độ lưu truyền năm bộ. Nếu căn cứ kinh Đại tập: Thuyết một gốc (luật Ma-ha tăng-kỳ), năm nhánh (năm bộ, như Đàm-ma-cúc-đa, v.v.), thì Trung Quốc không có, là bộ Ca-diếp-di và bộ Bà-thô-phú-la. Nhưng bộ Ca-diếp-di còn có Giới bổn là Giải thoát giới kinh truyền đến. Còn như căn cứ kinh Xá-lợi-phất vấn thì lấy Ma-ha tăng-kỳ làm một trong năm bộ, mà không có bộ Bà-thô-phú-la, nên bộ luật mà Trung Quốc thiếu thì chỉ thiếu Quảng luật của bộ Ca-diếp-di mà thôi.
Từ khi Quảng luật được phiên dịch đến nay, trừ luật Ngũ phần chưa truyền rộng ra, các luật Thập tụng, Tăng-kỳ, từng thịnh hành trong các đời Tống,Tể, Lương. Giang Nam, Lãnh Biểu(2) thì luật Thập tụng thịnh trước. Quan Trung và các nơi khác, thì phần nhiều còn Tăng-kỳ. Luật Tứ phần tuy được dịch đời Diêu Tần, trong vòng hơn 60 năm, hầu như không mấy người nghiên cứu thực hành, có cũng chỉ để cung cấp cho việc tham khảo mà thôi. Và đến thời Hiếu Văn Đế đầu đời Ngụy, có Luật sư Bắc Đài Pháp Thông, vốn học Tăng-kỳ, chuyên nghiên cứu khai thông, vì hết lòng thọ giới trì giới thể và quyết tâm không phá giới, đã tóm thâu và dựa vào luật Đàm-vô-đức, cho nên thôi giảng luật Tăng-kỳ, mà bắt đầu hoằng dương luật Tứ phần, khiến cho thọ tùy(3) hợp nhau, việc quy về một nhóm. Từ đó về sau hoằng truyền thịnh dần, sớ giải chú thích cũng nhiều. Đến Luật sư Đạo Tuyên đời Đường nối tiếp truyền thống của Luật sư Trí Thủ, chuyên dựa vào luật Tứ phần để thuyết minh thọ thể và bàn tùy hành (xem chú thích thọ tùy ở trên), mới thành chuyên biệt chú trọng. Đồng thời có Pháp Lệ Hoài Tố cũng hoằng truyền luật Tứ phần, cùng với Luật sư Nam Sơn Đạo Tuyên, gọi chung là ba nhà luật bộ.
III. Việc hoằng truyền và trước thuật luật Tứ phần ở Trung Quốc.
Luật Tứ phần từ khi Luật sư Pháp Thông đề xướng nghiên cứu thực hành về sau, có Luật sư Đạo Phú sáng chế Luật sớ sáu quyển, Tuệ Quang, đệ tử của Đạo Phú chuyên nghiên cứu luật Tứ phần, soạn Tứ phần lược sớ, và san định Yết-ma giới bổn. Đạo Vân, đệ tử của Tuệ Quang, “phụng hành di chúc của Tuệ Quang mà chuyên hoằng dương luật bộ”, tạo sớ 9 quyển. Đạo Huy cũng là đệ tử của Tuệ Quang, lại tóm lược sớ giải của Đạo Vân thành 7 quyển. Hồng Lý, đệ tử của Đạo Huy soạn chép hai quyển. Đàm Ẩn soạn sớ 4 quyển. Lại Đạo Vân, Hồng Tuân, đệ tử của Đạo Huy cố gắng xiển dương luật Tứ phần, “sáng trình bày Pháp hoa, chiều nêu lên Pháp chính(4). Đến thì khai diễn kinh, nói thì thông luật.” Luật Tăng-kỳ đến đây mới dứt tuyệt sự truyền bá. Đạo Lạc, cùng với Đàm Vân đều nổi tiếng là thông luật, có đệ tử tên Pháp Thượng. Pháp Nguyện đệ tử của Pháp Thượng, có người gọi là Luật Hổ, soạn Tứ phần một bản 10 quyển, Thị phi sao 2 quyển. Lại Đạo Hồng (còn gọi là Đạo Chiếu) là đệ tử của Đạo Vân; dưới Đạo Hồng có Trí Thủ, cảm khái đương thời “năm bộ lẫn lộn mà chưa phân biệt, ý kiến khác nhau rối ren xen tạp. Trong nước thọ giới, hoàn toàn tụng văn Pháp chánh, cho đến việc chấp hành và hộ trì thì theo hình thức, phần nhiều phụ thuộc vào việc thầy trò nối tiếp nhau, hoãn gấp mặc tình lấy bỏ, nặng nhẹ hỗ tương mà quyết đoán. Ngài Trí Thủ quả là ôm lòng cảm khái về sự mở buộc, bàn bạc việc xưa nay, soạn Ngũ bộ khu phân sao, 21 quyển”. Lại so sánh chỗ đồng và khác của các luật, để quyết định việc lấy bỏ. Lấy sớ đã soạn của Đạo Vân làm nền tảng, làm Tứ phần luật sớ 20 quyển, người đời gọi là Quảng sớ hay Đại sớ; hợp với Lược sớ bốn quyển của Tuệ Quang và Trung sớ mười quyển của Pháp Lệ gọi là ba sớ chính yếu của luật bộ.
Đạo Tuyên, Đạo Thế, Tuệ Mãn... là đệ tử của Trí Thủ. Sư Đạo Tuyên thọ giới cụ túc từ Luật sư Trí Thủ, theo ngài Trí Thủ nghe luật 20 lần. Sau vào núi Chung Nam, ở chỗ vắng, mặc áo gai, xiển dương rộng luật Tứ phần, soạn viết rộng rãi phong phú. Luật Tứ phần đến sư Đạo Tuyên đã trở thành một trong tám tông Đại thừa của Trung Quốc-tông Luật. Theo yếu chỉ, điều quan trọng có ba:
1/ Lập hai giáo hóa-chế, trong Hóa giáo mở ra thành ba giáo: (1) Tính không giáo, thu nhiếp tất cả pháp Tiểu thừa. (2) Tướng không giáo, thu nhiếp tất cả pháp cạn Đại thừa. (3) Duy thức viên giáo, tất cả pháp sâu của Đại thừa đều thu nhiếp trong đây. Ba giáo thu nhiếp hết tất cả giáo pháp Đại và Tiểu thừa. Dưới chế giáo lại chia ra ba tông: (1) Thật pháp tông, dựa vào bộ Tát-bà-đa thuyết minh thọ thể là sắc pháp. (2) Giả danh tông, bộ Đàm-vô-đức dựa vào luận Thành thực thuyết minh thọ thể là phi sắc phi tâm. (3) Viên giáo tông, Nam sơn Đạo Tuyên thuyết minh thọ thể là tàng thức huân chủng tử. Cái gọi là “chánh thì dựa vào luận Thành thực. Tham chiếu thì y Tát-bà-đa, cuối cùng quy về viên giáo.” Dùng ba giáo ba tông để phán quyết thu nhiếp giáo pháp một đời của Đức Như lai. Pháp môn định tuệ được thuyết minh trong các Kinh luận, chính là hóa giáo. Pháp môn giới học được giải thích bởi luật tạng, chính là chế giáo. Nhưng Thánh đạo của ba thừa lấy giới làm nền. Giới hạnh thanh bạch, định tuệ nhờ đó mà lập, nên phải trồng cây tịnh giới trước, sau tu định tuệ đoạn trừ phiền não.
2/ Dung thông hai thừa Đại Tiểu: Nói nghĩa của luật Tứ phần thông với Đại thừa. Trong Nghiệp sớ lập năm phần nghĩa thông(5): Đạp-bà hồi tâm, thí sinh thành Phật, thức liễu biệt trần cảnh, tương triệu Phật tử và xả tài dụng khinh. Đó là nói luật Tứ phần, ngoài phần chính là Tiểu thừa, nhưng còn có phần thông với Đại thừa, vượt xa các bộ khác, rất hợp với căn cơ của người Trung Quốc.
3/ Toàn bộ giới học là bốn khoa lớn: (1) Giới pháp, Đức Như lai chế giới, pháp thông với vạn cảnh, thể thông với đạo xuất ly. (2) Giới thể, lúc thọ giới huân tập chủng tử trong thức là thể, đây là căn bản của các hạnh xuất sinh. (3) Giới hạnh, thọ rồi hành theo, ngăn cấm điều sai trái ở ngoài, phương tiện khéo thành, thuận theo thọ thể đó. (4) Giới tướng, hình tướng ở thân miệng, thì đức tính tốt đẹp sáng rỡ bên ngoài; hoặc biểu hiện ở nét đẹp đẽ rõ rệt, phô bày thông với thiên tụ. Sư Đạo Tuyên đề xướng tông Tứ phần thọ tùy tương xứng, hành tướng đầy đủ, đường Đại Tiểu hài hòa, sự hiểu biết và tu hành tương ứng, vì có sự thù thắng đặc biệt như thế, nên chư Đại đức xưa nay đều cùng khen ngợi, các tông Đại Tiểu cùng thừa tiếp học theo.
Sư Đạo Thế tức Huyền Uẩn và sư Đạo Tuyên cùng theo Luật sư Trí Thủ thọ giới cụ túc và thực hành luật, cũng tinh chuyên luật bộ, trước thuật có Tứ phần luật thảo yếu và Tứ phần luật ni sao, thiết lập nghĩa không khác với sư Đạo Tuyên, có thể thu nhiếp trong tông Nam sơn. Sư Đạo Tuyên và Đạo Thế gọi là hai người có trí tuệ trong cửa của ngài Trí Thủ.
Từ ngài Đàm-ma-ca-la (Pháp Thời) đến Luật sư Đạo Tuyên ở Nam sơn, các sư lập Tổ bất đồng, thông thường phần nhiều dựa vào thuyết của ngài Linh Chi Nguyên Chiếu lập chín vị Tổ, tức Luật chủ Pháp Chính là thứ nhất, Pháp Thời là Tổ thứ hai, Pháp Thông là Tổ thứ ba, Đạo Phú là Tổ thứ tư, Tuệ Quang là Tổ thứ năm, Đạo Vân là Tổ thứ sáu, Đạo Hồng là Tổ thứ bảy, Trí Thủ là Tổ thứ tám, Nam sơn Đạo Tuyên là Tổ thứ chín.
Đồng thời cùng hoằng dương luật Tứ phần với Luật sư Đạo Tuyên có sư Pháp Lệ chùa Nhựt Quang, Tương Châu và sư Hoài Tố Đông tháp chùa Tây Thái Nguyên.
Sư Pháp Lệ là đệ tử của sư Hồng Uyển, dưới Luật sư Hồng Tuân, trước học luật Tứ phần, lại đến Giang Nam nghiên cứu học luật Thập tụng, sau trở về Nghiệp Đô, tùy duyên giáo hóa, trước sau giảng luật Tứ phần hơn bốn mươi lần. Từng bực tức sự rộng rãi của luật văn, mới dung hòa những ý kiến của các thuyết, làm Tứ phần luật sớ mười quyển, gọi là tông Tướng bộ. Lại soạn Yết-ma sớ ba quyển, Xả sám nghi khinh trọng tự, cả hai đều không truyền. Sư Pháp Lệ tôn trọng luận Thành thực, lấy vô tác giới thể làm bất tương ưng hành pháp phi sắc phi tâm. Sư Đạo Tuyên từng đến cửa sư Pháp Lệ, mới được một tháng, sư Pháp Lệ liền nhập diệt. Sư Đạo Tuyên cũng lấy vô tác giới thể làm phi sắc phi tâm, đại khái đồng với sư Pháp Lệ, chỉ tiến tới mà hợp với nghĩa chủng tử Duy thức của Đại thừa là khác. Mãn Ý, Hoài Tố là đệ tử của sư Pháp Lệ. Mãn Ý truyền cho Đại Lượng, Lượng truyền cho Đàm Nhứt. Nhứt soạn Phát chánh nghĩa ký 10 quyển, thuyết minh chỗ bất đồng của hai phái Nam sơn và Tướng bộ. Đệ tử của Đàm Nhứt có Lãng Nhiên, Thần Hạo, Thanh Giang.. Lãng Nhiên soạn Tứ phần luật sao và Cổ kim quyết, bình nghị thuyết xưa. Lại Định Tân, đệ tử của Mãn Ý làm Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa ký, chú giải sớ của Pháp Lệ. Lại làm Phá mê chấp ký cứu nghĩa học của Pháp Lệ (?).
Sư Hoài Tố từng theo sư Đạo Tuyên thọ giới cụ túc, học sách Hành sự sao. Lại đến cửa sư Pháp Lệ học luật của Tướng bộ. Than chưa được cực tốt, mới dựa vào luận Câu-xá, xướng lên thuyết vô tác giới thể là vô biểu sắc, soạn Tứ phần luật khai tông ký 20 quyển, đời gọi là Tân sớ, để đối phá với Cựu sớ của Pháp Lệ. Đồng thời tự giảng Tân sớ hơn 50 lần. Lại soạn Tân sớ thập di 20 quyển, Tứ phần Tăng Ni yết-ma văn 2 quyển, Tứ phần Tăng Ni giới bổn, mỗi thứ 1 quyển... Đệ tử của Hoài Tố là Pháp Thận, đệ tử của Pháp Thận là Nghĩa Tuyên soạn Chiết trung ký, để điều hợp thuyết của hai tông.
Hai phái Tướng bộ và Đông tháp về sau tranh luận đợt này sang đợt khác. Năm thứ 13 niên hiệu Đại Lịch vua Đại Tông đời Đường sắc sai chư Đại đức của ba phái Nam sơn, Tướng bộ và Đông tháp tập họp ở chùa An Quốc để xác định phải trái. Thu thập chỗ sở trường của hai sớ mới cũ thành sách “Sắc thiêm định Tứ phần luật sao”, 10 quyển. Nhưng lần tập hợp này liên hệ với việc Thừa tướng Nguyên Tải đề xuất ý kiến, tuy lấy việc điều hòa làm danh nghĩa, thực ra muốn mượn việc này để thi hành rộng rãi Tân sớ của sư Hoài Tố, tàn phá Tướng bộ. Sách thành chưa lâu, chư Đại đức lại tâu xin vẫn cho hai sớ mới cũ đều lưu hành, theo sở thích của người học, sắc cũng ưng cho. Cao tăng truyện tập 3 nói: “Bởi vì hai tông đều thịnh, hai tông mạnh ắt phải cạnh tranh;(?) bị bắt và lật ngược lại thì lợi về người đánh cá, đánh nhau chắc chắn thương tổn ở chân thầy!” Về sau hai phái Tướng bộ và Đông tháp đều suy, cuối cùng dứt tuyệt. Chỉ tông Nam sơn thịnh hành lâu dài không dứt.
Đệ tử của sư Đạo Tuyên rất nhiều. Tất cả những soạn giả của Sư: Đại Từ, Văn Cương, Danh Khác, Châu Tú, Linh Ngạc, Dung Tề, và Trí Nhân người Tân-la (Triều Tiên) , có vài mươi trăm người. Hoằng Cảnh, Hoài Tố, Đạo Ngạn cũng là đệ tử thọ giới. Nhất Hạnh, Giám Chân đệ tử của Hoằng Cảnh. Nhất Hạnh là học giả Mật giáo. Giám Chân về sau được Sa-môn Vinh Duệ, Phổ Chiếu... người Nhật Bản thỉnh sang Nhật Bản hoằng truyền giới pháp, là sơ Tổ của tông Luật Nhật Bản. Đạo Ngạn là đệ tử của Văn Cương, ở Giang Biểu phần nhiều thực hành luật Thập tụng, nên không biết Tứ phần, nhân xin vua Trung Tông đích thân viết và ban sắc chấp hành tông Luật Nam sơn, nên sự thịnh hành của luật Tứ phần ở vùng Giang Hoài, sự thật do ở điều này. Đệ tử của Đạo Ngạn có Hành Siêu, Huyền Nghiễm... Huyền Lãng thuộc Tông Thiên Thai cũng theo Đạo Ngạn thọ giới. Huyền Nghiễm soạn sách Phụ thiên ký 10 quyển và Yết-ma thuật chương ba thiên.
