Saturday, March 14, 2015

GIÁO ĐOÀN TỲ KHEO NI VÀ BÁT KỈNH PHÁP (tiếp theo)
          
TỲ KHEO NI MỘT TRĂM TUỔI HẠ, PHẢI CUNG KÍNH TỲ KHEO TĂNG XUẤT GIA MỚI MỘT NGÀY
 Các vị Tỳ- kheo-ni phải tôn kính đảnh lễ Tăng, để họ giảm bớt đi lòng ngã mạn, thì sự tôn kính đó, chư Tăng có bị tăng cường lòng ngã mạn hay không? Hay vẫn tự hào rằng tôi là Tăng cho nên phải nhận được sự tôn kính của Ni. Ni nào gặp Tăng mà không chào, không xá, không hỏi cho là ngã mạn, như vậy ta đang tán dương bản ngã của mình. Nếu như ta thản nhiên, họ kính mình hay không kính, không quan trọng. Đức Phật dạy trong kinh: “Trước những lời cung kính và khen ngợi của người khác, ta không nên bận tâm”. Kế tiếp, nếu so sánh với ba lời nguyện của trưởng lão Ca Diếp ta thấy tấm lòng khiêm hạ của ngài rất lớn.


 

 Ngài được xem là bậc trưởng thượng trong Tăng đoàn sau Đức Phật. Và ngài đã phát nguyện: “Tôi nguyện sẽ chú tâm lắng nghe thiện Pháp”, có nghĩa là tôn kính Pháp một cách tuyệt đối. Tôn kính Pháp là tôn kính Đức Phật, tôn kính Tăng, bởi vì Tăng là sản phẩm của pháp, sản phẩm của Phật, sanh ra từ miệng Phật, sanh ra từ chánh pháp. Điều nguyện thứ hai: “Tôi sẽ không bao giờ màng đến thân thể này”, cho nên ngài sống rất khổ hạnh để làm gương mẫu mực về sự thanh cao của người tu. Điều thứ ba: “Tôi nguyện sẽ tôn kính tất cả những vị xuất gia dù tuổi đạo lớn hay nhỏ”. Ngài tôn kính chung bất luận lớn và nhỏ, trong đó có luôn những người nữ. Tấm lòng khiêm hạ đó, làm con người trở nên đạo đức và thánh thiện.
 Đức Đạt- lai- lạt- ma thứ 14, đã phát huy tấm lòng khiêm hạ một cách tuyệt đối theo tinh thần Thường Bất Khinh. Theo truyền thống của Việt Nam, ta gặp những bậc tôn đức phải đảnh lễ. Tôi đắp y trang nghiêm, vừa lạy xuống ngước mặt lên cũng thấy ngài đang lạy theo. Tôi khum xuống, ngài cũng khum xuống, chụm đầu xuống ngài cũng chụm đầu, tôi đứng dậy ngài cũng đứng dậy, và chắp tay thì ngài cũng chắp tay. Khi tôi ngồi xuống một bên ngài kêu không được, nếu ngồi một bên thì đi ra ngoài, khỏi tiếp chuyện, ngồi ngang hàng. Đó là lần đầu tiên tôi cảm thấy rất ấn tượng. Không phải ấn tượng rằng mình được đề cao, mà ấn tượng một bậc tuệ giác, đã có một cái nhìn của Bồ- tát Thường Bất Khinh. Cái nhìn rất đặc sắc, cái nhìn đó cho thấy rằng bản ngã đã biến mất, nó không còn một bóng gì. Nó có thể trở thành con dao hai lưỡi nếu như người được ứng xử trên tiềm năng Phật tính đó, trỗi lên lòng ngã mạn cống cao. Bởi vì, nhận lòng tôn kính đó để tăng cường Phật tính của mình, không phải nhận lòng tôn kính để hãnh diện.
            Chúng ta thường thấy những bậc cao Tăng, thường có lòng tôn kính và thấy được tiềm năng Phật tính của người khác dù người đó là ai. Những vị nhỏ phải tôn kính đảnh lễ vị lớn, trật tự tôn ti này trong đạo Phật là một nguyên lý, bất khả xâm phạm đến độ trở thành giới luật dành cho người xuất gia, đặc biệt là Sa di. Nếu như trong đạo Phật không có tôn ti trật tự của hạ lạp thì Bà- la- môn tụ hội vô thù (có khác gì sự tập hợp hỗn độn bát nháo của Bà-la-môn). Sự khác biệt trong Tăng đoàn Phật giáo với Bà-la-môn giáo nằm ở chỗ này. Nghĩa là, hạ lạp trước và sau mới quan trọng, không quan trọng ở chỗ nam hay nữ, lớn hay nhỏ tuổi đời. Chính vì thế, những vị xuất gia muộn, đừng đưa bản ngã rằng trước đây tôi từng là đại tá, đại tướng, tôi từng làm cha, làm ông, làm bà, bây giờ vô chùa không nghe ai hết. Đó là sai lầm vì đời sống giới luật của nhà Phật đặt trên nền tảng của tâm linh, không phải đặt trên nền tảng vai trò tổ chức xã hội.
Ma-ha-ba-xà-ba-đề cảm nhận được tuổi mình bắt đầu lớn và gần đất xa trời. Bà đã đến thăm viếng Như Lai lần cuối. Như Lai đã giảng kinh thuyết pháp cho bà, mong bà có được một cơ hội tái sanh làm Phật sự lớn hơn, và đích thân Như Lai đã đưa tiễn Ma-ha-ba-xà-ba-đề đến tận cổng của Tịnh xá và chưa bao giờ Ngài đã làm chuyện đó với ai. Như vậy, Ngài đã bày tỏ lòng tôn kính với di mẫu của mình, điều đó cho thấy đạo lý hiếu thảo ở Ngài, mang tính nhất quán kể từ lúc Ngài thành lập ra học thuyết đạo lý hiếu thảo. Nó hoàn toàn phù hợp với kinh điển Vu Lan và Báo ơn phụ mẫu của Đại thừa. Ngài đã đảnh lễ trong đó có ông bà tổ tiên, cha mẹ của Ngài từ nhiều kiếp về trước, rõ ràng nó không có gì mâu thuẫn.


