Saturday, March 14, 2015

 GIÁO ĐOÀN TỲ KHEO NI VÀ BÁT KỈNH PHÁP (tiếp theo)  
           
Thức-xoa-ma-na trước khi thọ giới phải đồng thuận trước hai bộ Đại tăng
             Điều thứ sáu, Thức-xoa-ma-na tuân thủ các học giới trong vòng hai năm trước khi thọ giới Tỳ-kheo-ni và phải được sự đồng thuận của hai bộ Tăng và Ni. Thức-xoa-ma-na Pali gọi là Sikkhamànà, Hán dịch chánh học nữ. Nghĩa là, người nữ đang học hỏi các điều đạo đức để trở thành bậc chân nhân, một bậc Giác ngộ và giải thoát. Cơ cấu của Ni đoàn khác với Tăng đoàn ở chỗ không có vị Sa-di ni, tuổi nhỏ như là La Hầu La. Sau khi cơ chế Tăng đoàn được gia tăng về số lượng, những vị Tỳ-kheo-ni từ “Thiện lai Tỳ-kheo-ni” trở thành cơ chế, phải có hai năm dự bị để tập sự việc tu học giới pháp. Lúc đó, họ phải học tất cả những điều khoản giới luật của Tỳ-kheo-ni. Ví dụ học về Ba-la-di, Tăng tàn, tất cả những điều khoản còn lại. Nhưng họ không được tham dự lễ Bố tát, và quyết định về các chương trình chính sách của Tăng đoàn Yết ma, vì chưa đủ tư cách để tham dự.


 

             Giai đoạn chánh học nữ là giai đoạn phát triển về sau này, không phải giai đoạn của sáu năm đầu. Về sau, dần dà cơ chế Tăng đoàn Ni được củng cố bằng cách thiết lập thêm Sa-di-ni. Sáu học giới mà Sa-di-ni học là năm điều khoản đạo đức của người tại gia, thua bát quan trai giới, còn Sa di có đến mười giới. Như vậy, dựa vào nội dung ta biết rằng vai trò vị trí của Sa-di về lịch sử ra đời trước Sa-di-ni. Do kiện tụng, toàn bộ máy Ni đoàn mới thêm Sa-di-ni vào. Sa-di-ni ứng với Sa di và tuổi nhỏ, đâu có nhu cầu như những vị lớn và chưa cần thiết để chuẩn bị trở thành những vị thầy. Họ không cần nghiên cứu về Giới luật để nắm vững trước khi quyết định. Lý luận bảo vệ cho rằng điều khoản này có nguồn gốc lịch sử.
              Có một vị sư tên San-ga-mi-ta trở thành vị Tỳ-kheo-ni không biết mình đang mang thai, bởi vì cô ta từng có một tình duyên lận đận. Tình duyên đó đã để lại cho cô hoa trái tình yêu bất đắc dĩ, khi vào chùa thai ngày càng lớn. Điều nghiên về tình trạng này không phải cô phá giới phạm trai, cô đã từ bỏ cái đó để tìm kiếm con đường tâm linh giải thoát nên vẫn được chấp nhận, nuôi dưỡng. Đứa con đó sanh ra được chăm sóc bảo hộ của Ni đoàn. Từ câu truyện đó, người ta đã tạo ra một cơ hội, là hai năm để phòng hờ, không biết trong thời gian đó có chuyện gì ngoài ý muốn không, nếu có không cho phép xuất gia.
 Hai năm đó là hai năm cần thiết để thử nghiệm, đó là nguồn gốc lịch sử. Về sau này, hai năm này được xem như là hai năm cần thiết để học tập Giới luật trước khi ta quyết định đi con đường trở thành một vị tu sĩ nữ. Nếu đối chiếu phân tích về tính thời gian của các điều luật Tỳ-kheo và Tỳ- kheo-ni ta thấy không hợp lệ. Bởi vì, trong thời đại của đức Phật giống như điều thứ hai là vấn đề của Ni giới chưa có, trong sáu năm đầu chưa có, mấy mươi năm sau mới có lại. Chúng ta biết là điều thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm của Bát Kỉnh Pháp liên hệ đến nội dung của mấy chục năm sau, tối thiểu là sau năm thứ hai mươi kể từ khi Như Lai Thế Tôn thành đạo. Bát Kỉnh Pháp đang nằm trong vòng nghi vấn rất là lớn.