Đệ tử của Châu Tú là Đạo Hằng làm sách Hành sự sao ký. Đệ tử của Đạo Hằng là Chí Hồng, Tỉnh Cung, Đàm Thanh. Chí Hồng soạn sách Sưu huyền ký 20 quyển, Tỉnh Cung làm sách Hành sự sao thuận chánh lý, Đàm Thanh soạn Hiển tông ký. Đệ tử của Tỉnh Cung là Tuệ Chánh, đệ tử của Tuệ Chánh là Huyền Sướng soạn Hành sự sao hiển chánh ký. Qua thế hệ Nguyên Biểu, Thủ Ngôn, Nguyên Giải mà vào đời Tống. Nguyên Biểu làm sách Hành sự sao nghĩa ký. Sau Thủ Ngôn, có Nguyên Giải, Pháp Vinh, Xử Hằng, Trạch Ngộ theo thứ tự nối tiếp nhau. Xử Hằng làm sách Thập di ký, Trạch Ngộ làm sách Nghĩa uyển ký. Đệ tử của Trạch Ngộ có Doãn Kham (tức Trí Viên thực hành theo tông Thiên Thai) soạn 10 bộ ký giải như Hành sự sao hội chánh ký, Giới sớ phát huy ký, Nghiệp sớ chánh nguyên ký, Tỳ-ni nghĩa sao phụ yếu ký, Giáo giới nghi tông diễn ký, Tịnh tâm giới quán phát chân sao... Đời gọi là hội chánh tông của luật Tứ phần. Đệ tử của Doãn Kham là Trạch Kỳ, đệ tử của Trạch Kỳ là Nguyên Chiếu ở chùa Linh Chi thuộc Hàng Châu, chuyên học tỳ-ni, nghiên cứu rộng tông Nam sơn, soạn sách có Hành sự sao tư trì ký, Giới bổn sớ hành tông ký, Yết-ma sớ tế duyên ký... Các Sư Nguyên Kham, Nguyên Chiếu dùng giáo ý của Thiên Thai giải thích luật Tứ phần khá đặc sắc, hợp với nghĩa chánh của ngài Nam Sơn đưa Tứ phần vào viên giáo. Đến nay tông Luật tứ phần gọi là trung hưng. Sau Nguyên Chiếu có Trí Giao, Chuẩn Nhứt, Pháp Chánh, Pháp Cửu, Liễu Hoằng, Diệu Liên theo thứ tự nối tiếp nhau. Lại đệ tử của Huyền Sướng là Tuệ Tắc, đệ tử của Tuệ Tắc là Hy Giác, đệ tử của Hy Giác là Tán Ninh. Hệ thống tông Luật truyền thừa không dứt. Nhưng tông Tứ phần từ cuối đời Tống trở đi cũng ngày càng suy kiệt.
Dưới Luật sư Nam Sơn, người phu dương rộng tông Nam sơn, lấy Luật sư Châu Tú làm Tổ thứ hai, Luật sư Đạo Hằng ở Tô Châu là Tổ thứ ba, Luật sư Tỉnh Cung chùa Tuệ Chiếu ở Dương Châu là Tổ thứ tư, Luật sư Tuệ Chánh là Tổ thứ năm, Đại sư Huyền Sướng Pháp Bửu ở Kinh Triệu là Tổ thứ sáu, Luật sư Nguyên Biểu ở Việt Châu là Tổ thứ bảy, Luật sư Thủ Ngôn là Tổ thứ tám, Luật sư Nguyên Giải ở Hàng Châu là Tổ thứ chín, Luật sư Pháp Vinh là Tổ thứ mười, Luật sư Xử Hằng ở Hàng Châu là Tổ thứ mười một, Luật sư Trạch Ngộ ở Hàng Châu đời Tống là Tổ thứ mười hai, Luật sư Doãn Kham ở Thai Châu đời Tống là Tổ thứ mười ba, Luật sư Trạch Kỳ là Tổ thứ mười bốn, Luật sư Nguyên Chiếu Đại Trí ở Hàng Châu là Tổ thứ mười lăm, Luật sư Trí Giao ở Viện khai nguyên kinh là Tổ thứ mười sáu (Có người lập Luật sư Đạo Tiêu làm Tổ thứ mười sáu), Luật sư Đông Đường Chuẩn Nhứt là Tổ thứ mười bảy, Luật sư Trúc Khê Pháp Chánh là Tổ thứ mười tám, Luật sư Thạch Cổ Pháp Cửu là Tổ thứ mười chín, Luật sư Thượng Ông Diệu Liên là Tổ thứ hai mươi, Luật sư Thạch Lâm Hành Cư là Tổ thứ hai mươi mốt. Từ đó về sau tức vào triều Nguyên, Tông luật bị suy vi phế bỏ, tức sự truyền thừa không rõ ràng.
Tông Luật tứ phần từ sư Doãn Kham, Nguyên Chiếu về sau, tuy chưa tuyệt dứt, nhưng trong khoảng từ cuối đời Tống cho đến Nguyên-Minh tính chất mô phạm mất hết. Các Đại sư Liên Trì, Ngẫu Ích, Hoằng Tán, Nguyên Hiền cuối đời Minh đều có ý phò trì luật giáo, chỉ vì phế bỏ rơi rớt đã lâu, chiều hướng của tình thế như vậy, rất khó thành công. Sư Liên Trì có làm sách Cụ giới tiện mông, Sa-di luật nghi yếu lược, Phạm võng kinh nghĩa sớ phát ẩn... Sư Ngẫu Ích có làm Sa-di thập giới lục yếu, Tỳ-ni trân kính lục, Tỳ-ni sự nghĩa tập yếu, Tứ phần luật tạng Đại Tiểu trì giới kiền độ lược thích, Luật yếu hậu tập, Phạm võng kinh hiệp chú... Sư Hoằng Tán có làm Sa-di nhựt dụng, Sa-di luật nghi yếu lược tăng chú, Tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni thọ giới lục, mỗi thứ 1 quyển, Tứ phần giới bổn như thích, Tứ phần danh nghĩa tiêu thích, Thức-xoa-ma-na-ni giới bổn, Quy giới yếu tập, Bát quan trai pháp, Phạm võng kinh lược sớ... Sư Nguyên Hiểu có làm Tứ phần giới bổn ước nghĩa, Luật học phát nhận...Đồng thời với sư Liên Trì, có Luật sư Như Hinh, hiệu Cổ Tâm, gọi là Tuệ Vân khẩn cầu giới pháp, nhân thế quyết chí đi bộ lễ Ngũ Đài, cảm đến Bồ-tát Văn-thù ở trong mây đưa tay xoa đỉnh đầu và truyền giới cho, do đó ngộ ngay pháp môn tâm địa năm thiên ba tụ, nhìn thấy luật Đại và Tiểu thừa sáng rỡ từ trong ngực chảy ra, từ đó tức chuyên hoằng dương giới pháp ở các chùa Chấn Cổ, Hương Lâm, Linh Cốc, Cam Lộ, Linh Ẩn, Thiên Ninh, mở truyền giới pháp. Soạn Kinh luật giới tướng bố-tát quỹ nghi, luật giáo từ cuối đời Tống đến nay hoang vắng đã lâu đến Luật sư Như Hinh mà dần dần chấn hưng. Đệ tử của Như Hinh có Tính Tướng, Vĩnh Hải, Tịch Quang, Trừng Phương, Tính Kỳ... Luật sư Tịch Quang hiệu Tam Muội thọ giới cụ túc với Như Hinh, Hinh dặn dò chuyên hoằng dương tông Luật. Do đó nghiên cứu tinh chuyên, cố gắng thực hành, học rộng năm bộ, sáng lập giới đàn ở núi Bửu Hoa, người thọ giới tiếp pháp rất nhiều. Đệ tử nổi tiếng của Ngài có hai người là Hương Tuyết và Kiến Nguyệt. Kiến Nguyệt húy là Độc Thể, thọ giới cụ túc với Luật sư Tam Muội, theo hầu hoằng dương giới luật. Lúc sư Tam Muội viên tịch lấy y bát trao cho và nối tiếp chủ trì Bửu Hoa. Phàm quy mô phép tắc của việc truyền giới, an cư, tự tứ đều dựa vào luật mà làm. Giới đàn Bửu Hoa đầu tiên lấy một đàn thọ giới tỳ-kheo chín người, Luật sư Kiến Nguyệt dựa vào luật đổi thành một đàn ba người. Đến sư Hương Tuyết vì không hợp với lời dặn dò của sư Tam Muội, mới xuống núi đến chùa Thiên Ninh ở Thường Châu, hoằng dương tông Luật. Sáng tác của sư Kiến Nguyệt có: Tỳ-ni chỉ trì hội tập, 16 quyển, Tỳ-ni tác trì tục thích, 15 quyển, Truyền giới chính phạm, 4 quyển; Thế độ chánh phạm, Tăng hạnh quy tắc, Tam quy ngũ giới bát giới chánh phạm, Tỳ-ni nhựt dụng thiết yếu, Sa-di-ni luật nghi yếu lược, Hắc bạch bố-tát, U minh giới chánh phạm, mỗi loại 1 quyển. Đệ tử của sư Kiến Nguyệt hơn 60 người. Đức Cơ, Thư Ngọc là nổi tiếng nhất. Thư Ngọc hiệu Nghi Khiết ở chùa Chiêu Khánh thuộc Hàng Châu, tuyên rộng luật pháp, trước tác có Phạm võng kinh Bồ-tát giới sơ tân 8 quyển, Tỳ-ni nhựt dụng thiết yếu hương nhũ ký 2 quyển, Sa-di luật nghi yếu lược thuật nghĩa 2 quyển. Sư Đức Cơ nối pháp núi Bửu Hoa, nghiêm chỉnh quy ước, điều hành chúng rộng lượng, oai nghiêm, nâng đỡ. Phàm gặp việc nặng nhọc thì lấy thân mình làm trước, Tăng tục bốn phương theo học rất nhiều. Chùa Chiêu Khánh ở Hàng Châu thỉnh mở giới đàn, người quy y nối gót theo nhau, mới giao phó cho sư Thư Ngọc người đồng môn ở đây. Trước tác có Yết-ma hội thích 14 quyển, Tỳ-kheo-ni giới bổn hội nghĩa 12 quyển, Tỳ-ni quan yếu 16 quyển... Đệ tử nối pháp có 38 người, lấy sư Tùng Ẩn nối tiếp pháp tịch.
Tùng Ẩn truyền cho Mẫn Duyên, Mẫn Duyên truyền cho Trân Huy, Trân Huy truyền cho Văn Hải. Văn Hải theo lời mời của Thế Tông vào kinh sư, chủ trì pháp tịch chùa Đại Pháp Nguyên, khai đàn truyền giới, do đó khuôn phép giới luật của Hoa Sơn mới chia đèn pháp cho kinh sư. Sau đó có các Sư: Lý Quân, Hồn Nghi, Khải Cơ, Trác Như, Lãng Giám, Thể Càn, Mẫn Thông, Thánh Tính, Hạo Tịnh thứ tự truyền nhau. Từ sư Như Hinh đến sư Hạo Tịnh có 17 đời. Luật học gần đây chỉ một hệ Hoa Sơn lấy việc khai đàn truyền giới làm nhiệmvụ, đã đến thời tàn dư, tuy chỉ còn hình thức hô hào mở hội, nhưng nghi thức pháp độ xuất gia thọ giới được cố gắng duy trì, Phật pháp nhờ đó tuyên dương, công ấy cũng không thể mất. Nhưng nếu lấy điều này mà gọi là tông Luật, thì cũng đủ thấy luật học mất hết mà thôi!
Từ thời Dân Quốc đến nay luật học suy nhược càng sâu! Người có chí thực hành đạo này, dụ như kỳ lân. Có các Pháp sư Hoằng Nhất, Từ Thuyền hoằng dương luật nổi tiếng. Luật sư Hoằng Nhất xuất gia năm Dân Quốc thứ bảy (lúc 39 tuổi), thọ giới ở chùa Linh Ẩn Hàng Châu, nhân xem sách Truyền giới chánh phạm và Tỳ-ni sự nghĩa tập yếu của Đại sư Ngẫu Ích, mà phát tâm học giới. Sư xem khắp luật bộ, chí nghiệp tinh cần. Ở thường lấy giới kiểm điểm tự trọng, trong ngoài đều kính phục. Từng than giới pháp nhiều lẫn lộn, suy nghĩ nhiều về việc vãng hồi cho đúng đắn. Trước thuật có Tứ phần luật tỳ-kheo giới tướng biểu ký, Hành sự sao tư trì ký biểu giải, Hành sự sao tư trì ký phù tang tập thích, Tỳ-kheo-ni sao tập giải, Hàm chú giới bổn tùy giảng biệt lục, San bổ tùy cơ yết-ma tùy giảng biệt lục, San định tăng giới bổn lược giải, Yết-ma lược nghĩa, Giáo giới tân học tỳ-kheo hành hộ luật nghi tập giải, Nam sơn luật tại gia bị giám cập lược bản, Nam sơn luật tương truyền thừa sử, Nam sơn luật tông thư mục đề yếu, Nam sơn luật uyển văn tập... Nhập diệt tháng 10 năm Dân Quốc thứ 31, lúc 62 tuổi. Chí hạnh của Ngài rất làm cho người vui đạo. Trước tác luật học là ân huệ tốt đẹp đối với người sau cũng rất nhiêu.
Luật sư Từ Thuyền xuất gia năm thứ hai niên hiệu Tuyên Thống, siêng năng chuyên cần ba môn học (giới-định-tuệ), hiểu biết và thực hành tương ưng. Cuộc đời lấy Giáo tông Hiền Thủ trì giới, niệm Phật làm trách nhiệm và tôn chỉ. Tự mình thực hành và dạy người đều lấy giới pháp làm gốc. Đến đâu làm việc cũng thường giảng thuyết giới phẩm, và cố gắng thực hành không mệt mỏi. Trước tác có Bồ-tát giới bổn sớ, Tứ phần giới bổn huyền đàm, Tỳ-ni tác trì lục yếu... Năm 82 tuổi viên tịch vào tháng 7 năm Dân Quốc thứ 47. Bậc hiền tài thời đại theo sư nối tiếp giáo pháp và học giới luật cũng không thiếu người.
IV. Luật Tứ phần và giới bổn tỳ-kheo Tứ phần.
Luật Tứ phần do bộ sách mà có tên, lại gọi là luật của bộ Đàm-vô-đức, ở đây theo hiệu của luật chủ mà lập tên. Tứ phần là do bốn phần lớn của hệ thống bản luật tập hợp lại thành.
Phần thứ nhất 21 quyển, thuyết minh riêng 250 giới tỳ-kheo.
Phần thứ hai, từ quyển thứ 22 đến quyển 37 (có 16 quyển văn): Chín quyển trước thuyết minh giới tỳ-kheo-ni; bảy quyển sau thuyết minh các chương (kiền-độ) thọ giới, thuyết giới, an cư, tự tứ phần trên.
Phần thứ ba, từ quyển tứ 38 đến quyển thứ 49 (có 12 quyển văn): Thuyết minh chương tự tứ phần dưới, bì cách, y, thuốc, y công đức, Câu-diệm-di, Chiêm-ba, quở trách, người, che giấu, ngăn chặn, phá Tăng, diệt sự tranh cải, pháp tỳ-kheo-ni, chương pháp.
Phần thứ tư, từ quyển thứ 50 đến hết quyển 60 (có 11 quyển văn): Thuyết minh chương phòng xá, tạp kiền-độ và cuộc kết tập 500 vị A-la-hán, cuộc kết tập 700 vị tỳ-kheo, điều bộ tỳ-ni, tỳ-ni tăng nhứt.