 

            Chấp nhận cho Ni đoàn vào bằng những điều kiện vừa nêu, ta thấy mâu thuẫn với đạo lý hiếu thảo và mâu thuẫn với sự kiện này. Một bậc tuệ giác Như Lai Thế Tôn không thể nào vừa chủ trương thế này sau đó lại thế khác, trước và sau đối lập, điều đó không thể nào chấp nhận. Dựa vào các yếu tố đó, ta thấy cái này được tạo ra như một phản ứng đối lập giữa Ni bộ và Tăng bộ trong một giai đoạn lịch sử nào đó, phải gán ghép vào lời của Như Lai Thế Tôn, để không có cơ hội nào để biện hộ, bắt buộc phải chấp nhận. Sự chấp nhận này vẫn có lợi cho Ni, nhưng nó không có lợi cho tổng thể của Phật giáo và cho đại cuộc của Phật giáo. Ta tin tưởng và không đặt vấn đề của Bát Kỉnh Pháp, ta sẽ làm và gián tiếp, tiếp tay làm cho đạo Phật mất đi vai trò độc tôn, từ vị trí chủ trương bình đẳng trên đạo đức, trên giới tính, trên tâm linh và trên sự xứng đáng.
CHƯ NI KHÔNG ĐƯỢC AN CƯ NƠI KHÔNG CÓ TỲ KHEO TĂNG
            Ni không được an cư ở nơi không có Tăng. Cơ sở lý luận bảo vệ cho rằng, điều khoản này mang tính bảo hộ an ninh và phạm hạnh, rất chính xác. Bởi vì, trong thời của Đức Phật, tính an ninh rất bấp bênh. Những chỗ nào sự phát triển về cơ chế, định chế xã hội chưa vững vàng thì an ninh là một vấn đề. Do đó, chư Tăng phải bảo hộ những người yếu hơn mình như là một trong những hạnh nguyện dấn thân. Nhưng nhu cầu bảo vệ đó, có cần thiết trong thời đại ngày hôm nay không ? Khi chư Ni có những chùa riêng lớn hơn chùa Tăng. Họ đâu có lời thỉnh cầu bảo hộ, mà ta cũng chưa bảo hộ họ lần nào, ngày nào. Họ cần bảo hộ là điện thoại cho công an
            Đối với truyền thống Nam tông hiện nay, các nữ tu vẫn còn ở trong phạm vi của ngôi chùa Tăng và được sự bao bọc, bảo hộ của tăng. Trong truyền thống Đại thừa, cơ chế đó không còn nữa. Ngôi chùa đầu tiên tại Đài Loan là chùa Ni, giáo đoàn đầu tiên tại nơi này là giáo đoàn Ni không phải giáo đoàn Tăng. Họ đâu nhờ Tăng bảo hộ, tự xây chùa, tự vận động, tự bảo hộ, tự hoằng pháp. Sự kiện rất quan trọng lịch sử ra đời của truyền thống an cư, đó là Bát Kỉnh Pháp được thành lập vào năm thứ 5 hoặc năm 6 sau khi Đức Phật thành đạo. Trong khi đó, an cư kiết hạ, những điều khoản về định tội, trị phạt, tự tướng, bố tát được thành lập theo đại đa số các bộ luật năm thứ 20 sau khi Đức Phật thành đạo. Tính mâu thuẫn về thời gian không có logic với nhau, chưa nói đến sự kiện hai mươi năm đầu, cơ chế thành lập Tăng đoàn dựa trên nền tảng qua câu gọi rất đơn giản “Thiện lai Tỳ-kheo ! Này Tỳ-kheo hãy lại đây”, sự mời gọi đó làm cho họ thành một vị xuất gia, một thành viên của Tăng đoàn không có hệ thống giới luật, bởi vì lúc đó là những bậc cao thượng. Một bài pháp, hai bài pháp có thể chứng đắc được đạo quả.
             Giới luật được thiết lập sau 20 năm. Hệ thống an cư, bố tát, tự tứ, định tội, trị phạt cũng nằm từ năm thứ 21 trở đi. Trong khi đó, năm thứ sáu trong điều lệ thứ hai: “Ni không được tổ chức an cư ở những nơi không có Tăng”. Thời điểm đó làm gì có cơ chế an cư mà có nội dung. Từ đó, ta có thể khẳng định rằng, câu nói này được ra đời sau thời Đức Phật nhập Niết-bàn. Nằm trong lần biên tập thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư không ai dám xác quyết. Bởi vì, với lòng tin tưởng vào tuệ giác của các bậc đại A-la-hán, các ngài không thể nào có những cái nhìn giới hạn về giới tính. Lần biên tập đầu tiên là những bậc đại A-la-hán. Thời kì đó làm gì có giới luật mà nói rằng an cư và kéo theo những điều khoản ba, bốn hay năm cùng chung cấu trúc này.