 
 

Tỳ- kheo-ni không được chỉ trích chư Tăng dù bất cứ lý do nào
            Điều thứ bảy, Tỳ kheo-ni không được chỉ trích, chửi bới chư Tăng dù với bất kỳ lý do gì. Lý luận bảo hộ cho rằng, không thể nào chấp nhận về phương diện đạo đức, khi một vị Ni với tư cách là một học trò chửi bới các vị giáo học của mình. Bởi vì, nó liên hệ đến một sự kiện lịch sử. Có một vị Tỳ- kheo- ni đã chửi mắng rất nặng lời đối với tôn giả Ưu Ba Li, khi Tôn giả đến giáo giới họ. Họ chẳng những không nghe mà nổi cáu, sân hận cho nên trút những lời không đẹp đẽ. Khi ta học phải ơn nghĩa làm sao dám chỉ trích, phê bình. Góp ý được chỉ trích thì không, sự kiện lịch sử đó có thể chấp nhận, giá trị đó có thể chấp nhận. Nếu chúng ta phân tích về nội dung thấy mâu thuẫn. Đức Phật dạy, dù Tăng hay Ni, tại gia hay xuất gia phải hành trì pháp ái ngữ, tức nói với tất cả lòng tôn trọng, hiểu biết và có lòng từ bi. Ta chỉ góp ý không chỉ trích, nâng đỡ không trù dập, cảm thông không trách móc.
            Học hạnh ái ngữ không có lời chửi bới, nếu chửi không còn là tu sĩ, « sân hận bất quá nhật ». Nếu phải cau có nổi nóng, đừng bao giờ nuôi nó quá một đêm. Học thuyết ái ngữ nhu cầu giao tế bằng những lời lẽ rất đẹp lòng nhau, không thể nào tạo ra lời phê bình chỉ trích lẫn nhau. Nó phải được áp dụng trong cả hai tình huống Tăng và Ni. Tức bên nào cũng phải dùng ái ngữ không phải chư Ni phải ái nữ, chư Tăng muốn nói sao nói. Nếu chư Ni phải chấp nhận trong mọi tình huống, không được phê bình chỉ trích chư Tăng, ta có thể thấy đó là một trong những cơ hội để huấn luyện lòng nhẫn nhục, nhưng nhẫn nhục trong tiêu cực.
            Nếu như một vị Ni nào đó bị chư Tăng ứng xử bất công, im lặng hay lên tiếng, và lên tiếng như thế nào, để không dẫn đến sự phá vỡ Hòa hợp tăng và dẫn đến lòng sân hận như ngọn lửa thiêu đốt an vui và hạnh phúc. Nói bằng sự thật và nói trong lòng xây dựng, nếu như chấp nhận điều đó thì quả thật đức Phật là người chủ trương bất công, ngài đâu còn là người chủ trương bình đẳng. Như Lai Thế Tôn là người đầu tiên đưa ra bình đẳng giới tính, bình đẳng đạo đức, bình đẳng tâm linh, bình đẳng đúng đắn. Những vai trò bình đẳng chưa từng có trong lịch sử loài người, cho đến bây giờ chưa chắc các tôn giáo khác đã có. Điều qui này hoàn toàn trái ngược với học thuyết bình đẳng của Đức Phật, và trái ngược với học thuyết nhẫn nhục, ai chửi bới gì cứ chửi bới ta không được nói.
            Đức Phật dạy: nếu như người ta nói sai mình phải xác định: « những điều này không có trong chúng tôi, chúng tôi không hề làm những điều này ». Phật dạy: khi ta bị hiểu sai, phải trình bày chân lý, còn nghe, không nghe thuộc về quyền của người đó. Lúc đó, ta tháo được gút ở nội tâm, người kia gút là chuyện của họ, ta không có lỗi về phương diện trách nhiệm ở trong đây. Điều này hoàn toàn trái ngược với học thuyết bình đẳng, học thuyết nhẫn nhục và học thuyết giữa những lời thị phi chỉ trích mà Đức Phật từng dạy.