Trong đây giới pháp tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni là chỉ trì, 20 chương (kiền-độ) giữa là tác trì, bốn loại sau thuyết minh các việc có quan hệ với giới. Trong luật nói rõ pháp tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni những gì phải đình chỉ và những gì phải thực hành, vì là tràng tướng trụ trì dẫn đầu trong Tăng. Ba chúng nhỏ kia (sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na-ni) thì chế định bao gồm theo văn. Nên nói giới pháp thì phải bao quát hai loại chỉ trì và tác trì. Phải dừng mà không dừng gọi là phạm giới. Phải làm mà không làm cũng gọi là phạm giới. Nên tu học giới pháp phải bắt đầu giữ gìn từ hai phương diện dừng và làm. Tác trì tức là 20 chương. Trong đó tăng pháp yết-ma tổng cộng có 134 pháp. Việc nhẹ trong Tăng phải làm đơn bạch yết-ma, có 39 pháp. Việc trung phải làm bạch nhị yết-ma, có 57 pháp. Việc nặng phải làm bạch tứ yết-ma, có 38 pháp. Lại đối thú yết-ma có 33 pháp, tâm niệm yết-ma có 14 pháp, cộng chung ở trước có 181 pháp. Ngoài ra, như các oai nghi theo luật, đều là tác trì. Chỉ trì tức là giới tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni. Nay giảng là giới tỳ-kheo thuộc phần tứ nhất trong luật Tứ phần. Và là tỳ-kheo thì không những phải biết rõ hết chỉ trì và tác trì của bộ mình, mà còn phải giỏi cả pháp của tỳ-kheo-ni. Vì tỳ-kheo được truyền đại giới cho tỳ-kheo-ni và cho họ y chỉ, cũng như làm việc giáo giới. Nên phải học đủ “bốn phần”. Nhưng mới học phải có thứ tự, trước học giới pháp của bộ mình (tỳ-kheo), từ chỉ trì rồi tác trì, sức có dư đủ, lại học bộ ni. Giới bổn tỳ-kheo tức trích từ trong giới pháp tỳ-kheo phần thứ nhất của quảng luật Tứ phần, để tiện cho hành giả đọc tụng giữ gìn tu học.
Nói về giới pháp thì có ba loại: (1). Luật nghi giới, cũng gọi là biệt giải thoát giới. (2). Định cộng giới, cũng gọi là thiền giới. (3). Đạo cộng giới, cũng gọi là vô lậu giới. Về luật nghi giới thì luật là giới pháp, nghi là oai nghi, dựa vào luật mà hành, tự nhiên có oai, có úy, có nghi, đáng làm phép tắc. Ở đây tức chỉ 250 giới của tỳ-kheo và các oai nghi theo luật. Định cộng giới thì trong cảnh định, ba nghiệp tự nhiên điều hòa tốt đẹp, không sinh khởi các lỗi lầm. Luật nghi và định cùng sanh khởi, nên gọi là định cộng giới. Đạo cộng giới là chứng đạo vô lậu, tự nhiên xa lìa sự hủy phạm, như Sơ quả khi cầy đất, thì côn trùng lìa bốn tấc. Luật nghi và đạo lực cùng sinh khởi, nên gọi là đạo cộng giới. Nay nói giới pháp chính là chỉ luật nghi giới mà nói. Nhưng luật nghi là cơ bản của định tuệ. Kinh Di giáo nói: “Nhờ dựa vào giới này mà sinh các thiền định và trí tuệ diệt khổ”, thì luật nghi giới là nhân, định đạo là quả. Nhưng nhờ lực của định đạo, lại có thể làm cho luật nghi giới chuyển lại thanh tịnh, cái gọi là giới có năng lực làm tuệ thanh tịnh, tuệ có khả năng làm giới thanh tịnh, như hai tay của người chà xác lẫn nhau thì cả hai đều sạch sẽ. Nên giới là căn bản của tất cả công đức. Kinh nói: “Giả sử có nhiều trí, thiền định hiện tiền, như không trì giới, ắt rơi vào đường ma.” Luận Tát-bà-đa nói: “Giới ba-la-đề-mộc-xoa này, nếu đức Phật ra đời thì có, đức Phật không ra đời thì không; thiền giới và vô lậu giới, tất cả thời đều có. Giới ba-la-đề-mộc-xoa từ lời dạy mà được; thiền giới và vô lậu giới không từ lời dạy mà được. Lại giới ba-la-đề-mộc-xoa chỉ đệ tử Phật có; thiền giới ngoại đạo đều có. Duy trì được Phật pháp, có bảy chúng ở thế gian, đạo quả ba thừa tương tục không dứt, tất cả lấy ba-la-đề-mộc-xoa làm căn bản; thiền giới và vô lậu giới không như thế. Do đó thù thắng nhất trong ba giới.” Do đây có thể thấy, luật nghi giới trong các giới pháp là trọng yếu nhất.
1. Danh xưng của luật nghi giới: Thông thường đại khái có ba loại:
i. Tỳ-nại-da, hoặc gọi là tỳ-ni, xưa dịch là diệt. Diệt có ba nghĩa: (1). Diệt nghiệp sai trái, vì thọ trì giới pháp diệt trừ được tất cả tội phạm giới. (2). Diệt phiền não, trì giới điều phục được phiền não tham... (3). Được quả tịch diệt, do phiền não, nghiệp diệt, nên được quả tịch diệt (niết-bàn). Lại dịch là điều phục, tức điều luyện ba nghiệp, chế phục các phiền não, khiến lỗi lầm không sinh. Hai điều này đều theo công năng mà lập tên, chẳng phải chánh dịch. Luật sư Nam sơn nói: “Chánh dịch là luật. Luật là pháp, từ giáo thành tên. Quyết đoán sự trọng, khinh, khai, giá, trì, phạm, không pháp nào không xác định.” Như pháp luật thế gian, có thể làm khuôn phép định phải trái nặng nhẹ, để cân nhắc hình phạt. Nay đạo trái với tục, ở thường chỉ tác, có phạm không phạm, hoặc nặng hoặc nhẹ, cũng phải có pháp thường, để tiện tuân theo và cung cấp cho sự xử đoán, lý do hưng thịnh của luật pháp Phật giáo này, về nghĩa không khác pháp luật thế gian. Lại kinh Giới nhân duyên nói: “Tỳ nước Tần nói là bỏ; nại-da nước Tần nói là chân. Bỏ bao nhiêu điều trái mà theo bao nhiêu điều chân, nên gọi là chân vậy”; cũng là nghĩa của biệt giải thoát.
ii. Tiếng Phạn thi-la, cũ gọi là tính thiện, chánh dịch là thanh lương, dịch khác là giới. Về tính thiện, luận Trí độ nói: “Thích làm đạo lành, không tự phóng dật, đó gọi là thi-la.” Thanh lương là người trì giới, ba nghiệp thanh tịnh dứt các tội lỗi, tâm đã yên mà lý đắc, thì trong không nhiệt não, ngoài không thẹn sợ, nên gọi là thanh lương. Lại giới là nghĩa ngăn cấm, nghĩa đề phòng. Giới phòng ngừa ngăn chặn được điều tệ ác sai trái, đề phòng khích lệ ba nghiệp, nên gọi là giới. Kinh Đại tập nguyệt tạng nói: “Nghĩa của ly dục là nghĩa của giới, nghĩa giải thoát là nghĩa của giới, nghĩa dừng dứt là nghĩa của giới, nghĩa tận là nghĩa của giới, nghĩa diệt là nghĩa của giới .” Sách Đại thừa nghĩa chương 1 nói: “Nói thi-la, Trung Quốc gọi là thanh lương, cũng gọi là giới. Ba nghiệp sai trái thiêu đốt hành nhân, những việc đó như nung nóng, giới có khả năng phòng ngừa đình chỉ, nên gọi là thanh lương. Vì đề phòng ngăn chặn được, nên gọi là giới.” Ở đây theo nhân hành mà lập tên.
iii. Tiếng Phạn ba-la-đề-mộc-xoa, Trung Quốc gọi là bảo giải thoát, hay biệt giải thoát, tùy thuận giải thoát. Bảo giải thoát là thọ trì giới pháp có thể bảo đảm người hành không bị nghiệp rơi rớt, cuối cùng chắc chắn đi đến giải thoát. Nói biệt giải thoát là bảy chúng đệ tử đã thọ giới luật, hộ trì theo từng giới một không phạm, đều có thể giải thoát điều tệ ác sai trái của bảy chi thân miệng, phòng ngừa sai trái từng điều thì giải thoát được từng điều, giới hay phòng ngừa và điều tệ ác sai trái được phòng ngừa đều có biệt nghĩa, nên gọi là giới biệt giải thoát.
Lại biệt giải thoát được chọn không phải hai giới định đạo nên gọi là giới biệt giải thoát. Nói tùy thuận giải thoát là giới pháp tùy thuận được với hai loại quả giải thoát hữu vi và vô vi. Ở đây thì theo quả mà lập tên.
Luật Nam sơn chỉ liệt kê ba tên ở trên, theo thứ tự có ba nghĩa: giáo, hành, quả. Sách Hàm chú giới bổn giảng lục nói: “Dựa vào ba tên này theo thứ tự mà nói: Luật là giáo, có khả năng phát sinh sự tu hành và hiểu rõ, nên ở đầu. Giáo không cô lập, phải giải thích hành tướng, giới thì nhân đó mà lập. Giới có nhân chắc thật, ắt có quả đạt được, nên giải thoát hết trói buộc, cùng tột ở kết cục.” Các sách luật bộ phần nhiều dùng ba tên này. Như nói: “Luật” Tứ phần, “giới” bổn tỳ-kheo, “ba-la-đề-mộc-xoa” (biệt giải thoát).
Bảy chúng đệ tử đều có luật nghi giới thuộc đơn vị mình, mà trong luật nghi giới thì giới tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni là nghiêm cẩn, tỉ mỉ chu đáo nhất. Năm giới tại gia, tám giới và mười giới của ba chúng nhỏ xuất gia, sáu giới pháp, đều thu nhiếp trong giới pháp tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, và là phương tiện của giới cụ túc, Nên nếu luận về địa vị của giới, từ cạn đến sâu, tổng cộng có năm bực: (1). Năm giới của ưu-bà-tắc và ưu-bà-di. (2). Tám giới là giới xuất gia của hai chúng tại gia truyền thọ tạm thời. (3). Mười giới của sa-di và sa-di-ni. (4). Sáu pháp giới của thức-xoa-ma-na. (5). Giới cụ túc của tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni. Tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni là cao nhất trong luật nghi giới. Giới tỳ-kheo tóm lược thì có 250 giới, trung thì có ba ngàn oai nghi, sáu vạn tế hạnh, rộng thì có vô lượng. Giới tỳ-kheo-ni tóm lược có 348 giới, trung thì có tám vạn oai nghi, mười hai vạn tế hạnh, rộng cũng có vô lượng. Vì tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni lúc thọ giới đều được vô lượng vô biên giới pháp, lượng đồng hư không, cảnh khắp pháp giới, không điều gì không tròn đủ, nên tên đầy đủ là giới cụ túc, cũng gọi là giới cận viên; viên là niết-bàn, vì giới tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni là pháp gần niết-bàn, do đó mà có tên. Sách Nam hải ký quy truyện nói: “Đã thọ giới rồi, gọi là ổ-bà-tam-bát-na.” Sách ấy tự chú rằng: “Ổ-bà là cận, tam-bát-na là viên, nghĩa là niết-bàn. Nay thọ đại giới tức là gần gũi với niết-bàn. Cũ nói là giới cụ túc, là nói theo ý rộng.” Kinh Hằng thủy nói: “Trì năm giới thì sinh lại trong loài người, trì mười thiện giới thì được sinh lên trời, trì được 250 tịnh giới, thì hiện đời có thể đắc A-la-hán, Bích-chi Phật, Bồ-tát, đạo quả lớn Phật niết-bàn.” Nên giới pháp tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni chắc chắn là pháp đoạn phiền não, liễu sanh tử xong ngay đời này. Nhưng người đời nay lại nhìn giới này là con đường đáng sợ, lại tìm lối hẹp khác của sự liễu sanh thoát tử, thật là việc quái lạ!
Giới pháp cụ túc này truyền thọ đều rất khó: Người thọ phải đủ 20 tuổi, lại phải không có các già nạn(6). Còn người truyền là tam sư thất chứng, giới hạnh đều phải thanh tịnh, tuổi hạ đã đủ, đầy đủ các đức, yết-ma đúng pháp mới làm được việc này. Những điều này nhiều như luật nói. Đã thọ giới rồi, gọi là tỳ-kheo. Tỳ-kheo là tiếng Phạn, có nhiều nghĩa: Có người gọi là trừ cẩn, vì chúng sanh không có pháp tài, phần nhiều đói thiếu, người xuất gia chí hạnh thanh khiết là ruộng phước tốt, hay sanh ra vật lành, nếu người đời tin tưởng trở về cúng dường, như gieo giống vào ruộng tốt, ắt sinh ra lúa tốt, mà không đói thiếu. Có người nói bao hàm trong ba nghĩa: Một là nghĩa khất sĩ, vì xa lìa các loại tà mạng, bỏ tiền của ở thế gian, cầu xin đủ sống, điều đó gọi là trên xin pháp để nuôi pháp thân, dưới xin thức ăn để nuôi thân mạng. Hai là nghĩa bố ma, vì thọ giới cụ túc, lúc yết-ma thành tựu, ma vương ba tuần liền sinh sợ hãi, sợ người ấy ra khỏi ba cõi, trở lại giáo hóa chúng sanh, cũng ra khỏi ba cõi. Ba là nghĩa phá ác, vì tu các đạo phẩm, đoạn dục bỏ ái, hàng phục phiền não. Do trong nhân có ba nghĩa này, nên lúc đắc quả A-la-hán, tức có tên ứng cúng, vô sanh, sát tặc. Dịch mới là “bí-sô”, là tên loại cỏ thơm, sinh ở núi Tuyết, có năm loại đức để ví dụ tỳ-kheo: (1). Thể tính mềm mại, ví dụ tỳ-kheo chiết phục được sự thô ác của nghiệp thân miệng ý.(2). Nảy sinh lan tràn rộng rãi đến chỗ khác, ví dụ tỳ-kheo có khả năng truyền pháp độ người, khiến chủng tử Phật lâu dài không dứt. (3). Mùi thơm nghe xa, ví dụ tiếng thơm của giới đức tỳ-kheo được nhiều người nghe. (4). Chữa được đau nhức, dụ tỳ-kheo đoạn được đau nhức của độc hại phiền não. (5). Hướng đến ánh sáng mặt trời, dụ tỳ-kheo có chánh kiến chánh tư duy, thường hướng về mặt trời Phật mà không trái nghịch. Trong luật nói có tám loại tỳ-kheo: Là danh tự tỳ-kheo, tương tự tỳ-kheo, tự xưng tỳ-kheo, thiện lai tỳ-kheo, khất cầu tỳ-kheo, tỳ-kheo mặc y cắt rọc, tỳ-kheo phá kiết sử, tỳ-kheo thọ đại giới bạch tứ yết-ma đắc giới thành tựu đúng pháp. Trong luật chính chỉ tỳ-kheo thứ tám thọ đại giới bạch tứ yết-ma đắc giới thành tựu đúng pháp. Trong đó hai loại tỳ-kheo thiện lai và phá kiết sử, phiền não đều đã dứt, phạm hạnh đã lập, tự nhiên đầy đủ oai nghi, lìa cấu uế của việc phạm giới. Năm loại còn lại, đều là chúng phi pháp, chỉ có tên mà không có thật nghĩa.
Nói giới bổn cũng gọi là giới tâm. Bổn có nghĩa là bổn nguyên, căn bổn. Tâm có nghĩa là trung tâm, chủ yếu. Nay 250 giới pháp của giới bổn này, đều chép ra từ trong Quảng luật, vì điều này mà ở giữa toàn bộ, lấy đơn giản chế ngự phức tạp, nên ví dụ nó là bổn là tâm.
V. Danh số và thiên tụ trong giới bổn tỳ-kheo.
250 giới tỳ-kheo chia làm tám loại, hợp thành năm thiên bảy tụ (hoặc sáu tụ). Thiên là tên chương hay phẩm. Tụ là nghĩa tập hợp. Ở đây theo nghĩa sai biệt mà chia. Nếu chánh thức kết tội phạt thì là sáu tụ. Nay trước phân biệt rõ tám loại danh nghĩa, rồi thuyết minh sơ lược thiên tụ và hình thức khai hợp.