 

NỬA THÁNG TỲ KHEO NI PHẢI BỐ TÁT MỘT LẦN
            Điều thứ ba, nửa tháng Tỳ-kheo ni phải thỉnh giáo giới trong ngày bố tát. Tức là, mỗi ngày bố tát,  các vị Tỳ-kheo-ni phải có vai trò và trách nhiệm tới để học hỏi giáo dục. Nó là một trong những truyền thống cách tân so với truyền thống Ấn Độ giáo lúc bấy giờ. Lý luận bảo vệ nằm ở chỗ, bởi vì nữ yếu kém về học thuật, bị trù dập về cơ chế xã hội, nên tới học nâng cao trình độ nhận thức, cho nên họ tới học trong những dịp bố tát là điều không thể nào không có. Ta thấy đâu phải bất kỳ một vị Tăng nào cũng đều được thỉnh giáo giới, chỉ có một số chư Tăng lỗi lạc về giới luật thông thường là được tới thỉnh giáo giới còn những vị khác không thấy.
             Giáo đoàn của Tỳ- kheo-ni, sau những lịch sử biến thiên không còn giống như cấu trúc xã của hội Ấn Độ. Ni học từ lúc mới vào chùa, chẳng những học Phật pháp mà học luôn cả thế học. Họ có thể nghiên cứu, viết sách, dịch kinh. Như vậy, họ đâu cần thỉnh giáo giới. Lấy một điều khoản được ra đời từ nhiều thế kỷ về trước, để áp dụng cho cơ chế xã hội hiện tại, đôi lúc không cần, nếu có làm thì làm ngoại lệ qua loa. Trong các lễ bố tát, ngồi lại gần với nhau là một trong những cơ hội quí báu, thiết lập được tính cách hòa hợp trong Tăng đoàn. Nếu như mỗi người đi một ngã không ai gần gũi, làm sao chia sẻ, thông cảm, hợp tác, hỗ trợ, phát huy, cho nên phải ngồi lại với nhau.
CHƯ NI PHẢI LÀM LỄ TỰ TỨ TRƯỚC HAI BỘ ĐẠI TĂNG.
            Điều thứ tư, Ni phải làm lễ tự tứ, tức tự nói lỗi mình trước hai bộ đại Tăng về ba vấn đề thấy, nghe và nghi. Các lý luận bảo vệ nói rằng, Ni muốn hoàn thiện nhân cách và đạo đức phải mời người khác nhận xét về mình. Rõ ràng, cơ hội đó tạo ra sự hoàn thiện ở một con người dám mạnh dạn nhận lỗi của mình, nhu cầu này là nhu cầu rất lớn. Nếu như tự nói lỗi để hoàn thiện nhân cách của mình, tại sao chỉ có Ni mới tự nói lỗi còn Tăng không tự nói lỗi. Nếu như nói lỗi dưới hai bộ Tăng và Ni, để có được nhiều ý kiến hơn ta sẽ được hoàn thiện nhiều hơn, tại sao chư Tăng lại không làm việc đó tương tự.
Vấn đề mời chư Tăng chỉ về ba điểm: thấy, nghe và nghi, dựa vào tư tưởng kinh điển nhà Phật là không thích hợp. Trong kinh tạng Pali Đức Phật dạy: “Trong sự tu tập các hành giả phải kiểm thúc sáu giác quan của mình, khi tiếp xúc nên hạn chế tối đa nếu không có việc cần. Nếu như phải tiếp xúc, đừng bao giờ để cho các giác quan của mình đặt trên nền tảng của ái nhiễm”. Phải tiếp xúc mà cơ hội ái nhiễm có thể diễn ra, thì Ngài đã dạy mẹo vặt đó, đừng bao giờ quan sát tướng chung và tướng riêng. Tức một người nam mà quan sát những đặc điểm, hay những đặc tính, cá tính, sở trường, sở đoản của người nữ lâu ngày tình cảm phát sinh. Cái gì quan sát là tạo ra hệ lụy.
             Trong kinh Tăng Chi, Đức Phật nói: “Như Lai Thế Tôn chưa bao giờ nhìn thấy cái gì hấp dẫn cho bằng lời nói của người nam đối với người nữ, lời nói của người nữ đối với người nam. Như Lai Thế Tôn chưa bao giờ nhìn thấy cái gì hấp lực lớn cho bằng, đó là nhan sắc của người nữ đối với người nam và ngược lại”.  Đức Phật không bao giờ khuyên chư Tăng hãy quan sát chư Ni để chỉ điểm cho họ việc thấy, nghe và nghi. Nếu làm chuyện đó thì có khả năng lớn là ái nhiễm sẽ diễn ra. Ni phải tự quan sát Ni. Đức Phật dạy: Mỗi người phải phản quan chính mình về các giác quan, thiết lập chánh niệm tỉnh thức, trong từng cử chỉ đi, đứng, nằm, ngồi, tự quan sát mình, tự hoàn thiện mình, không kêu đi quan sát giùm. Tự tứ là những hoạt động dân chủ cầu tiến, trên cơ sở của nhận lỗi và sửa lỗi. Nó là cơ chế để phát huy đạo đức lớn, là nhu cầu của tất cả mọi người không phải chỉ có nam hay nữ hay đặc biệt là nữ.