 
 

Chư Ni không được phép quở trách và khuyên lơn chư Tăng nhưng chư Tăng thì ngược lại
 Điều thứ tám, chư Ni không được phép quở trách và khuyên lơn chư Tăng nhưng chư Tăng được quyền quở trách chư Ni. Lý luận bảo vệ đó tại vì muốn cho chư Ni thể hiện lòng tôn kính tuyệt đối với Tăng đoàn, vì đó là điều cần thiết mang lại lợi ích cho cá nhân và cho chư Ni,. Trong điều này, có điều ngầm ý cho thấy rằng chư Tăng sẽ không bao giờ bị sai và những gì họ nói, làm, phát biểu là chân lý. Giống như học thuyết của Thiên chúa giáo « giáo hoàng không bao giờ sai ». Bây giờ, giáo hoàng john paolo đệ nhị đã phủ định điều đó. Năm 2000 ông đại diện cho lịch sử Thiên chúa giáo sám hối với thế giới về Bảy núi tội lỗi mà lịch sử Thiên chúa giáo đã tạo ra cho lịch sử loài người. Lỗi lầm là thuộc tính của người phàm. Làm thế nào một chư Tăng với tư cách là phàm phu tục tử không thể bị sai, họ có thể bị sai. Do đó, họ vẫn có thể cần đến những lời khuyên lơn, những lời khích lệ tích cực. Sự khích lệ đó tùy thuộc vào nhu cầu, điều kiện môi trường hoàn cảnh.
 Ta không thể nào buộc chư Ni phải chấp nhận chịu quở trách, không được quyền khuyên lơn lại chư Tăng, đây là điều rất vô lý. Bởi vì, sự tiến bộ mang tính cách hỗ trợ lẫn nhau. Ta thấy có tính cách thừa nhận giới tính Tăng vượt trội hơn giới tính Ni và khẳng định rằng các phương diện tư cách đạo đức, nhận thức của chư Tăng là hoàn thiện là điều hoàn toàn trái lại với lời dạy của Đức Phật. Đức Phật chỉ nói phàm phu tức là không tôn kính Phật, không tôn kính Pháp, không tôn kính Tăng, không hành trì. Người được gọi là Thánh là đi ngược lại bốn khuynh hướng vừa nêu. Ngài không hề nói Tăng hay Ni, người xuất gia hay tại gia, ai làm những điều đó, có hành trì, có thực tập, có chuyển hóa người đó được gọi là người đúng đắng, có lợi lạc an vui và ngược lại thiếu đi những giá trị tích cực. Ngài không phân biệt giới tính mà do chúng ta phân biệt, áp đặt, nói rằng Đức Phật đã dạy như vậy và buộc không được quyền thay đổi.

 

            Khi phân tích từng điều khoản trong tám điều Bát Kỉnh Pháp, nội dung chính yếu tăng cường lòng tôn kính của chư Ni đối với chư Tăng. Không phải nằm lòng tôn kính không mà là giá trị hiện thực nếu như chúng ta ứng dụng điều đó, thì đạo Phật được gì, mất gì. Trước nhất, đạo Phật sẽ mất đi học thuyết bình đẳng như một sáng tạo về tư tưởng và học thuyết. Đức Phật Thích Ca mất đi lòng từ bi vì cơ chế lý luận ở trong Bát Kỉnh Pháp. Đức Phật được nhìn nhận như một người không còn tuệ giác. Ngài đã chấp nhận một cách bất đắc dĩ và có điều kiện, tạo ra một bản án rất nặng nề để trở thành một vị Tỳ-kheo-ni mang theo tội lỗi đó, làm cho chánh pháp bị giảm thiểu. Nếu như ta không mạnh dạn đặt ra vấn đề thì sự tổn thất nằm ở Đức Phật về đạo Phật. Xóa bỏ Bát Kỉnh Pháp đâu làm tổn thất chư Tăng, chư Tăng vẫn là chư Tăng, chư Ni vẫn là chư Ni. Hai bên có thể cùng làm Phật sự, có những khoảng cách nhất định, Ni bộ riêng, Tăng bộ riêng, hỗ trợ lẫn nhau về phương pháp luận, hỗ trợ với nhau về chính sách hoằng pháp, chính sách giáo dục...vv. Đạo Phật sẽ phát triển rất mạnh ở trong xã hội.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.15/3/2015.

No comments:

Post a Comment