1. Bốn ba-la-di: Gọi là bốn giới nặng hay bốn giới căn bản. Trong pháp tỳ-kheo, tội này nặng nhất. Vì là chỗ dựa vào của giới pháp khác, nên gọi là căn bản. Từ tăng tàn trở xuống đều vì hộ trì giới nặng này mà thiết lập, không thể giữ giới nhẹ, thì giới nặng dễ phạm. Ba-la-di dịch tên bất nhứt: Ở đây gọi là khí, vì phạm một trong bốn lỗi này, giới thể tỳ-kheo liền mất, không được ở chung với Tăng, phải bỏ ra ngoài bờ biển Tăng, nên gọi là khí, cũng gọi là biên tội. Lại dịch là tha thắng, lúc mới phạm lập tức chẳng phải là sa-môn, chẳng phải giống họ Thích, mất tính tỳ-kheo, trái tính niết-bàn, đọa lạc đổ ngã, bị người tịnh hạnh khác bắt nạt đánh thắng, nên gọi là tha thắng. Lại tỳ-kheo việc chính là phải hàng phục phiền não ma quân, nay trái lại bị phiền não ma quân kia thắng phục, chịu thua chúng, đánh mất chỗ tôn quý của mình, nên gọi là tha thắng. Hoặc gọi là cực ác, vì không có tội ác nào hơn tội ác này. Hoặc dịch là đọa, vì phạm lỗi này, chết đọa A-tỳ. Lại đối với các trí (pháp trí, tỷ trí...) thối mất đọa lạc, không có phần đạo quả; lại đối với niết-bàn thối mất đọa lạc, không có phần chứng đạo; đối với phạm hạnh thối mất đọa lạc, không có phần đạo quả; tội đã phạm không thể phát lồ sám hối, cuối cùng mãi mãi đọa phụ xứ. Nên luật Ngũ phần nói: “Ba-la-di, gọi là ác pháp, gọi là pháp đứt đầu, gọi là chẳng phải pháp sa-môn. Như kim sứt mũi, không dùng lại được; như mạng người hết, không sống lại được; như đá bể, không hợp lại được; như lõi cây đa-la bị chặt, không sinh lại được.” Những điều này đều nói là quá sức nặng, người phạm không dùng được vào việc Tăng. Nên Luật Nhiếp nói: “(Chưa xuất gia) trước là người tục, không có phần tỳ-kheo, lúc sau phạm giới, không khác với thể của người tục trước.” Trong luật tuy có pháp “cho học”, nhưng trọn đời bị đoạt hết 35 việc. Như lúc Tăng thuyết giới yết-ma, đến tham dự hay không đến, chúng Tăng không có lỗi. Nên Mẫu kinh nói: “Cho học rồi, gọi là trì giới thanh tịnh, nhưng trọn thân này không thoát ly sanh tử được, chỉ ngăn cản không vào địa ngục mà thôi.” Kinh Phật thuyết phạm tội khinh trọng nói: Phạm tội ba-la-di, như Tha Hóa Tự Tại thiên thọ 16 ngàn tuổi (1.600 năm ở nhân gian là một ngày một đêm ở cõi trời đó) , đọa trong địa ngục “Diễm nhiệt”, đối với cõi người số ấy là chín trăm hai mươi mốt ức sáu trăm vạn năm (921.006.000.000 năm).
2. Mười ba tăng-già-bà-sư-sa: Tăng-già, Trung Quốc gọi là chúng, bà-sư-sa, Trung Quốc gọi là tàn. Gọi tắt là tăng tàn. Luật Thập tụng nói: “Tội này thuộc Tăng, trong Tăng có tàn, do hối lỗi trước Tăng chúng diệt được, đó gọi là tăng-già-bà-thi-sa.” Phạm bốn ba-la-di trước, gọi là không có dư, như người đã chết, không có dư tàn có thể trị. Mười ba pháp này, thể có dư, còn có chỗ dư tàn có thể trị. Tỳ-ni mẫu nói: “Tăng tàn là như người bị người khác chặt, còn thừa có yết hầu, gọi đó là tàn. Như hai người cùng vào trong trận, người thứ nhứt bị người khác hại mạng dứt, người thứ hai bị người khác hại mạng căn còn một ít chưa dứt, nếu được thầy giỏi thuốc hay, cứu chữa có thể được khỏi nếu không thì không được khỏi. Phạm tăng tàn cũng lại như thế, có một ít lý có thể sám hối, nếu được đại chúng thanh tịnh thuyết pháp sám hối trừ tội đúng pháp cho, thì tội này trừ được. Nếu không có đại chúng thanh tịnh thì không thể trừ được, đó gọi là tăng tàn.” Phạm pháp tăng tàn, nếu sau khi phạm mà che giấu, thì theo số ngày che giấu cho hành pháp biệt trú (ba-lợi-bà-sa), hành pháp biệt trú rồi, lại cho hành sáu đêm ma-na-đỏa (Trung Quốc gọi là ý hỷ), tức bảo làm các việc nặng nhọc để phục vụ cho đại chúng thanh tịnh, khiến tự tâm hoan hỷ, cũng làm cho đại chúng hoan hỷ. Luật Thiện kiến nói: “Ma-na-đỏa, tiếng Hán nói là chiết phục cống cao, cũng nói hạ ý. Hạ ý là thừa sự chúng Tăng.” Nếu sau khi phạm liền phát lồ sám hối, thì không thêm phú tàng, tức không phải hành pháp biệt trú, mà cho hành ngay sáu đêm (tức sáu ngày) ý hỷ. Thực hành hạnh ý hỷ rồi, nhiên hậu ở trong 20 vị Tăng thanh tịnh xuất tội, nếu thiếu một người không đủ số 20, thì tội không trừ được, nên tăng tàn, tuy nói có thể trị, nhưng có được 20 vị Tăng thanh tịnh cũng không phải dễ! Kinh nói: Phạm tăng-già-bà-thi-sa, như trời Hóa Lạc thọ tám ngàn tuổi (800 năm ở nhân gian là một ngày một đêm ở cõi trời đó), đọa trong địa ngục (Đại khiếu hoán), con số ấy ở cõi người là hai mươi ba vạn linh bốn trăm vạn năm. (2.304.000.000 năm)
3. Hai bất định: Bất định, vì thể của tội này không có định tướng, gồm có nhiều tội, không thể nói cố định, mà đương sự phải chấp nhận rồi sau mới xác định được, sau đó dựa vào sự vi phạm mà luận trị, nên gọi là pháp bất định. Nhóm này có hai điều, nên nói là hai bất định. Nếu luận về phiền não đều nhiếp trong giới dâm. Thứ nhất bất định ở trong ba pháp (ba-la-di, tăng tàn, ba-dật-đề), thứ hai bất định trong hai pháp (tăng tàn và ba-dật-đề). Luận Tát-bà-đa nói: “Lúc đức Phật ngồi ở đạo tràng đã quyết định năm thiên giới, nặng nhẹ thông tắc, không pháp nào không xác định. Điều này sở dĩ nói là bất định, vì trực tiếp nhờ người đáng tin, mà người ấy không biết tội tướng nặng nhẹ, cũng không biết tên tội. Giả sử ngồi chung với người nữ một chỗ, không biết là làm việc gì: Hoặc là cùng hành dâm, hoặc là làm việc xúc chạm, hoặc là nói lời thô tục, hoặc là nói quá năm sáu lời, nên nói bất định.” Loại bất định trong giới của Ni không có. Khổ báo của việc phạm tội, nhứt nhứt căn cứ vào tội nặng nhẹ có thể biết.
4.Ba mươi ni-tát-kỳ ba-dật-đề: Ni-tát-kỳ, Trung Quốc gọi là xả; ba-dật-đề, Trung Quốc gọi là đọa. Lại nói: Ni, Trung Quốc nói tận; tát-kỳ, Trung Quốc nói xả. Vì phạm vào tài vật, phải xả hết cho Tăng. Đã xả vật rồi, còn có tội đọa, phải đối trước tỳ-kheo thanh tịnh khác hành pháp sám hối. Ba mươi xả đọa, tội đồng với chín mươi đơn đọa ở sau, chỉ có vật được xả là khác. Phạm vào tài vật phải xả, xả có ba nghĩa: Một là xả tài vật, đây là duyên phạm tội, tài vật không xả thì pháp sám hối không thành. Hai là xả tâm, đây là nhân khởi phạm, tâm không xả thì nhân luân lưu không dứt. Ba là xả tội, chỗ phạm tội đọa là nghiệp nhân cảm ra sanh tử, tội không xả thì hạnh ô nhiễm không mòn. Trong ba xả này, nếu thiếu một thì không thanh tịnh. Nếu được tài vật lại, tức mắc tội ấy, vì điều phạm trước bị nhiễm ô. Luận Tát-bà-đa nói: “Y đã xả, tội đã hối quá, mà tâm mong cầu không dứt, nếu ngày đó cho đến một tháng, được y trước hay y khác, thì tất cả phạm xả đọa. Do tâm tìm cầu không dứt, thì được y ngày nào mắc tội ngày đó, không phải qua ngày khác. Nếu xả y ngay trong ngày, hối lỗi tâm dứt, ngày sau lại sinh tâm tìm kiếm y, thì không phạm. Vì tâm dứt khoảng giữa. Nếu y đã xả, tâm tìm cầu đã dứt, mà tội chưa hối lỗi, ngay đến nhiều ngày khiến được y trước hay y khác, thì nên xả và sám hối tội đột-cát-la.” Nên phải xả đủ cả ba, mới gọi là thanh tịnh. Sau đó nếu trả lại y trước, thì việc ấy đồng với được cái mới, hoặc thọ trì hoặc thuyết tịnh đúng pháp, mới được chứa. Trong ba mươi xả đọa, trừ hai vật quý báu không được đối trước người thọ đại giới mà xả, như đồ nằm (ngọa cụ làm bằng tơ tằm phải cắt chặt cho hư hoại và bỏ vĩnh viễn, tất cả vật còn lại phải xả trong Tăng. Kinh nói: Phạm ba-dật-đề, như trời Dạ-ma thọ 2.000 tuổi (200 năm ở cõi người là một ngày một đêm ở cõi trời ấy), đọa trong địa ngục (Chúng hợp) số ấy đối với cõi người là một vạn bốn ngàn bốn trăm vạn năm. (144.000.000 năm)
5. Chín mươi ba-dật-đề: Ba-dật-đề, Trung Quốc gọi là đọa. Về thể tính thì đồng với ba mươi xả đọa ở trước, chỉ không có vật để xả là khác. Ở trước theo vật mà luận việc phạm, nên trước phải xả vật tham cầu, rồi sau sám hối tội phạm, nên nói xả đọa. Nay theo việc làm mà biện biệt điều trái, nên thực hành ngay việc sám hối trừ tội, vì không có vật để xả, nên lại gọi là đơn đọa. Luật Nhiếp nói: “Ba-dật-để-ca, gọi là nấu đốt, nghĩa là đọa vào ác thú.” Đốt nấu chính là chỉ đọa xứ mà nói. Luật căn bản nói: “Vì người phạm tội đọa trong địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, ác đạo, chịu khổ đốt nấu. Lại phạm tội này, nếu không ân cần thuyết trừ, thì ngăn cản tất cả pháp lành.” Tuy những tội khác đều có nghĩa đọa, nhưng khổ thiêu nấu này dành riêng mục đọa, nên độc nhứt có tên đọa. Tội đọa này hợp với ba mươi xả đọa trước có 120 pháp ba-dật-đề.
6. Bốn ba-la-đề đề-xá-ni: Trung Quốc không có chánh dịch, nghĩa là hướng bỉ hối. Nếu luận về tính của tội thì đồng với ba-dật-đề mà nhẹ hơn. Bốn pháp này đều do thức ăn mà khởi tham, làm mất sự kính tin của người, nên đức Phật ngăn cấm. Tuy tất cả tội đều phải đến người khác để kể tội sám hối, nhưng nếu phạm bốn pháp này, phải lập tức đến người khác phát lồ sám hối, xin quở trách, nên riêng nhận tên hối. Luật Nhiếp nói: “Như đối với bí-sô của trú xứ hiện tại, đều phải nhứt nhứt nói ra riêng với họ. Không đồng tội khác nên nhận tên riêng. Lại phạm tội rồi, phải lập tức nói ra không được dừng lại, cũng khác với tội khác.” Luật Tăng-kỳ, Thập tụng và bộ này đều bảo đến một người nói ra chừng một lần, phát lồ hối lỗi, tội liền diệt được. Kinh nói: Phạm ba-la-đề đề-xá-ni, như trời Ba Mươi Ba thọ 1.000 tuổi (100 năm ở cõi người là một ngày một đêm ở cõi trời đó), đọa trong địa ngục (Hắc thằng), số ấy đối với cõi người là ba ngàn sáu trăm vạn năm. (36.000.000 năm)
7. Một trăm chúng học pháp: Giới tướng của thiên này nhiều và phức tạp, nên nói chúng; nay chỉ liệt kê số 100 nên nói 100; pháp là việc phải học. Tiếng Phạn là thức-xoa-ca-la-ni, Trung Quốc gọi là ưng đương học, theo giới hạn của hành động mà lập danh. Luật Nhiếp nói: “Chúng học pháp là trong quảng thích có rất nhiều ác tác, ác thuyết đều bao hàm trong chúng học pháp, cho nên nói chung là chúng học pháp.” Chúng học pháp này, theo luật Tứ phần nói có 100 việc, có thể tóm lược thành chín điều: Một là mặc y; hai là vào thôn xóm; ba là ngồi đứng; bốn là ăn uống; năm là giữ gìn bát; sáu là thuyết pháp; bảy là tháp tượng; tám là tiện lợi; chín là nhìn xem. Các bộ khác liệt kê có sự khai hợp rộng hẹp bất đồng: Luật Tăng-kỳ có 67 pháp, luật Ngũ phần có 108 pháp, luật Thập tụng có 113 pháp, Giới bổn giải thoát có 76 pháp, luật Căn bản có 43 pháp. Những điều này đều là việc làm giữ gìn oai nghi, không đồng với các thiên khác, nên số vô định. Đại tỳ-kheo có 3.000 oai nghi, 60.000 tế hạnh, nay liệt kê chỉ đến phần thô rõ dễ biết. Luận Tát-bà-đa: “hỏi rằng: Các thiên khác không nói ưng đương học, còn giới này sao riêng gọi như thế? Đáp: Các thiên khác dễ trì mà tội nặng, phạm thì thành tội, hoặc sám hối trong chúng, hoặc đối thú sám hối. Giới này khó giữ mà tội nhẹ, thiếu sót có phạm, thì tâm hối nhớ học tội liền tiêu diệt. Vì khó giữ mà dễ phạm, tâm luôn cẩn thận nhớ học, không kết thành tội danh, nên nói thẳng là ưng đương học.” Một trăm chúng học pháp, tuy không kết thành tội danh, nhưng nếu có phạm thì đều sám hối đột-cát-la. Đột-cát-la dịch là ác tác, theo giới hạn của lỗi phạm mà lập danh. Luật Tứ phần mở rộng thành hai nghiệp thân miệng: Thân nghiệp mất phép tắc gọi là ác tác, khẩu nghiệp trái luật chế gọi lá ác thuyết. Phạm có cố ý và nhầm lẫn, nên sám hối chia làm hai bực: Cố phạm, phải đối trước người khác hối lỗi; ngộ phạm thì tự trách tâm mình. Kinh nói: Phạm giới chúng học, như trời Tứ Thiên Vương thọ 500 năm (50 năm ở cõi người là một ngày một đêm ở cõi trới ấy), đọa trong địa ngục (Đẳng hoạt), số năm đối với cõi người là chín trăm vạn năm. (9.000.000 năm)
8 Bảy diệt tránh: Tỳ-kheo có việc tranh cải khởi lên thì dùng bảy pháp này tiêu diệt. Việc tranh cải có bốn loại:
a. Ngôn tránh: Là tỳ-kheo và tỳ-kheo tranh cải. Có 18 sự đưa đến tranh cải: (1). Pháp nói là phi pháp; (2). Phi pháp nói là pháp; (3). Luật nói là phi luật; (4). Phi luật nói là luật; (5). Phạm nói không phạm: (6). Không phạm nói phạm; (7). Khinh nói là trọng; (8). Trọng nói là khinh; (9). Tội sám hối được nói không sám hối được. (10). Tội không sám hối được nói sám hối được; (11). Tội thô ác nói không phải thô ác; (12). Tội không thô ác nói là thô ác; (13). Thường sở hành nói chẳng phải thường sở hành (Chánh pháp nói chẳng phải chánh pháp); (14). Chẳng phải thường sở hành nói là thường sở hành (Chẳng phải chánh pháp nói là chánh pháp); (15). Chế cấm nói chẳng chế cấm; (16). Chẳng chế cấm nói là chế cấm; (17). Thuyết nói là phi thuyết; (18). Phi thuyết nói là thuyết. Nếu do những hình thức như thế mà cùng tranh cải, rồi đưa đến hai bên cùng đấu tranh, đó là ngôn tránh. Nếu việc tranh cãi nổi lên thì phải dùng hai loại tỳ-ni: hiện tiền và đa nhân ngữ để diệt trừ. Hoặc chỉ dùng một loại tỳ-ni hiện tiền trừ diệt.
b. Mích tránh: Là tỳ-kheo tìm tội cho tỳ-kheo, dùng ba việc nêu lên: phá giới, phá kiến, phá oai nghi và thấy nghe nghi, tìm tội qua các hình thức như thế, đó là mích tránh. Khi việc mích tránh nổi lên, thì lấy bốn loại tỳ-ni để diệt: là hiện tiền, ức niệm và hiện tiền, bất si và hiện tiền, tội xứ sở.
c. Phạm tránh là phạm bảy loại tội: Một là ba-la-di; hai là tăng tàn; ba là đọa; bốn là hối quá; năm là thâu-lan-giá; sáu là đột-cát-la; bảy là ác thuyết, đó là phạm tránh. Khi việc phạm tránh nổi lên thì dùng ba loại tỳ-ni để diệt: là hiện tiền, tự ngôn trị và hiện tiền, thảo phú địa.
d. Sự tránh: Ba việc tranh cải ở trước nổi lên, đều gọi là sự tránh. Nếu sự tránh nổi lên, phải tùy theo chỗ phạm, như ngôn tránh, mích tránh, phạm tránh thì theo đó ứng phó, dùng bảy loại tỳ-ni để diệt. Nên bảy diệt tránh chính là lấy bốn loại sự tránh nổi lên hợp với bốn cách tranh cải diệt được mà thành tên. Nếu luận việc phạm để kết tội, thì có người nói phải nhiếp vào ba-dật-đề, cũng có người bảo là đột-cát-la.