 
 

T KHEO NI PHẠM GIỚI TĂNG TÀNG PHẢI ĐN TRƯỚC HAI BỘ ĐẠI TĂNG
            Điều thứ năm, Tỳ-kheo-ni phạm giới Tăng tàng phải đứng trước hai bộ Tăng và Ni. Tội Tăng tàng được xem như gần mất đi phẩm hạnh của một vị xuất gia. Tổn thất về tính cách, phạm hạnh có thể ở mức độ nghiêm trọng gần như mất luôn tính mạng. Trong trường hợp đó, phải đi sám hối trước hội đồng Tăng và Ni, để cho ý thức về lỗi lầm được mọi người biết, để khiến cho mình thu thúc làm mới cuộc đời, đổi mới cuộc đời. Phục hồi tư cách thanh tịnh của một vị Tỳ-kheo-ni. Trong việc ăn năn hối lỗi, phải làm những phép ý hỉ, tức là làm cho Tăng đoàn cảm nhận được rằng từ nay về sau mình không bao giờ tái phạm. Trở thành con người gương mẫu, tư cách phạm hạnh của Tăng mới được phục hồi. Ta đặt ra cơ chế ý thức bản thân về tội lỗi, ý thức xã hội về tội lỗi làm cho ta không dám phạm.
             Đức Phật nói: “Ai cảm thấy khó chịu về lỗi lầm của mình hoặc khi người khác biết về tội lỗi của mình, cảm thấy bị tổn thất lương tâm, nhơn đây người đó sẽ xa rời được tội lỗi”. Nhu cầu đó cần phải được áp dụng cho hai giới Tăng và Ni, cho mọi người. Chúng ta lý luận trên cơ sở biện hộ rất hợp lý. Ai muốn cầu tiến phải mời người khác chỉ lỗi càng nhiều càng tốt. Họ chỉ điểm cho mình, phải ăn năn hối lỗi, làm những việc lành, việc tốt, chắc chắn đây sẽ là sự hỗ trợ rất lớn trong việc tu tập.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.15/3/2015.

No comments:

Post a Comment