A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, các tỳ-kheo gặp gió mùa thu phát sinh bệnh, nên thân hình gầy còm, lại sinh ghẻ lở. Đức Thế Tôn ở nơi nhàn tịnh, nghĩ rằng:3 "Hiện nay là mùa thu, các tỳ-kheo gặp phải gió độc sinh bệnh, thân hình gầy còm, lại sinh ghẻ dữ. Ta cần thích nghi khiến các tỳ-kheo được uống các loại thuốc, vừa là thức ăn mà vừa là thuốc uống, 4như ăn cơm hay cơm khô, không nên để cho bày cái vẻ thô xấu ra." Ngài lại nghĩ: "Hiện tại có năm thứ thuốc mà người đời biết như bơ, dầu, bơ đặc, mật, đường mía.5 Các tỳ-kheo được phép dùng năm thứ thuốc này, vừa là thức ăn mà vừa là thuốc uống như cơm, cơm khô, không nên để cho hiện cái vẻ thô xấu ra."
Bấy giờ, đức Thế Tôn từ nơi tịnh thất đi ra, vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo rằng: "Ta vừa ở nơi tịnh thất, khởi lên ý nghĩ: 'Hiện nay là mùa thu, các tỳ-kheo gặp phải gió độc sinh bệnh, thân hình gầy còm, lại sinh ghẻ dữ. Ta cần thích nghi khiến các tỳ-kheo được uống các loại thuốc, vừa là thức ăn mà vừa là thuốc uống, như ăn: cơm, cơm khô, không nên để cho thô hiện.' Ta lại nghĩ: 'Hiện tại có năm thứ thuốc mà người đời biết như bơ, dầu, [627a1] bơ đặc, mật, mật mía. Các tỳ- kheo được phép dùng năm thứ thuốc này, vừa là thức ăn mà vừa là thuốc uống như cơm, cơm khô, không nên để cho hiện cái vẻ thô xấu ra.' Bởi vậy, cho nên cho phép các tỳ-kheo uống năm thứ thuốc khi có nhân duyên bệnh."
Bấy giờ, các tỳ-kheo nhận được các thức ăn ngon béo, hay nhận được thịt, canh thịt, nhưng không thể ăn kịp thời1 huống chi năm thứ thuốc này làm sao kịp thời để uống? Do vậy, thuốc tuy chứa nhiều mà bệnh vẫn không thuyên giảm, hình thể vẫn gầy còm, lại sinh các loại ghẻ lở. Bấy giờ, đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi Tôn giả A-nan: "Các tỳ-kheo này sao hình thể gầy còm, lại sinh các loại ghẻ lở?" Tôn giả A-nan bạch Phật: "Các tỳ-kheo bệnh này tuy đã nhận được thức ăn ngon béo, được thịt, canh thịt, nhưng không thể ăn kịp thời; huống chi năm thứ thuốc này làm sao kịp thời để uống. Do đó, thuốc tuy chứa nhiều mà bệnh vẫn không lành, cho nên hình thểvẫn gầy còm, vẫn sinh ghẻ lở." Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: "Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo vì bệnh duyên, dù thời hay phi thời, cũng được uống năm thứ thuốc này." Khi ấy, các tỳ-kheo bệnh nhận được đồ ăn thức uống ngon bổ, nhận được thịt, canh thịt, nhưng không thể ăn kịp thời, nên đem cho người nuôi bệnh. Người nuôi bệnh ăn no rồi nên không ăn nữa, đem thức ăn ấy bỏ ra ngoài. Các loài chim tranh nhau ăn nên kêu la inh ỏi. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn biết mà vẫn cố hỏi Tôn giả A- nan: "Tại sao các loài chim kêu la như thế ?"
Tôn giả A-nan bạch Phật: "Các tỳ-kheo bệnh nhận được đồ ăn thức uống ngon bổ, nhận được thịt, canh thịt, nhưng không thể ăn kịp thời, nên đem cho người nuôi bệnh. Người nuôi bệnh ăn no rồi nên không ăn nữa, đem thức ăn ấy bỏ ra ngoài. Các loài chim tranh nhau ăn nên kêu la inh ỏi như thế." Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: "Từ nay về sau cho phép thức ăn dư của bệnh nhơn, người nuôi bệnh dù đã ăn đủ no hay ăn chưa đủ no, được phép ăn theo ý mình."1 Khi ấy, các tỳ-kheo buổi sáng thọ tiểu thực rồi vào thôn khất thực. Ăn đủ no rồi, trở lại trong Tăng-già-lam, đem thức ăn đã nhận khi sáng cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo vì đã ăn no rồi nên không ăn nữa, đem bỏ ra ngoài. Các loài chim tranh nhau ăn kêu la. Bấy giờ, đức Thế Tôn biết mà vẫn cố hỏi Tôn giả A-nan: "Tại sao các loài chim kêu la như thế ?"Tôn giả A-nan đem nhân duyên trên thưa đầy đủ lên đức Phật, vì vậy cho nên các loài chim kêu la.Đức Phật dạy Tôn giả A-nan: "Từ nay trở đi, nếu đã nhận thức ăn tiểu thực rồi, hoặc ăn no rồi, cho phép làm pháp dư thực để ăn." Làm pháp dư thực như sau:
"Bạch Đại đức, tôi đã ăn no rồi. Ngài xem cho, biết cho."