250 giới chia làm 8 loại như đã nói trên, các bộ luật điển, dưới ba-dật-đề đều có hai loại chúng học pháp và bảy diệt tránh, nhưng đều không kết thành tội danh, ở trên đã đề cập sơ lược về ý nghĩa của chúng. Nên Đạo sư Ấn Thuận nói: “Chúng học pháp xuất xứ trong pháp oai nghi, câu kết nói ưng đương học, không có loại kết tội của sáu nhóm trước. Bảy diệt tránh chính là pháp thực hành hối lỗi, dừng sự tranh cải, rút ra trong tạp bạt cừ, không phù hợp với danh nghĩa của ba-la-đề-mộc-xoa. Hai phần này nên nói thẳng là phương tiện học tập của người hậu học mà thêm lợi ích. Giới kinh bản xưa, đúng là bốn ba-la-di, mười ba tăng-già-bà-thi-sa, hai bất định, ba mươi ni-tát-kỳ ba-dật-đề, chín mươi hai ba-dật-đề, bốn hối quá mà thôi.” (Tư liệu: Ở đây dựa vào số liệt kê của luật Tăng-kỳ). Thuyết ấy đã có nguồn gốc, thêm vào đây để cung cấp cho việc tham khảo nghiên cứu giới pháp.
Tám loại thu vào thành năm thiên: Ba-la-di là thiên thứ nhất. Tăng tàn là thiên thứ hai (hai bất định thuộc hai thiên trước). Ba-dật-đề là thiên thứ ba, ở đây hợp (ba mươi xả đọa và chín mươi đơn đọa) chung thành một thiên. Đề-xá-ni là thiên thứ tư. Đột-cát-la là thiên thứ năm, hợp (một trăm chúng học pháp và bảy diệt tránh) cộng thành một thiên.
Năm thiên mở ra thành bảy tụ: Trong thiên thứ nhất và thứ hai mở ra một tụ thâu-lan-giá, và trong thiên thứ năm chia thành hai tụ: ác tác, ác thuyết, nên thành bảy tụ. Ác tác, ác thuyết đã nói trong một trăm chúng học. Thâu-lan-giá dịch là đại chướng thiện đạo, hoặc thô ác, thô quá. Luật Thiện kiến nói: “Thâu-lan gọi là đại, giá nói là chướng thiện đạo. Sau khi đọa ác đạo, thì theo thể thô bỉ uế ác và theo thể bất thiện để lập danh. Tại vì thành tội của thiên thứ nhất và thiên thứ hai.” Luận Minh liễu giải thích “Thâu-lan là thô, giá tức là lỗi. Thô có hai loại: Một là tội nặng phương tiện, hai là cắt đứt căn lành. Nói là lỗi, vì không dựa vào giới Phật lập mà hành, nên nói lỗi vậy.” Trong tội thâu-lan-giá có hai loại: tùng sinh và độc đầu. Tùng sinh là nhân phạm tội ba-la-di và tăng tàn chưa thành, cũng gọi là tội phương tiện. Trong phương tiện lại luận về ba phẩm thượng trung hạ. Độc đầu cũng gọi là tự tính, vì năm thiên không thu nhiếp các tội quả, như dâm tử thi, ăn trộm dưới năm tiền. Trong đây tuy có sai biệt về nhân quả, nặng nhẹ, nhưng vì nặng nhứt trong đó nên liệt vào ba-la-di, kế tăng tàn, thâu-lan-giá là tụ thứ ba trong bảy tụ.
Lại thu nhiếp thành sáu tụ, là năm tụ trước như trước, tức lại hợp ác tác và ác thuyết thành một đột-cát-la. Nhưng chính luận về tội phạt, thì chỉ dựa vào sáu tụ. Nay liệt kê một biểu đồ để chỉ ra hình thức khai hợp.
Tám lọai
|
Năm thiên
|
Bảy tụ
|
Sáu tụ
|
Quả báo
phạm giới
| ||||||||
4 Ba-la-di
|
Ba-la-di
|
Ba-la-di
|
Ba-la-di
|
Địa ngục
Diễm nhiệt
| ||||||||
13 tăng tàn
|
Tăng tàn
|
Tăng tàn
|
Địa ngục
Đại hào khiếu
| |||||||||
Chỉ trì 250 giới
|
2 bất định
|
Tăng tàn
|
Thâu-lan-giá
|
Thâu-lan-giá
|
Địa ngục
Hào khiếu
| |||||||
Giới pháp
tỳ
|
30 ni-tát kỳ
90 ba-dật-đề
|
Ba-dật-đề
|
Ba-dật-đề
|
Ba-dật-đề
|
Địa ngục
Chúng hợp
| |||||||
kheo
|
Tác trì
20 kiền
|
4 đề-xá-ni
|
đề-xá-ni
|
đề-xá-ni
|
đề-xá-ni
|
Địa ngục
Hắc thằng
| ||||||
độ
|
100 chúng học
7 diệt tránh
|
Đột-cát-la
|
Ác tác
Ác thuyết
|
Đột-cát-la
|
Địa ngục
Đẳng hoạt
|
VI. Một chút nguyện vọng của sự giảng thuyết giới pháp.
Giới pháp, đặc biệt là giới pháp tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni, dường như rất ít có người đã từng cố gắng thực hành, ngay cả người giảng thuyết, nghiên cứu, đọc tụng sợ cũng rất ít. Cho dù có nghe lúc làm việc truyền giới, thọ giới, gọi là tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni cũng ngày càng tăng nhiều, nhưng giới pháp của tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni dường như không có người cần chất lượng giống nhau, đi chầm chậm ở một bờ, mà rất ít có người hỏi bến, điều này đúng là sự thực không có điều gì kiêng dè không nói. Chế độ tự miếu của Trung Quốc cho đến những việc xuất gia, thu nhận môn đồ, thọ giới, đều không hợp với chế độ vốn có của Ấn Độ, đến hiện tại càng ngày càng xa! Là người từng lật xem qua giới pháp, đều có sự đồng cảm. Nói đây là hiện tượng mạt pháp phải có, còn có thể được, nhưng làm một cá nhân lấy Phật pháp trụ trì làm nhiệm vụ của mình, mà đối mặt với hiện tượng pháp diệt loại này, như quả không thức đọng trong lòng, không nghĩ đến sự cứu vãn, mà tự mình cũng đang biểu diễn hiện tượng pháp diệt, thì Phật giáo kiểu đó rất đáng thương! Hiện tại đến đâu cũng có thể nghe thấy: “Giới luật không hợp thời nghi”, “hiện tại còn bàn giới gì”, “có việc ấy chiếu theo giới pháp làm ư!” Nghe thấy người nào học giới, trì giới, thì dường như những người trong xã hội nghe thấy học thuyết của Khổng Mạnh không khác, không khỏi chứa đựng ý nghĩa thủ cựu, xa rời hàng ngũ, tưởng pháp không hợp thời nghi. Một ít người cho rằng phạm giới là có dũng, lấy việc phạm giới làm tiến bộ, một ít hiện tượng này tùy nơi có thể nhìn thấy nghe thấy. Nhưng những giới đó rốt ráo không hợp thời nghi chăng? Làm một người xuất gia hiện đại phải chăng có thể không cần giới? Sở dĩ chúng ta không thể chiếu theo giới pháp thực hành lấy, là chúng ta không chịu làm, hay là bản thân giới pháp có khuyết điểm gì? Tựa hồ rất ít có người thảo luận, nghiên cứu lấy. Chỉ nói một tiếng: Giới luật không hợp thới nghi, thì đem toàn bộ luật chế của Phật giáo làm cho đổ nhào! Một hạng già như thế đó, một lớp người sau chiếu theo kiểu học ấy, thì mọi người đem chế độ, mẫu mực luật pháp ném lại một bên, mỗi mỗi dựa vào tình kiến của mình và thích ứng theo tất cả, có lúc một ít người vô tri được khen ngợi, có người do đó mà giải quyết xong vấn đề của riêng mình, vì vậy lại vui mừng ra mặt, mà làm việc không kiêng sợ. Người khác cũng không chịu lạc hậu, mọi người noi gương lẫn nhau, cho rằng phàm có thể được người đời chú ý tới một lần, thì có thể phục hưng Phật giáo. Cái biết vòng vo như thế, cũng như một con ngựa thoát khỏi dây cương, nhất định sẽ không có kết quả tốt; và sự thoát ly lời dạy của Phật về giáo thọ giáo giới của Phật-đà loại đó, thì vận mạng của Phật giáo cũng nhất định phải đi đến diệt vong. Ở trước đã từng nói, giới luật là thọ mạng của Phật pháp. Hiện tại mọi người không cần giới luật, không khác ngay cả việc chặt đứt thọ mạng của Phật pháp. Chỗ rốt ráo của Phật giáo và tri thức học vấn thông thường là bất đồng. Phật giáo là tôn giáo, mà tôn giáo thì không thể không có quy chế và sự ràng buộc, nếu không sao lại quý hồ là một của ba ngôi báu? Cho nên không muốn Phật pháp trụ trì thì thôi, nếu muốn Phật pháp trụ trì thì không thể không bảo tồn chế độ xuất gia. Có chế độ xuất gia thì phải có pháp luật và chuẩn mực xuất gia, nhưng những pháp chế và chuẩn mực này, ắt phải nghiên cứu từ trong luật chế vốn có, những việc kia không hợp thời nghi thì không có pháp hành thông được, những điều này không hợp thời nghi thì hành giới pháp hành thông, đối với Phật pháp có liên quan gì, dựa vào câu nói “giới nhỏ nhặt có thể xả” thì có thể hay không thể bỏ. Lại những điều ấy tất phải tuân thủ, không tuân thủ thì không phải Phật pháp, không giống người xuất gia. Trong xã hội loài người hiện tại, tất cả hành sự của Phật giáo cái gì là nên thích ứng, lại cái gì là tuyệt đối không thể thích ứng. Tất cả những điều này đều nên nghiên cứu thảo luận tỉ mỉ.
Chư vị hãy yêu cầu giảng giới tỳ-kheo trong mùa hè, chính tôi tuy không phải người chuyên môn nghiên cứu giới học, lại không nói được vấn đề nghiên cứu và cố thực hiện, nhưng những năm gần đây, vì phần nhiều ở phương diện chỉ dạy cho người học mà dốc sức, lại thấy trong hàng ngũ học tập giáo lý sản sinh ra rất nhiều hiện tượng thiên tà, cảm thấy rất thấm thía: Giới học không những quan hệ với sự tồn vong của Phật pháp, mà còn quan hệ tới sự tốt xấu của Tăng đoàn, lại quan hệ với sự thăng trầm của cá nhân; cho nên dạy người và tự mình cố gắng kỳ vọng, đều nhiều ít khuyến khích và coi trọng ở phương diện này, cũng nguyện mọi người học giới trì giới. Chư vị phần nhiều là những người mới thọ giới cụ túc, có thể dựa vào di huấn của đức Phật “năm hạ về trước chuyên nghiên cứu giới luật”, một phen xem xét ở phương diện giới pháp thiết thực, điều đó rất bình thường. Xem cái gì là phải phụng hành mà lại phụng hành được, cái gì là hành không thông, tốt nhất là nghiên cứu thảo luận hơn nữa từng điều, tập hợp trí tuệ, để đạt được một kết luận cuối cùng, phàm cái gì cần phải phụng hành mà lại có thể phụng hành thì chiếu theo đó mà làm. Đức Phật chế định phải thực hành mà sự thực hoàn cảnh không cho phép, thì phải dùng phương pháp gì để bổ cứu. Ví dụ như làm nghĩa vụ quân sự, sự kiện này đồng với việc ra ra vào vào trong Tăng đoàn, Tăng tục bất thường, phải dùng phương pháp gì xử lý. Cho đến thu học trò, ở chùa, giữ mình, học pháp, thọ giới... đều phải nghiên cứu tìm hiểu. Tìm học nhiều người, thời gian lâu dài, rồi sau lấy ý kiến đa số định làm tiêu chuẩn. Đại sư Thái Hư trong nghiên cứu luật nghi nói: “Thông nhỏ thấu lớn, hợp xưa thích nay, thăm dò trong ngoài, nghiên cứu gốc ngọn, mà mở ra xây dựng hợp với luật nghi của thời thế nhân tâm.Thấy được đường đi, mới là thực học, chẳng phải chỉ rặt nói suông mà thôi.” Tóm lại, bất luận thời đại tiến bộ đến trình độ nào, Tăng chúng xuất gia phải có một chế độ hoàn hảo và có thể thực hành, mới có thể tự tồn, mới có thể lợi người. Nếu không thì tất cả đều là việc nói không đạt tới. Điều này chính tôi những năm gần đây chú trọng, hứng thú giảng thuyết xướng đạo giới hạnh.
Người nữ xuất gia chia làm ba bực: Sa-di-ni, thức-xoa-ma-na-ni, tỳ-kheo-ni. Giới của sa-di-ni hoàn toàn giống với sa-di. Sáu giới pháp của thức-xoa-ma-na là bực thềm trước của người nữ xuất gia tiến lên thọ giới tỳ-kheo-ni. Giới tỳ-kheo-ni đại khái đồng với tỳ-kheo. Nay trình bày khái quát chỗ nổi bậc của chúng, để thấy sự bất đồng giữa hai chúng Tăng, Ni.
