A. DUYÊN KHỞI
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá- vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử,2 trên đường đi nhận được nhiều lông dê, cột trên đầu cây trượng quảy đi. Các cư sĩ thấy vậy cơ hiềm: 'Sao sa-môn Thích tử lại đi mua bán lông dê?' Và hỏi rằng: 'Đại đức, lông dê này có bán không?'
Các tỳ-kheo nghe những lời này, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách Bạt-nan-đà rằng: 'Sao lấy lông dê cột vào đầu trượng, quảy đi dọc đường?' Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, [617c] rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn vì nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
"Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại quảy lông dê đi trên đường để cho cư sĩ chê trách?"
Đức Thế Tôn dùng mọi phương tiện quở trách, rồi bảo các tỳ-kheo: "Đây là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài."
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo nào, khi đi đường được lông dê, nếu không có người mang, tự mình được mang đi cho đến ba do tuần. Nếu không có người mang, tự mình mang đi quá ba do tuần, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Nếu tỳ-kheo trên đường đi, hoặc tại trú xứ, nhận được lông dê, nếu cần thì lấy. Nếu không có người mang, tự mình được phép mang đi, cho đến ba do tuần. Nếu có người mang thì nên nói với người ấy rằng: 'Nay tôi có vật này, nhờ mang giúp tôi đến chỗ đó.' Trong khoảng này, tỳ-kheo không được tiếp tay mang. Nếu tiếp tay mang phạm đột-kiết-la. Nếu bảo tỳ-kheo-ni mang, quá ba do tuần, phạm đột-kiết-la; nếu bảo thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, mang quá ba do-tuần, phạm đột-kiết-la. Trừ lông dê, mang các vật khác như: câu-giá-la, cỏ nhũ diệp, sô ma, ma, xí-la-bà-ny,1 mà mang quá ba do-tuần phạm đột-kiết-la. Nếu quảy các vật khác nơi đầu trượng mà đi cũng phạm đột-kiết-la. Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la. Khi xả cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay, thưa:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đã quảy lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng."
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã quảy lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch."
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám phải nói với tỳ- kheo phạm tội rằng:
"Hãy tự trách [618a] tâm ngươi!"
Đương sự thưa: "Xin vâng!"
Tăng nên trả lông dê lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã quảy (gánh) lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng. Tăng chấp thuận, trả lông dê lại cho tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch."
"Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đã quảy lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem lông dê này, trả lại cho tỳ-kheo này. Trưởng lão nào chấp thuận, Tăng đem lông dê này trả lại cho tỳ-kheo này thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói."
"Tăng đã chấp thuận trả lông dê lại cho tỳ-kheo có tên... này rồi. Tăng chấp thuận, nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy."
Nếu tỳ-kheo đã xả giữa Tăng rồi mà không trả lại, Tăng phạm đột- kiết-la. Nếu có người bảo "đừng trả", người ấy phạm đột-kiết-la. Hoặc chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc dùng mãi cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, tất cả đều phạm đột- kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu mang đi cho đến ba do tuần, hoặc dưới ba do tuần. Hoặc có người mang giúp, bảo họ mang đến chỗ đó, mà khoảng ấy mình không mang giúp. Sai tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni gánh đi ba do tuần. Hoặc lông mịn, giây bằng lông để trang sức, lông đầu, lông trên cổ, lông chân. Hoặc làm mão làm khăn trùm cho ấm. Hoặc gói dép. Tất cả đều không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.24/8/2017.
No comments:
Post a Comment