Đó là cách tác pháp dư thực.Vị kia nên nói rằng: "Hãy ngăn lòng tham của ngươi!" Nên làm pháp dư thực như vậy rồi ăn. (Có những nhân duyên khác như trong ba-dật đề, nói về pháp dư thực giống nhau nên không chép ra).1 Lúc bấy giờ, Tôn giả [627b] Xá-lợi-phất bị bệnh phong.2 Thầy thuốc bảo dùng năm loại mỡ: mỡ gấu, mỡ cá, mỡ lừa, mỡ heo, mỡ cá ma-kiệt.3 Cho phép dùng năm loại mỡ này, thọ nhận đúng lúc, nấu đúng lúc, và lọc đúng lúc, uống như phép dùng dầu. Nếu nhận không đúng lúc, nấu không đúng lúc, lọc không đúng lúc mà sử dụng thì trị như pháp.4
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, từ nước Xá-vệ, du hành trong nhân gian cùng đại chúng một ngàn hai trăm năm mươi tỳ-kheo.Bấy giờ là lúc lúa gạo khan hiếm, nhân dân đói khổ, khất thực khó khăn, lại có năm trăm người hành khất đi theo sau đức Thế Tôn. Khi đức Thế Tôn an tọa dưới một gốc cây, có tượng sư Tư-ha Tỳ- la-trà5 chở năm trăm chiếc xe mật mía từ con đường kia đi lại.6 Bấy giờ, tượng sư thấy trên đường có dấu chân với bánh xe nghìn nan hoa của đức Như Lai, hiện rõ ra tướng ánh sáng trong sạch đẹp đẽ, đầy đủ. Thấy vậy, tượng sư theo dấu chân tìm đến. Từ xa trông thấy đức Thế Tôn an toạ dưới bóng cây, dung nhan đoan chánh, các căn tịch định, đã hoàn toàn được chế ngự, như voi chúa đã thuần thục; cũng như suối nước trong veo sạch sẽ, trong ngoài đều thanh tịnh. Thấy vậy, tượng sư phát lòng hoan hỷ, đến chỗ đức Như Lai, trước mặt ngài, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện vì tượng sư nói pháp vi diệu khiến cho tượng sư sinh tâm hoan hỷ.Ông cúng dường các tỳ-kheo mỗi vị một bát đường mía. Các tỳ-kheo không dám thọnhận: "Đức Như Lai chưa cho phép các tỳ-kheo thọ nhận đường mía đen1." Và các Tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn bảo: "Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo thọ nhận đường mía đen." Đức Phật nói với tượng sư: "Chỉ cần một chum đường cũng đủ cho các tỳ-kheo."2 Tượng sư phụng hành lời dạy của Như Lai, đem một chum đường phân phát cho các tỳ-kheo rồi, số đường vẫn còn dư. Đức Phật bảo tượng sư: "Ông cứ tùy ý tiếp tục phân phối đầy đủ cho đến ba lần." Bấy giờ, tượng sư vâng lời Phật dạy, phân phối đầy đủ ba lần, nhưng vẫn dư. Đức Phật bảo tượng sư: "Ông có thể đem số đường còn thừa cho những người hành khất." Tượng sư liền đem cho họ mà vẫn còn.Đức Phật bảo nên cho họđến ba lần.Tượng sư cho họ ba lần mà vẫn cứ còn thừa. Đức Phật bảo tượng sư: "Nay ông đem số đường mía thừa này đổ nơi tịnh địa, trong nước không có trùng. Tại sao vậy? Vì ta không thấy chư Thiên, Ma,
Phạm, sa-môn, [627c] bà-la-môn và người đời nào ăn loại đường dư này mà có thể tiêu hoá được, chỉ trừ một người là Như Lai." Tượng sư liền đem đường mía dư để nơi tịnh địa, trong nước không có trùng. Khi đổ vào trong nước, nước chấn động thành âm thanh, phát sinh khói như đốt lửa, giống như nung một cục sắt đỏ rồi bỏ vào trong nước. Đường mía dư đổ vào nước, có âm thanh chấn động và phát sinh ra khói, cũng giống như vậy.Tượng sư mục kích sự biến động lạ thường như vậy, lông trong người đều dựng ngược lên, trong lòng sợ sệt, liền đến chỗ đức Thế
Tôn đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên vừa rồi bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.Đức Thế Tôn thấy tượng sư sợ sệt, liền vì ông mà nói pháp vi diệu, nói về phước của bố thí, trì giới, và sinh thiên, chỉ trích dục là bất tịnh, khen ngợi sự xuất ly. Tượng sư liền từ chỗ ngồi dứt sạch các trần cấu, đạt được pháp nhãn tịnh, kiến pháp, đắc pháp, chứng được quả, rồi bạch Phật rằng: "Từ nay trở đi con xin quy y Phật, Pháp, Tăng. Cúi xin đức ThếTôn cho con làm người ưu-bà-tắc, trọn đời không sát sinh, cho đến không uống rượu."