VII. Nguồn gốc của Ni chúng xuất gia thọ giới.
Người nữ xuất gia bắt đầu ở bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề, dì của đức Phật (Trung Quốc gọi là Đại Ái Đạo hay dịch là Đại Sinh Chủ); kinh luật gọi là Kiều-đàm-di; Kiều-đàm, tức là Cù-đàm, là họ; di là giọng nữ; gọi Kiều-đàm-ma tức là giọng nam.) Trong thời gian đó có một đoạn chuyện kể phức tạp, được các bộ luật cùng ghi chép, thuộc sự thực. Đức Phật vốn không nghĩ đến độ người nữ xuất gia, qua sự thỉnh cầu khẩn thiết của bà Đại Ái Đạo, đức Phật chỉ cho phép cạo tóc và mặc cà-sa, tinh tấn hành đạo, không cho thọ giới cụ túc. Như luật Ngũ phần quyển 29 nói: “Từ xưa chư Phật đều không cho người nữ xuất gia; những người nữ tự dựa vào Phật ở nhà cạo đầu và mặc cà-sa, cần hành tinh tấn, được đắc đạo quả. Chư Phật vị lai, cũng lại như vậy. Nay tôi cho Bà lấy việc này làm pháp.” Nếu căn cứ luật Tứ phần chép: “Bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề và năm trăm người nữ họ Xá-di đều cùng cạo tóc và mặc cà-sa, đến tinh xá Kỳ Hoàn nước Xá Vệ, đứng ở ngoài cửa, đi bộ chân rướm máu, bụi đất bám vào người, khóc chảy nước mắt”, thì dường như là những người đó tự làm việc cạo tóc và mặc cà-sa, để biểu thị ý chí kiên quyết, và yêu cầu đức Phật cho phép xuất gia. Ngày nay nghe nói những nước Xiêm-la (Thái Lan), Miến Điện không có tỳ-kheo-ni tăng, nhưng có cạo tóc và mặc mạn y, ở trong chùa mà tu hành. Nước ta (Trung Quốc) niên hiệu Nguyên Gia đời Lưu Tống về trước cũng có người nữ cạo tóc mặc mạn y mà tu hành, chế độ hợp với luật Ngũ phần đã nói. Bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề và năm trăm người nữ họ Xá-di không cho việc “ở nhà cạo tóc mặc cà-sa” là đủ, nên không nề đi bộ đường xa đến nước Xá Vệ, xin đức Phật cho xuất gia thọ giới cụ túc. Qua trung gian cầu thỉnh một cách uyển chuyển của ngài A-nan; đức Phật còn nhiều e ngại, không muốn cho, đức Phật nói: “A-nan! Thôi đi, đừng mong muốn cho người nữ xuất gia thọ đại giới trong Phật pháp. Vì sao? Nếu người nữ xuất gia thọ đại giới ở trong Phật pháp, thì làm cho Phật pháp không lâu dài! Ví như có nhà vị trưởng giả, nam ít nữ nhiều, thì biết nhà ấy sẽ suy vi; như thế A-nan! Nếu người nữ xuất gia thọ đại giới ở trong Phật pháp, thì làm cho Phật pháp không tồn tại lâu dài!” Ngài A-nan lại vì họ hỏi: “Người nữ xuất gia thọ đại giới ở trong Phật pháp, có thể được đắc quả Tu-đà-hoàn cho đến quả A-la-hán không?” Đức Phật đáp: “Đắc được”. Ngài A-nan vì họ xin một lần nữa: “Người nữ xuất gia thọ đại giới ở trong Phật pháp đã có thể đắc quả Tu-đà-hoàn cho đến quả A-la-hán, vậy xin đức Phật cho phép họ xuất gia thọ đại giới.” Đến đây Đức Như lai tuy biết rõ người nữ xuất gia thọ đại giới, đối với Phật pháp có nhiều trở ngại, nhưng về tình về lý đã có cái thế không cho không được, mới đề xuất tám pháp không được vượt qua (cũng gọi là bát kính pháp) bảo A-nan: “Nay vì người nữ chế tám pháp trọn đời không được vượt qua, nếu thực hành được, thì cho thọ giới...” Ngài A-nan đem lời Phật dạy báo cho bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề biết, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề và năm trăm người nữ họ Xá-di nghe rồi vui mừng. Trong tám pháp không được vượt qua chỉ: “Tỳ-kheo-ni 100 tuổi thấy tỳ-kheo mới thọ giới phải đứng dậy nghinh tiếp lễ bái” cảm thấy bất tiện, hy vọng đức Phật cho họ “tùy lớn hay nhỏ mà lễ tỳ-kheo”. Ngài A-nan đem ý này bẩm lên đức Phật, đức Phật vô cùng cảm khái rày ngài A-nan: “Nếu Ta cho phép tỳ-kheo-ni theo lớn nhỏ lễ tỳ-kheo thì không có việc đó!” Và nói rộng nguyên nhân ấy rằng: “Người nữ có năm chướng ngại: Không được làm vua cõi trời Đao-lợi (Thiên Đế Thích), vua Ma thiên, Chuyển luân Thánh vương, Pháp vương ba cõi. Nếu không cho người nữ xuất gia thọ giới cụ túc, thì chánh pháp của Phật ở đời 1.000 năm, nay cho họ xuất gia thì giảm 500 năm!... Nếu người nữ không xuất gia thọ giới cụ túc trong giáo pháp của Ta, thì sau khi Ta bát-niết-bàn, các ưu-bà-tắc và ưu-bà-di sẽ mang bốn sự cúng dường theo sau tỳ-kheo, bạch rằng: ‘ Thưa Đại đức! Xin thương xót con, nhận sự cúng dường của con.’ Nếu ra cửa thấy, liền sẽ dắt tay nói: ‘ Thưa Đại đức! Đối với con có ơn, xin tạm qua ngồi, khiến con được an’. Nếu gặp nhau ngoài đường, đều sẽ mở tóc ra phủi chân tỳ-kheo, và trải ra để tỳ-kheo đạp lên. Nay cho họ xuất gia thì việc này gần như hết!” Ngài A-nan nghe nói một hồi rồi, cũng có hối hận là không nên có tình cảm lúc đầu. Nhưng đức Phật lại nói lời nhỏ nhẹ an ủi Ngài rằng: “Ma che tâm ông, cho nên như thế!” Đồng thời bảo A-nan rằng: “Nay cho người nữ xuất gia thọ giới cụ túc, phải thuận theo chỗ chế định của Ta, không được có sự trái phạm! Chỗ Ta không chế, không được chế bừa!” Ngài A-nan lại đem lời Phật dạy báo cho bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề biết. Bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề và năm trăm người nữ họ Xá-di mới nhận lãnh với tâm hết sức cung kính, y giáo phụng hành, như thế “tức thành xuất gia, thọ giới cụ túc”. Đó là nguồn gốc của tỳ-kheo-ni xuất gia thọ giới.
Người nữ xuất gia và thọ đại giới đã có một quá trình gian nan như đã nói trên, lại phải thọ giới nơi tỳ-kheo Tăng, lễ kính tỳ-kheo, cho đến an cư, tự tứ, nửa tháng cầu thỉnh giáo giới..., đều phải dựa vào tỳ-kheo Tăng. Đến nay xem lại chế độ Ni chúng, dường như không hợp với nguyên tắc nam nữ bình đẳng, nên có người thừa nhận điều này thích ứng với xã hội phụ hệ phong kiến mà chế định. Nhưng ý Phật nhắm đến chỗ sâu xa, tuyệt đối không đơn giản như thế. Phật là người có nhứt thiết trí, đối với các sự lý không điều gì không hiện biết theo nhiều cách nhìn. Đức Phật chế giới nhiếp Tăng, chỉ có một mục đích “khiến chánh pháp trụ lâu”. Hai chúng xuất gia (hoặc năm chúng) đã hiến thân cho Phật giáo, là tràng tướng của Phật pháp, cho nên hai chúng tại gia không luận tuổi tác lớn nhỏ, hoặc nghe đạo trước sau, đều phải thân cận thừa sự lễ bái cúng dường tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni Tăng. Nhưng trong chúng xuất gia lại lấy tỳ-kheo tôn kính làm đầu, nên chế định tỳ-kheo-ni phải lễ bái thừa sự tỳ-kheo, để chỉ ra rằng trách nhiệm có quy định, việc đã có chủ, mới có thể thu được hiệu quả và lợi ích “chánh pháp trụ lâu.” Vị trí của tỳ-kheo ở địa vị gia trưởng của Phật giáo, trách nhiện trọng đại ấy không nói cũng rõ. Từ trên pháp tính bình đẳng mà nói thì nam nữ không có sự tâng bốc hay đè nén, nhưng luận từ trên sự tướng: Nam thì tính cương quyết, dũng cảm, chuộng lý trí, về phương diện sinh lý ít chướng ngại, đảm đương được đại sự. Nữ tính thì yếu mềm, khiếp nhược, trọng tình cảm, thêm chướng ngại nhiều trên mặt sinh lý, tính phụ họa cao, thiếu tinh thần đứng vững tự chủ, khó hy vọng có công lao. Tức hiện đại xướng lên rầm rộ nam nữ bình đẳng, cũng không thể không thừa nhận sự khác nhau về hai phái tính nam nữ. Kinh luật bảo người nữ không làm được Thiên Đế Thích cho đến Pháp vương ba cõi, chính theo lập luận này. Phật pháp rất trọng sự bình đẳng, nhưng trên sự thực có sự sai khác này, nên không được không ban bố giáo pháp và thiết lập quy chế riêng. Theo đây phàm trong kinh luật có chỗ chê trách người nữ, đều phải biết đây là cách xem bịnh mà cho thuốc, nếu hoàn toàn nhìn đồng luận điệu khinh thị nữ tính của xã hội phụ hệ phong kiến, thì dứt khoát không phù hợp với tinh thần thi hành giáo pháp và thiết lập sự giáo hóa của đức Phật . Đức Phật tuy xác nhận nam, nữ xuất gia thọ đại giới đều đắc được Sơ quả cho đến Tứ quả, nhưng theo giềng mối, khuôn phép, luật định, trên trách nhiệm nặng nề về sự trụ trì Thánh giáo, thì “nữ tính bỉ lậu nhu nhược, thiếu người kính tin, nên không lợi ích về sự hoằng hóa, trái lại bị hủy nhục.” Nên quy chế của Ni dựa vào đại Tăng, khiến từ trong sự sai biệt hoàn thành sự bình đẳng, thực tại này đức Phật đã một phen khổ tâm bất đắc dĩ!
VIII. Xem xét đối chiếu hai loại bát kính pháp.
Tám pháp không được vượt qua, cũng gọi là bát kính pháp. Các nơi liệt kê, tương đồng bất tận, đại để có thể chia làm hai loại: (1). Luật bộ cùng nói; (2). Trong kinh ghi riêng.
Luật bộ chép tám pháp hòa kính theo đại thể đều đồng, có một ít sai khác. Như luật Tứ phần, luật Ngũ phần, luật Căn bản thuyết nhứt thiết hữu bộ, về danh nghĩa của tám điều hòa kính phần lớn giống nhau, chỉ thứ tự trước sau có khác. Pháp hòa kính thứ tự theo luật Tăng-kỳ là: “Nếu đàn việt chưa từng cúng cơm cho Tăng hay bố thí giường đệm, mà tỳ-kheo-ni nhận trước thì vượt pháp hòa kính.” Nhưng thiếu những chi tiết của luật Tứ phần: “Tỳ-kheo-ni không được mắng nhiếc, quở trách tỳ-kheo, không được bài báng rằng: phá giới, phá kiến, phá oai nghi...” Lại điều hòa kính thứ sáu của luật Thập tụng là “Tỳ-kheo-ni nửa tháng thọ bát kính pháp từ tỳ-kheo”, luật Tứ phần… đều là: “Tỳ-kheo ni mỗi nửa tháng phải xin giáo thọ từ Tăng.” Pháp hòa kính thứ bảy (của Thập tụng): “Tỳ-kheo-ni nói với tỳ-kheo rằng: Cho tôi hỏi tu-đa-la, tỳ-ni, a-tỳ-đàm chứ? Tỳ-kheo cho phép thì được hỏi, nếu không cho phép thì không được hỏi”; nhưng thiếu “tỳ-kheo-ni không được mắng nhiếc, quở trách tỳ-kheo...” của luật Tứ phần...Nay dựa vào kiền-độ (chương) tỳ-kheo-ni trong luật Tứ phần liệt kê tám pháp không được vượt qua như sau:
1. Tỳ-kheo-ni tuy 100 tuổi thấy tỳ-kheo mới thọ giới phải đứng dậy tiếp rước lễ bái, và trải tòa sạch mời ngồi; phải tôn trọng, cung kính, tán thán pháp này, trọn đời không được vượt qua.
2. Tỳ-kheo-ni không được mắng nhiếc, quở trách tỳ-kheo, không được bài báng nói: phá giới, phá kiến, phá oai nghi; phải tôn trọng, cung kính, tán thán pháp này, trọn đời không được vượt qua.
3. Tỳ-kheo-ni không được tác cử(7), tác ức niện(8), tác tự ngôn(9) cho tỳ-kheo, không được ngăn mích tội, ngăn thuyết giới, ngăn tự tứ của người khác; tỳ-kheo-ni không được la rày tỳ-kheo, tỳ-kheo được la rày tỳ-kheo-ni; phải tôn trọng, cung kính, tán thán pháp này, trọn đời không được vượt qua.
4. Thức-xoa-ma-na học giới rồi thì xin thọ đại giới từ tỳ-kheo Tăng; phải tôn trọng, cung kính, tán thán pháp này, trọn đời không dược vượt qua.
5. Tỳ-kheo-ni phạm tội tăng tàn, phải hành pháp ý hỷ nửa tháng trong hai bộ Tăng; pháp này phải tôn trọng, cung kính, tán thán, trọn đời không được vượt qua.
6. Nửa tháng tỳ-kheo-ni xin giáo thọ từ Tăng; pháp này phải tôn trọng, cung kính, tán thán, trọn đời không được vượt qua.
7. Tỳ-kheo-ni không được an cư mùa hạ những nơi không có tỳ-kheo Tăng; pháp này phải tôn trọng, cung kính, tán thán, trọn đời không được vượt qua.
8. Tỳ-kheo-ni an cư rồi phải ở trong Tăng cầu ba việc tự tứ: thấy nghe và nghi; pháp này phải tôn trọng, cung kính, tán thán, trọn đời kông được vượt qua.
Trong kinh chép riêng, như kinh Đại Ái Đạo tỳ-kheo-ni, kinh Trung bản khởi; liệt kê tám pháp hòa kính có khác với các luật bộ nói. Nay liệt kê tám pháp hòa kính ấy như sau:
Một: Tỳ-kheo trì đại giới, người nữ tỳ-kheo-ni nên theo thọ chánh pháp, không được giỡn, cố ý khinh mạn, trêu chọc, lừa dối, ho cười, nói việc không cần kíp, cần sự hoan lạc của mình. (Kinh Trung bản khởi là: Tỳ-kheo trì đại giới, người nữ tỳ-kheo-ni nên theo thọ chánh pháp.)
Hai: Tỳ-kheo trì đại giới nửa tháng trở lên, tỳ-kheo-ni nên lễ bái thừa sự; không được cố nói: Tân sa-môn vất vả tinh tấn vậy ư? Hôm nay nóng lạnh mới như thế sao? Giả sử có nói lời ấy, thì làm cho ý của tân học tỳ-kheo bị loạn; phải tự cung kính, cẩn trọng tự tu, nỗ lực vui việc mới học, viễn ly, phòng ngừa dục vọng, điềm nhiên tự thủ. (Kinh Trung bản khởi là: Tỳ-kheo Tăng trì đại giới nửa tháng trở lên, tỳ-kheo-ni nên lễ bái thừa sự.)
Ba: Tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni không được kết bạn với nhau, cùng ở đồng dừng. Giả sử kết bạn với nhau cùng ở đồng dừng là không thanh tịnh, bị dục trói buộc, không khỏi tội căn! Phải tự chế một cách cứng rắn, cắt đứt dục tình minh bạch, điềm nhiên tự thủ. (Kinh Trung bản khởi là: Tỳ-kheo Tăng và tỳ-kheo-ni không được kết bạn với nhau cùng ở đồng dừng.)
Bốn: Ba tháng dừng lại ở một nơi, tự kiểm điểm, sửa chữa nhau, những điều nghe thấy phải tự xem xét. Nếu tà ngữ, nhận mà không đáp trả, nghe như không nghe, thấy như không thấy, cũng không tạo duyên qua lại, điềm nhiên tự thủ. (Kinh Trung bản khởi là: Ba tháng dừng lại một nơi, tự kiểm điểm sửa chữa nhau, những điều nghe thấy phải tự xem xét.)
Năm: Tỳ-kheo-ni không được trách hỏi tỳ-kheo vì thấy nghe; nếu tỳ-kheo có thấy nghe thì trách hỏi tỳ-kheo-ni, tỳ-kheo-ni liền phải tự xét lỗi lầm, không được lời to tiếng lớn, tự hiện thái độ ham muốn của mình. Nên tự kiểm điểm sửa chữa, điềm nhiên tự thủ. (Kinh Trung bản khởi là: Tỳ-kheo-ni không được trách nói việc của tỳ-kheo Tăng, vì thấy nghe; nếu tỳ-kheo Tăng có thấy nghe thì trách hỏi tỳ-kheo-ni, tỳ-kheo-ni liền tự xem xét.)
Sáu: Tỳ-kheo-ni có hy vọng đối với đạo pháp thì được hỏi tỳ-kheo Tăng việc của kinh luật; chỉ được nói về bát-nhã ba-la-mật, không được cùng nói việc không cần kíp của thế gian. Giả sử nói về việc không cần kíp, thì biết người đó chẳng phải vì đạo; đó là người phóng dật ở đời mà thôi! Hãy tự xem xét sâu, điềm nhiên tự thủ. (Kinh Trung bản khởi là: Tỳ-kheo-ni có hy vọng đối với đạo pháp thì được hỏi tỳ-kheo Tăng việc của kinh luật.)
Bảy: Tỳ-kheo-ni tự mình chưa đắc đạo, nếu phạm giới pháp, nên nửa tháng đến trong chúng Tăng tự sám hối lỗi, để bỏ thái độ kiêu mạn, nay lại như thế, tự biết xấu hỗ. Tự xem xét sâu điềm nhiên tự thủ. (Kinh Trung bản khởi là: Tỳ-kheo-ni tự chưa đắc đạo, nếu phạm giới luật, thì nên nửa tháng đến trong Tăng tự hối lỗi trước kia, để bỏ thái độ kiêu mạn.)
Tám: Tỳ-kheo-ni tuy 100 tuổi trì đại giới, nên ở dưới chỗ ngồi của tỳ-kheo mới thọ đại giới, nên lấy sự khiêm kính làm lễ. (Kinh Trung bản khởi là: Tỳ-kheo-ni tuy có 100 tuổi trì đại giới, nên ở dưới tỳ-kheo Tăng nhỏ mới thọ đại giới, dùng sự khiêm kính mà tác lễ.)
Đây là tám pháp hòa kính, Ta dạy người nữ nên tự kiểm thúc tu tập, không được vượt qua, nên học và thực hành trọn đời.
Điều hòa kính thứ hai và thứ tám của kinh đồng nghĩa với điều hòa kính thứ nhất của luật Tứ phần, nhưng tách nó làm hai: Điều hòa kính thứ hai thì ngăn cấm ở miệng, điều hòa kính thứ tám thì luận theo thứ tự mà ngồi. Đến như sự khiêm kính lễ bái, phụng sự thì hai điều hòa kính tương đồng. Điều hòa kính thứ năm của kinh gần giống điều hòa kính thứ ba của luật Tứ phần. Điều thứ sáu của kinh, không đồng luật Tứ phần; đồng nghĩa với điều thứ bảy của luật Thập tụng. Ngoài ra, điều thứ nhất, thứ ba, thứ tư, thứ bảy thì nhiều luật không có, còn điều thứ hai, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, thứ tám của luật Tứ phần, thì lại đều là những điều kinh không chép. Tuy tám điều hòa kính của luật bộ được chúng biết cả, nhưng kinh Đại Ái Đạo tỳ-kheo-ni và kinh Trung bản khởi liệt kê tám điều hòa kính theo sự phòng ngừa lỗi lầm và tiến đức nghiêm thân của Ni chúng mà nói, lại là điều cần thiết gần gũi trọng yếu. Điếu hòa kính thứ nhất của kinh dạy tỳ-kheo-ni không được mượn việc thọ chánh pháp mà cùng nhau đùa bỡn nói chuyện tạp; điều hòa kính thứ ba răn dạy tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni không được kết bạn với nhau cùng ở đồng dừng. Hai điều này phòng ngừa đình chỉ những điều kiện ô nhiễm giữa nam nữ và là căn bản thanh tịnh của hai chúng Tăng Ni, điều gọi là: “viễn ly, phòng dục, điềm nhiên tự thủ”; lời ấy tuy gần mà ý ngăn ngừa rất sâu xa.. Tăng ni đời mạt pháp đối với điều này phần nhiều chưa lưu ý, thấy Thánh huấn này không hoảng sợ! Theo điều hòa kính thứ tư của kinh thì Ni chúng sách tấn khuyến khích cùng nhau tu thân tiến đức mà nói; điều hòa kính thứ bảy thì có phát lồ sám hối làm mẫu mực; đều là điều kiện ắt đủ của việc tu đạo đoạn hoặc. Kinh lấy những điều này liệt kê thành pháp hòa kính của Ni chúng, cũng rất có ý nghĩa sâu xa tinh tế! Từ ngày nay quy chế của hai bộ Tăng đều đã chìm xuống, xem không được. Tám điều hòa kính của luật bộ, sự thực đã thành tờ giấy lộn khó giẫm lên! Nhưng kinh liệt kê tám điều hòa kính, phần nhiều thiết lập quy chế từ tự thân Ni chúng, còn gắng gỏi có thể thực hành, vẫn được coi là thanh tịnh. Nếu hợp điều này lại cũng không (nghiêm tịnh) thì ắt ứng với điều Như lai đã nói: “Nếu người nữ xuất gia thọ đại giới ở trong Phật pháp, thì làm cho Phật pháp không lâu dài!” Ni chúng phát tâm tốt xuất gia thọ giới cụ túc, đối với kinh văn này phải tìm hiểu biết ơn nhiều (tam trí kỳ ý).
Bát kính pháp là duyên đầu của Ni chúng hưng khởi, là pháp của bà Đại ái Đạo... dựa vào mà đắc giới. Từ đó về sau, tuy Ni chúng bạch yết-ma thọ đại giới, nhưng bát kính pháp cũng nhớ là điển phạm. Nếu dựa vào tám điều hòa kính của luật bộ, mà thất kính đối với pháp ấy thì mắc tội ba-dật-đề. Như trong 178 pháp ba-dật-đề của Ni: Giới không đến trong Tăng cầu giới cụ túc(139), giới nửa tháng không thỉnh giáo thọ sư (141), giới không đến đại Tăng tự tứ (142), giới không dựa vào đại Tăng an cư (143), giới trách mắng tỳ-kheo (145), giới trước không thỉnh tỳ-kheo-ni thường hỏi đại Tăng nghĩa (172), giới ni 100 tuổi không kính tỳ-kheo (175). Do đây mà xem thì tám điều hòa kính đã nhiếp trong pháp ba-dật-đề của Ni. Nếu phạm tám điều hòa kính, theo lý phải sám hối tội ba-dật-đề.
IX. Thiên tụ và danh số của giới tỳ-kheo-ni.
Người nữ xuất gia thọ giới lớn gọi là tỳ-kheo-ni. Mọi việc đồng với Tăng, như trong pháp tỳ-kheo nói. Phần Ni bộ có là, trong luật có văn rộng của giới tỳ-kheo-ni và chương (kiền-độ) tỳ-kheo-ni. Phần tác trì, ngoài thọ giới, sám hối tội tăng tàn, nửa tháng đến Tăng cầu thỉnh giáo giới, an cư, tự tứ khác ít với Tăng ra, còn các yết-ma đều đại để đồng với Tăng. Đến như chỉ trì, số lượng của các bộ luật dẫn ra thì bất đồng. Luật Tứ phần thuyết minh 348 pháp, rộng như phần thứ hai nói. Nay chỉ sơ về thiên tụ và danh số như sau:
1. Tám pháp ba-la-di: Bốn pháp trước giống với Tăng. Lại thêm: Giới xúc chạm, giới tám việc thành nặng, giới che tội nặng của người, giới tùy thuận tỳ-kheo bị cử tội được khuyên can ba lần mà không bỏ.(Tên giới dựa vào Hành sự sao, bên dưới cũng giống như thế.) Đó là tám.
2. Mười bảy pháp tăng-già-bà-thi-sa: Trong đây có bảy pháp đồng với Tăng: Giới làm mai cho người, giới hủy báng người tội nặng không có căn cứ, giới mượn căn cứ để hủy báng, giới phá Tăng không nghe lời can gián, giới giúp bạn phá Tăng không nghe lời can gián, giới làm hoen ố nhà người bị đuổi mà còn hủy báng Tăng, không nghe lời can gián, giới tính xấu chống cự Tăng không nghe lời can gián. Mười pháp tăng tàn còn lại, đều chế riêng cho Ni, chỉ “giới ở gần nhau làm hạnh xấu, không nghe lời can gián” trong đây, Ni kết tội tăng tàn, còn Tăng thì bất định.
3. Một trăm ba mươi pháp ni-tát-kỳ ba-dật-đề: Số đồng với tỳ-kheo, giới tướng không hoàn toàn đồng. Trong đây có mười tám đồng với luật chế của Tăng: Giới chứa y thừa quá hạn, giới lìa ba y (Ni năm) mà ngủ, giới được chứa vải trong một tháng chờ đủ để may y, giới xin y từ người tục không phải thân quyến, giới nhận y quá phần, giới khuyên Tăng giá trị của y, giới khuyên hai nhà tăng giá trị của y, giới đòi tiền may y quá hạn một cách cấp thiết và bất chợt, giới chứa tiền bảo vật, giới trao đổi vật báu, giới buôn bán, giới xin bát, giới tự xin chỉ nhờ người không phải thân quyến dệt y, giới khuyên thợ dệt thêm chỉ cho y, giới đoạt y, giới chứa thuốc quá hạn bảy ngày, giới nhận y cấp thí quá thời gian trước và chứa quá hạn sau đó, giới xoay vật của Tăng về mình. “Giới chứa bát dư quá hạn” trong Tăng, không tịnh thí được chứa đủ 10 ngày, quá thời gian ấy thì phạm đọa; Ni được bát dư ngày nào phải tịnh thí ngày ấy, nếu không, ngày mai khi mặt trời mọc thì phạm đọa. Tăng ni khác nhau 11 giới, trừ 19 giới trước, số còn lại tìm trong luật văn có thể biết.
4. Một trăm bảy mươi tám ba-dật-đề: Tăng có 90. Trong đó Ni đồng Tăng là 70: Giới tiểu vọng ngữ, giới mắng chưởi, giới nói lưỡi hai chiều, giới ngủ chung nhà với người nữ (nam), giới ngủ chung nhà với người chưa thọ giới cụ túc quá hạn (ba đêm), giới cùng tụng đọc với người chưa thọ giới cụ túc, giới nói thô tội người khác cho người chưa thọ giới cụ túc, giới nói thật đắc đạo với người chưa thọ giới cụ túc, giới nói pháp quá hạn (năm, sáu lời) cho người nữ (nam), giới đào đất, giới phá hoại mầm sống, giới nói quanh gây phiền Tăng, giới chê mắng tri sự của Tăng, giới không cất vật của Tăng, giới trải vật dụng của Tăng trong phòng mà không cất, giới dùng sức xúc não người, giới lôi người khác ra khỏi phòng Tăng, giới ngồi trên giường bằng chân lắp, giới dùng nước có trùng, giới lợp nhà quá ba tiết, giới thọ quá một bữa ăn tại phước xá, giới thọ thực chúng riêng, giới lấy thức ăn của vợ về (nhà chồng) hay của người buôn đi đường, giới ăn phi thời, giới chứa thức ăn qua đêm, giới vật thực không được trao nhận, giới dặn không đồng lợi rồi vào xóm, giới cố ngồi trong nhà đang thọ thực, giới ngồi với người nữ (nam) chỗ khuất, giới ngồi một mình với người nữ (nam), giới đuổi người ra khỏi tụ lạc, giới thọ thỉnh thuốc quá bốn tháng, giới xem quân đội xuất trận, giới có duyên ở trong quân trại quá hạn (ba đêm), giới xem quân đội tập trận, giới uống rượu, giới đùa giỡn trong nước, giới thọc lét, giới không nghe lời khuyên, giới khủng bố tỳ-kheo khác, giới tắm quá nửa tháng, giới nhóm lửa tại chỗ trống, giới giấu y bát của người khác, giới y đã cho người khác với lòng trong sạch chân thật, sau tự động lấy dùng mà không hỏi chủ, giới mặc y mới (không hoại sắc), giới giết hại súc sanh, giới uống nước có trùng, giới làm tỳ-kheo (ni) nghi hối phiền não, giới che giấu tội thô ác của người khác, giới cho người chưa đủ tuổi (thọ giới cụ túc), giới khơi lại sự tranh chấp (đã được giải quyết), giới hẹn đi chung với giặc cướp, giới ác kiến không nghe lời can gián, giới theo tỳ-kheo bị cử tội, giới theo (dung chứa) sa-di bị đuổi, giới không chấp nhận sự khuyên bảo học hỏi, giới chê bai giới luật, giới sợ nêu lời trước, giới đồng tác yết-ma về sau xuyên tạc, giới không giữ dục, giới đã giữ dục về sau bát bỏ, giới nghe lén cuộc tranh chấp, giới giận đánh tỳ-kheo (ni), giới dọa đánh tỳ-kheo (ni), giới vu khống tỳ-kheo bằng tội tăng tàn không căn cứ, giới đột nhập cung vua, giới cầm nắm bảo vật, giới vào làng xóm phi thời, giới chân giường cao quá lượng, giới chứa bông gòn làm đệm lót giường. Tăng khác Ni 20 giới. Ni khác Tăng 108 giới.
Hai loại trên, phàm Tăng kết tội xả đọa hay đọa còn Ni thì không, chẳng phải là ni hoàn toàn không tội, chỉ vì duyên hoặc khó tụ hội, hoặc ít việc, hoặc không dẫn tới sự quở trách, nên không kết tội đọa; Giả sử có người làm thì mỗi việc kết tội đột-cát-la. Theo đây, Ni kết tội đọa mà Tăng không, nếu có làm, về lý cũng kết đột-cát-la.
5. Tám ba-la-đề đề-xá-ni: Tăng có bốn pháp, Ni có tám pháp, đều chế riêng học riêng. Tám pháp của Ni liên hệ tới tám việc: không bịnh mà xin tô thực, xin dầu, mật, đường mía, sửa, lạc, cá, thịt mà chế định.
6. Giới pháp chúng học: Tăng có 100 pháp, Ni bộ hoàn toàn đồng.
7. Bảy pháp diệt sự tranh cải: Tăng ni đồng chế.
Bảy loại trên họp lại có 348 pháp. Tỳ kheo có tám loại, Ni không có “pháp bất định”, nên thành bảy loại. Đến như danh nghĩa của năm thiên, khai thành bảy tụ hoặc sáu tụ và quả báo phạm giới, hoàn toàn đồng với phẩm loại của Tăng, như trong luật nghi tỳ-kheo nói.
X. Ni bộ độ người thọ giới và các việc khác.
Người nữ xuất gia thọ đại giới, mãn 12 năm, muốn độ người, phải bạch nhị yết-ma xin Ni Tăng cho phép. Không cho phép mà cho người xuất gia và trao giới cụ túc thì phạm đọa. Làm Hòa thượng cho người y chỉ, cho thọ giới thức-xoa, sa-di-ni thì phạm đột-cát-la. Được chúng cho phép rồi, trong một năm được độ một đại ni, một người thọ sáu pháp, một sa-di-ni, một người y chỉ. Qua năm khác lại muốn độ người, phải xin Ni Tăng cho phép. Sáu mươi tuổi trở đi, không được cho thọ đại giới, cho làm sa-di-ni. Bảy tuổi trở xuống cũng không cho độ. Hòa thượng ni phải coi đệ tử như con gái, đệ tử coi Hòa thượng ni như mẹ. Độ người xuất gia, trước phải xem xét có hay không có già nạn. Nếu chắc không có mới độ cho xuất gia, nên dạy cho pháp sa-di-ni, hai năm học giới pháp, và tất cả hành hộ luật nghi, đủ 20 tuổi sau đó trao cho đại giới; và phải dùng tài sản chánh pháp nhiếp thủ đệ tử, chớ để thiếu kém. Ni thọ đại giới rồi, phải hai năm theo Hòa thượng ni, thực hành giới pháp của ni. Ni thọ giới cụ túc được vô lượng luật nghi, luận theo thứ tự phải ở sau tỳ-kheo, vì lễ nghi phép tắc bất tiện, nên đức Phật chế định ở sau sa-di. (?)