Bấy giờ, tượng sư nghe nói pháp, mọi trói buộc được khai giải, sinh lòng hoan hỷ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, kính lễ dưới chân Phật, nhiễu ba vòng rồi cáo lui.
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo vào trong thôn khất thực, thấy người ta làm đường mía có trộn tạp vật vào, nên nghi, không dám ăn khi phi thời. Đức Phật bảo các tỳ-kheo: "Cho phép dùng phi thời. Vì cách làm đường nó như vậy."
Các tỳ-kheo nhận được loại đường mía chưa thành, nghi. Phật dạy: "Cho phép dùng." Nhận được loại đường mía lỏng, đường mía đặc, Phật đều cho phép dùng.Loại đường trắng, Phật cũng cho dùng. Đường mía pha nước, Phật cũng cho dùng. Nước mía chưa đun chín cho uống. Đun chín rồi, không cho uống, nếu uống trị như pháp. Được mía cây, Phật cho dùng đúng thời.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn du hành trong nhân gian từ biên giới nước Ma-kiệt-đà, đến thành La-duyệt.Khi ấy, Tất-lăng-già-bà-ta1 có nhiều người quen ở trong thành này và có nhiều đồ chúng. Khi nhận được nhiều phẩm vật cúng dường như bơ, dầu, bơ đặc, mật, đường mía, đều cho các đệ tử. Các đệ tử được thầy cho, chứa đầy cả lu lớn, bình, bát lớn, bát nhỏ, trong đãy đựng bát, đãy lọc nước v.v¼ đem treo lên trụ cây, trên móc áo, nơi cửa sổ, treo khắp các nơi, rỉ chảy lung tung, khiến phòng xá bị hôi thối.
Bấy giờ, các trưởng giả đến thăm, vào phòng thấy dồn chứa, tích trữ các loại thuốc nhiều một cách bừa bãi như vậy, đều hiềm trách rằng: "Sa-môn Thích tử không biết dừng nghỉ, cầu nhiều [628a1] không nhàm chán. Bên ngoài tự xưng là ta biết Chánh pháp. Nhưng như vậy thì làm gì có Chánh pháp! Dồn chứa nhiều loại thuốc, như kho tàng của vua Bình-sa không khác."Trong số các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu- đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách đệ tử của Tất-lăng-già-bà- ta: "Sao lại dồn chứa, tích trữ các loại thuốc nhiều một cách bừa bãi như vậy?" Hiềm trách rồi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ- kheo, dùng vô số phương tiện quở trách đệ tử của Tất-lăng-già-bà- ta rằng: "Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại dồn chứa nhiều loại thuốc đến rỉ chảy lung tung như kho đồ chứa của Vua Bình-sa không khác?"
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách, rồi bảo các tỳ- kheo:
"Đây là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu.Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào có bệnh, cá2c loại thuốc dư tàn1 như tô, dầu, sinh tô, mật, đường mía, được dùng trong vòng bảy ngày. Nếu quá bảy ngày mà còn dùng, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Bệnh: được thầy thuốc bảo phải uống thứ thuốc nào đó. Thuốc: bơ, dầu, bơ đặc, mật, đường mía. Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất được thuốc, chứa cất.Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư cho đến ngày thứ bảy được thuốc, chứa cất.Ngày thứ tám, khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong bảy ngày, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc.Ngày thứ hai không nhận được thuốc.Ngày thứ ba nhận được thuốc, ngày thứ tư nhận được thuốc, như vậy cho đến ngày thứ bảy nhận được thuốc.Ngày thứ tám khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong sáu ngày đều ni-tát-kỳ.Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, ngày thứ hai nhận được thuốc. Ngày thứ ba không nhận được thuốc (như vậy chuyển lần xuống cho 3đến bảy ngày không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy). Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc.Ngày thứ hai, ngày thứ ba không nhận được thuốc.Ngày thứ tư nhận được thuốc, cho đến ngày thứ bảy nhận được thuốc.Ngày thứ tám khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong năm ngày đều ni-tát-kỳ.Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc.Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư không nhận được thuốc.Ngày thứ năm nhận được thuốc (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy).Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc.Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư không nhận được thuốc.Ngày thứ năm nhận được thuốc, cho đến ngày thứ bảy nhận được thuốc.Ngày thứ tám [628b] khi bình minhxuất hiện, số thuốc nhận được trong bốn ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, ngày thứ hai nhận được thuốc.Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không nhận được thuốc (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ bảy không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy).