Bảy loại thọ giới của ni:
1/. Tỳ-kheo ni bát kính, như bà Đại Ái Đạo và 500 người nữ họ Xá-di. Có người nói chỉ một mình bà Đại Ái Đạo dựa vào tám pháp hòa kính mà đắc giới, còn 500 người nữ họ Xá-di từ 11 vị: Tức thọ bên mười đại Tăng và bà Đại Ái Đạo.
2/. Tỳ-kheo-ni hai mươi vị: Nữ chúng xuất gia của Trung Quốc, phải theo Tăng ni mỗi bên mười vị, thọ bên hai bộ. Sách Tư trì ký nói: “Thọ trước hai mươi vị, là nói rõ quả báo của người nữ mê hoặc sâu, trí tuệ cạn, sự tốt đẹp phát sinh chậm, nhất định muốn thọ giới cụ túc, thì Tăng ni mỗi bên mười vị, mới phát tâm thù thắng.”
3/. Tỳ-kheo-ni tuổi nhỏ từng lấy chồng: Là từng lấy chồng những năm còn nhỏ, bị nhà chồng sai sử, chịu đựng các khổ, thêm chán việc của mình; nếu xuất gia 10 tuổi (hay 10 năm?), thì trước trao cho sáu pháp, mãn 12 năm, tức có thể trao cho giới cụ túc. (Giải thích ở đây và ở Tứ phần luật san bổ yết-ma huyền ty sao trang 173 - Thích nữ Như Pháp dịch mâu thuẫn nhau!?)
4/. Tỳ-kheo-ni sai đưa tin: Ni đắc pháp của mình rồi, phải đến trong Tăng thọ lại, vì Ni bề ngoài xuất gia, sợ trên đường có mệnh hệ, phạm các nạn, nên luật khai cho sai đưa tin đến trong Tăng xin giới.
5/. Tỳ-kheo-ni ở biên phương 10 vị: Tức Tăng ni mỗi bên năm vị, mà thành 10 vị.
6/. Tỳ-kheo-ni thiện lai: Chỉ đức Phật ở đời mới có. Cái gọi là “Tỳ-kheo (ni) thiện lai! Râu tóc tự rụng. Cà-sa ở thân” vậy.
7/. Tỳ-kheo-ni phá kiết sử: Đoạn hết hai loại phiền não kiến hoặc và tư hoặc, chứng quả A-la-hán, thì giới phẩm tỳ-kheo-ni tự nhiên đầy đủ. Loại tỳ-kheo-ni này chung với năm loại trước, sau khi đức Phật diệt độ vẫn có. Năm loại trước chỉ hạn cuộc cho Ni thọ, hai loại sau cũng chung cho Tăng. Sách yết-ma sớ nói: “Thọ qua ba lời quy y, chỉ có trong Tăng. (Theo năm loại thọ giới tỳ-kheo: (1). Tỳ-kheo thiện lai; (2). Tỳ-kheo phá kiết sử; (3). Tỳ-kheo thọ ba lời quy y; (4). Tỳ-kheo thọ giới năm người trì luật ở biên địa; (5). Tỳ-kheo thọ giới mười người ở các trung tâm.) Vì lúc đầu thành đạo, đức Phật dùng cách nói ba lời quy y, tám năm chế đoạn, làm cho hưng khởi yết-ma; 14 năm sau, Ni mới thế phát, xin thọ tám pháp hòa kính, thời gian đã qua, nên không phải duyên của Ni thọ.” Lại nói: “Tám điều hòa kính hạn cuộc ở Ni, kính thì chúng dưới thực hành, nên không chung với Tăng.” Nhưng việc thọ giới thông qua tám pháp hòa kính từ bà Đại Ái Đạo và 500 người nữ họ Xá-di dựa vào đắc giới về sau, tức khi pháp yết-ma hưng khởi, thì pháp chế ấy cũng dứt.
Đến như Trung Quốc, nhân duyên đầu tiên của Ni thọ giới, bắt đầu vào năm thứ bảy, niên hiệu Nguyên Gia đời Tống, Sa-môn Cầu-na-bạt-ma nước Kế Tân đến Dương Châu, ở chùa Nam Lâm, thiết lập giới đàn, truyền giới cho Ni. Kế tiếp có tám vị Ni, người nước Sư Tử đến nhà Tống, thấy Ni chúng xứ này, hỏi rằng: “Đất Tống chưa từng thấy có Ni, sao được hai chúng thọ giới?” Ngài Cầu-na-bạt-ma đáp: “Ni không tác pháp của mình, người thọ đắc giới thì người truyền mắc tội. Tìm hiểu ý chế giới của đức Phật, pháp không ra ngoài đại Tăng; chỉ làm cho Tăng pháp thành tựu, tự nhiên đắc giới. Cho nên trước bảo tác bổn pháp, chính là muốn phát sinh tín tâm, là phương tiện của việc thọ giới mà thôi! Đến như đắc giới, ngay lúc đại Tăng yết-ma thì sinh khởi vậy.” Ngài Bạt-ma vốn hướng vào trường hợp của 500 người nữ họ Xá-di thọ giới theo 11 vị, nên nói: “Nếu không có hai chúng, chỉ thọ một chúng, như trường hợp của bà Đại Ái Đạo cũng được.” Lúc đó chư Ni tha thiết cầu xin thọ lại, nhưng tám vị Ni đến từ nước Sư Tử, niên lạp chưa đủ, lại không đủ mười người, thế là khiến họ tạm học ngôn ngữ nhà Tống. Nguyên nhân khác là có cư sĩ người Tây Vức lại thỉnh Ni ngoại quốc đến, đủ số mười vị. Bất ngờ, Ni vẫn chưa đến, mà ngài Bạt-ma liền viên tịch. Năm thứ 10 niên hiệu Nguyên Gia, ngài Tăng-già-bạt-ma thiệp-lưu-sa đến Dương Châu. Chẳng bao lâu mà ba vị Ni nước Sư Tử là Thiết-sách-la... đến kinh, mười vị trước đã đủ, mới thỉnh ngài Tăng-già-bạt-ma làm thầy ở giới đàn chùa Nam Lâm, hơn 300 người là Ni như Tuệ Quả... dựa vào hai bộ thọ giới cụ túc lại. Đây là lần đầu thọ giới qua hai bộ ở Trung Quốc. Nhưng từ đó về sau, chế độ thọ giới qua hai bộ không còn hành theo, và đã không thấy ghi chép, lại không biết được. Nhưng sách Tư trì ký của ngài Linh Chi nói: “Nếu dựa vào Thần Châu, từ đới Tống (ở đây chỉ Triệu Tống) về trước, xem xét khắp hết sử của Tăng, thì thấy Ni thọ một chúng.” Do đây mà xem thì Trung Quốc ở thời Lưu Tống, tuy có một độ thực hành việc thọ giới pháp qua hai bộ, mà hoàn toàn chưa làm theo thành chế độ! Thời Triệu Tống về sau, tức pháp của Tăng cũng chưa thể thực hành hết như luật chế, thì khoan bàn về Ni Tăng! Đến nay Tăng ni đều chỉ ở trong hội truyền giới như văn truyền thọ, chỉ khỏi rớt lại mà thôi. Ngài Cầu-na-bạt-ma dựa vào Trung Quốc không có Ni, nên bắt chước theo trường hợp của bà Đại Ái Đạo và 500 người nữ họ Xá-di thọ giới, bảo thọ bên một chúng, còn nói: “Ni không tác bổn pháp, tức lại phải tuân theo pháp chế của Phật , trước thực hành pháp của mình (bổn pháp), rồi sau theo đại Tăng thọ, mới gọi là đúng pháp. Thời nay Ni chúng ngày càng nhiều, xuất gia, thọ giới cho đến thu nhận đệ tử, nhiếp chúng, phần nhiều chưa hợp chế độ của Ni; sai lầm tràn lan ngày càng sâu, bụi dơ Thánh giáo, giảm tổn chánh pháp, hết sức đáng tiếc! Hãy dựa vào đầu mối Ni, kẻ sĩ trung trinh có tài, đủ chí trượng phu, hãy hăng say phấn phát lên, chú tâm vào chánh giáo, nghiên cứu luật pháp, để tiện làm mới lại chế độ của Ni, là chánh pháp trụ lâu tăng lên, thì Ni chúng rất may mắn! Phật giáo rất may mắn!
Chú thích:
(1) Diêu Hưng: (366-416). Quân vương nước Hậu Tần thời 16 nước, tên tự là Tử Lược, con của Diêu Trường, tại vị từ năm 394 đến năm 416. Tôn sùng Nho học, thành lập trường học, học trò đến học hơn một vạn người. Đề xướng Phật giáo, đón ngài Cưu-ma-la-thập là Tăng nước Quy Tư về dịch kinh giảng pháp, Phật học rất thịnh. Từng phóng thích dân thường tự bán mình làm nô lệ, lại chú trọng sản xuất nông nghiệp. Trước sau diệt các nước Tiền Tần, Tây Tần và Hậu Lương, ngang nhau với Bắc Ngụy, Đông Tấn. (Từ Hải tr. 1242, cột 3)
(2) Lãnh Biểu: Tên vùng đất xưa, tức Lãnh Nam, Lãnh Ngoại.(Từ Hải, tr. 890, cột 1)
(3) Thọ tùy: Còn gọi là thọ thể tùy giới, hay thọ thể tùy hành. Với tâm thọ giới trì giới thể, và quyết tâm không phá giới, gọi là thọ thể; sau này tương ứng với quyết tâm ấy, mà thực hiện sinh hoạt mỗi ngày, gọi là tùy hành hay tùy giới. Cũng tức nương nhờ việc thọ giới mà đạt được thệ nguyện của mình về việc dứt ác tu thiện, lại tùy thời tùy nơi mà thực hiện điều đó. (Phật Quang đại từ điển, tr. 3110 thượng)
(4) Pháp chính: Bộ Đàm-vô-đức.
(5) Năm nghĩa phần thông: Tông luật Tứ phần của Nam sơn nói rằng: Bản vị của luật Tứ phần tuy là Tiểu thừa, nhưng có một phần thông với Đại thừa. Nếu tìm nghĩa đó ở trong bản luật thì thấy có năm chỗ, nhờ nghĩa của năm chỗ này biết được phần thông với Đại thừa, gọi là năm nghĩa phần thông.
1/. Đạp-bà hồi tâm: Hay Đạp-bà yểm vô học: Luật Tứ phần quyển 3 chép: Có A-la-hán Đạp-bà-la tử, suy nghĩ thân này vô thường, sinh diệt mà không kiên cố, muốn cầu pháp bền chắc, muốn lấy sức mình cúng dường cho Tăng. Tức chán thân tam thừa vô thường sanh diệt, cầu pháp Bồ-tát, hồi tâm về Đại thừa, tu hạnh lợi tha.
2/. Thí sinh thành Phật (đạo): Tứ phần Tăng giới bổn có văn hồi hướng: “Ta nay nói giới kinh, nói về các công đức, cho tất cả chúng sanh, đều cộng thành Phật đạo.” Do câu “đều công thành Phật đạo” mà biết chẳng phải Tiểu thừa.
3/. Tương triệu (vi) Phật tử: Trong bài tựa luật Tứ phần quyển 1 có những câu: “Như thế các Phật tử.” “Phật tử cũng như thế.” Trong giới Tiểu thừa thường gọi Tăng chúng là tỳ-kheo, kinh Phạm võng quyển hạ nói trong giới Đại thừa mới gọi là Phật tử. Ở đây lấy danh từ Phật tử để xưng hô, nên biết ý ấy ở đạo Phật Đại thừa.
4/. Xả tài dụng phi trọng (khinh): Ở đây lúc sám hối tội xả đọa, trước hướng đến Tăng chúng bỏ tài vật đã phạm ra (như vật cất chứa) rồi sau hành pháp sám hối. Tăng chúng một khi thu hết các tài vật ấy, sau khi sám hối, lại lấy trả lại cho người đã sở hữu chúng. Luật tông Tứ phần tuy không trả lại cho người sở hữu, nhưng sử dụng vật ấy trong Tăng, cũng chỉ kết tội nhẹ đột-cát-la, không thành tội nặng trộm cắp. Ở đây vì người sám hối đã thành tâm bỏ ra, thì tài vật kia tức chẳng phải sở hữu của người ấy, đó là vì nghĩa của Đại thừa lấy ý nghiệp làm chủ.
5/. Trần cảnh phi căn cảnh: (Còn gọi là thức liễu trần cảnh) Vì trần cảnh như sắc, thanh,...được thức tri bởi nhãn thức... mà chẳng phải hiểu rõ bởi nhãn căn... Luật Tứ phần quyển 11 giải thích trong giới tiểu vọng ngữ có những phân câu: Thấy thì nhãn thức thấy, nghe thì nhĩ thức nghe, xúc thì ba thức xúc chạm: tỷ thức, thiệt thức, thân thức, biết thì ý thức biết được.” Không đồng với Hữu bộ của Tiểu thừa lấy căn thấy làm nghĩa chính. Đó chính là nghĩa thức thấy của Đại thừa. (Phật Quang đại từ điển, tr. 1169)
(6) Già nạn: Tức 16 già, 13 nạn. Theo pháp của luật Tiểu thừa, khi lựa chọn những người thọ giới cụ túc có căn tính hay không có căn tính, đều phải xét theo 16 già và 13 nạn này. Già là chỉ chung cái ác không phải xuất phát từ tự tính, nhưng đối với giới luật vẫn có tội, nên phải ngăn chặn đi, không cho thọ giới cụ túc nữa, nên gọi là già. Nạn là cái ác tự tính, không phải là cái căn tính thọ giới cụ túc, nên gọi là nạn. Người nào mắc một trong số những già nạn đó thì không được thọ giới cụ túc. Do vậy trước khi thọ giới, vị giáo thọ sư phải hỏi xem người thọ giới có những lỗi về già nạn đó không. (Từ điển Phật học Hán Việt, Phân viện ngiên cứu Phật học, Hà Nội, 1992, tr. 487)
(7) Tác cử: Trong ngày tự tứ, mời vị có đức trong Tăng chúng, nêu rõ các tội mà vị tỳ-kheo nào đó phạm phải cho chúng Tăng biết thì gọi là tác cử. Dĩ nhiên Ni không được phép làm việc này đối với Tăng. (Sđd, tr1281)
(8) Tác ức niệm: Ức niệm là nhớ lại. Về duyên khởi pháp tác ức niệm như sau: Lúc đức Phật ở thành Vương Xá, Đạp-bà-ma-la tử không phạm các trọng tội, mà các tỳ-kheo đều nói Tôn giả phạm, hỏi rằng: “Phạm trọng tội mà thầy không nhớ sao?” Ngài Đạp-bà khẳng định: “Không phạm trọng tội, tôi nhớ đúng như vậy. Các trưởng lão đừng cật vấn tôi nữa.” Tuy nhiên các tỳ-kheo cố cật vấn không thôi. Tôn giả Đạp-bà bạch Phật. Đức Phật cho phép tác ức niệm tỳ-ni, bạch tứ yết-ma, để các tỳ-kheo không được cật vấn nữa. Do đó người cầu xin chấm dứt sự cật vấn phải bạch giữa Tăng ba lần. Sau đó, Tăng bạch tứ yết-ma chấp thuận. Ở đây ý nói Ni không được cật vấn Tăng, cũng không có tư cách đóng vai trò đại Tăng để chấp thuận lời cầu xin của tỳ-kheo về phép tác ức niệm tỳ-ni.
(9) Tác tự ngôn: Theo duyên khởi của pháp tự ngôn trị: Lúc đức Phật ở thành Chiêm-bà, đến ngày Rằm bố-tát, Tăng chúng đã vân tập, nhưng trong chúng có một tỳ-kheo phạm tội, nên đức Phật không thuyết giới. Ngài Mục-kiền-liên dùng thiên nhãn biết được vị tỳ-kheo không thanh tịnh. Tôn giả nắm tay vị ấy kéo ra rồi trở lại bạch Phật. Đức Phật dạy: “Không nên làm như vậy, muốn trao tội cho họ thì phải làm cho họ nhận tội. Không nên trao tội cho họ mà họ không nhận.” Như vậy tác tự ngôn là làm cho người có tội tự nói ra và sám hối lỗi lầm. Cũng có nghĩa là tố giác trước Tăng một tỳ-kheo phạm tội. Đương nhiên tỳ-kheo-ni không được phép cử tội tỳ-kheo, nên không được làm việc này.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.15/3/2015.
No comments:
Post a Comment