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc.Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không nhận được thuốc.Ngày thứ sáu, ngày thứ bảy nhận được thuốc.Ngày thứ tám khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong ba ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, ngày thứ hai nhận được thuốc.Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không nhận được thuốc.Ngày thứ bảy nhận được (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy).
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc.Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không nhận được thuốc.Ngày thứ bảy nhận được thuốc.Ngày thứ tám khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong hai ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, ngày thứ hai nhận được thuốc.Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được thuốc (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy).
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc.Ngày thứ hai, ngày thứ ba không nhận được, cho đến ngày thứ bảy không nhận được.Ngày thứ tám khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong một ngày, ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, không tịnh thí.Ngày thứ hai được thuốc tịnh thí.Ngày thứ ba được thuốc, cho đến ngày thứ bảy được thuốc không tịnh thí.Ngày thứ tám khi bình minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong sáu ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc không tịnh thí.Ngày thứ hai được thuốc, ngày thứ ba được thuốc tịnh thí, ngày thứ tư được thuốc không tịnh thí (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ bảy được thuốc tịnh thí, không tịnh thí, đặt câu văn cũng như trên).Sai cho người (đặt câu văn cũng như trên).Hoặc mất, hoặc cố làm hư hoại, hoặc làm phi dược, hoặc tác ý là thân hậu lấy, hoặc quên đi (xây dựng câu văn cũng như trên) đều ni-tát-kỳ.
Nếu thuốc phạm xả đọa mà không xả, lại đem đổi lấy thuốc khác thì phạm một ni-tát-kỳ, một đột-kiết-la.Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người.Không được xả biệt chúng.Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.Khi xả cho Tăng phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏdép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe!Tôi Tỳ-kheo tên là¼, đã cố ý chứa thuốc dư quá bảy ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng."
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước phải tác bạch như vầy:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là¼, đã cố ý chứa thuốc dư quá bảy ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên¼ này. [628c] Đây là lời tác bạch."
Bạch rồi sau đó mới thọ sám, nên bảo người kia rằng:
"Hãy tự trách tâm ngươi!"
Tỳ-kheo phạm tội thưa:
"Xinvâng!"
Tăng nên trả thuốc lại cho tỳ-kheo kia. Vật sở hữu quá bảy1ngày của tỳ-kheo kia như bơ, dầu thì nên thoa vào cửa, nơi bị kêu; mật, thạch mật thì cho người giữ vườn. Hoặc đến ngày th3ứ bảy, xả cho tỳ-kheo.2 Tỳ-kheo kia nên lấy ăn. Nếu dưới bảy ngày thì nên trả lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma như vầy: Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là¼, đã cố ý chứa thuốc dư, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, hoàn thuốc lại cho Tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.""Đại đức Tăng xin lắng nghe!Tỳ-kheo này tên là¼, đã cố ý chứa thuốc dư, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Tăng nay hoàn lại thuốc cho tỳ-kheo này.Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng hoàn thuốc lại cho tỳ-kheo có tên¼ này thì im lặng.Vị nào không đồng ý xin nói."
"Tăng đã chấp thuận trả lại thuốc cho tỳ-kheo có tên¼ này rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
Tỳ-kheo này lấy thuốc lại rồi nên dùng thoa gót chân, hoặc dùng đểđốt đèn. Đã xả cho Tăng rồi, Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la.Nếu có vị nào bảo "đừng trả", vị ấy phạm đột-kiết-la.Nếu chuyển làm tịnh thí hoặc sai cho người khác, hoặc cố làm hư hoại, hoặc đốt, hoặc làm phi dược, hoặc uống thường xuyên, tất cả đều phạm đột-kiết-la.Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu thuốc quá bảy ngày kia là bơ, là dầu, dùng thoa cửa, chỗ có tiếng kêu. Nếu là mật, đường mía, cho người giữvườn dùng, hoặc đến ngày thứ bảy xả cho tỳ-kheo dùng. Nếu chưa đủ bảy ngày, hoàn lại cho tỳ-kheo kia dùng thoa gót chân, hoặc đốt đèn thì không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.24/8/2017.
No comments:
Post a Comment