NGŨ UẨN( Pãncakkhandhā ).
Định nghĩa: 5 uẩn là 5 nhóm, 5 tập hợp, 5 chùm, 5 khối, tích tụ.
Con người là một tập hợp của 5 uẩn.
Khi nói đến 5 uẩn là nói đến sự thật tuyệt đối ( chơn đế).
Khi nói đến con người là nói đến sự tương đối ( tục đế).
Khi nói 5 uẩn là đã phủ nhận con người.
Người nào thấy được 5 uẩn là người đó thấy pháp=>giải thoát được phiền não.
“Y pháp bất y nhân”= y theo pháp chứ không theo con người.
Sự khác nhau giữa ngũ uẩn và ngũ thủ uẩn:
=>Ngũ uẩn là nói về cái chung của con người.
Ngũ thủ uẩn là nói về sự dính mắt, chấp thủ vào 5 uẩn. ( thủ: chấp, nắm giữ)
=>Phải luôn luôn thấy 5 uẩn chứ đừng thấy con người, chúng sinh.
Ngũ uẩn gồm: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn
1) Sắc uẩn (Rūpākkhandhā )
Là nhóm về sắc pháp, thuộc về vật chất, vô tri, luôn luôn biến hoại, thay đổi.
“ Có Thiền trí tuệ sanh
Không thiền trí tuệ diệt
Người có thiền, có tuệ
Nhất định gần Niết Bàn.”
Theo A Tỳ Đàm, 5 uẩn gồm 28 sắc pháp. Cụ thể như sau:
-đất, nước, gió, lửa ( 4 sắc Tứ đại). Đây là 4 sắc căn bản từ đó phát sinh các sắc khác.
-thần kinh nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân ( 5 sắc thần kinh)
-sắc cảnh sắc, thinh, khí, vị ( 4 sắc cảnh giới)
-sắc nam tính, sắc nữ tính ( 2 sắc tính)
– sắc ý vật, sắc mạng quyền, sắc vật thực, sắc hư không
-sắc thân biểu tri, sắc khẩu biểu tri ( 2 sắc biểu tri)
-sắc khinh, nhu, thích nghiệp( 3 sắc đặc biệt)
– sắc sinh, tiến, dị, diệt ( 4 sắc tứ tướng)
=> Mỗi người là một tập hợp sắc uẩn. Phải tu được với sắc uẩn => giải thoát
=> Mỗi chúng ta phải biết đây là đất, đây là sắc uẩn, …
=> Bình đẳng giữa mọi người, không phân biệt vì tất cả đều cấu tạo từ tứ đại.
“ Lại nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn. Này các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn? Này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo suy tư: “ Đây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Đây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt. Đây là tưởng, đây là tưởng tập, đây là tưởng diệt. Đây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt. Đây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt.”Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “ Có những pháp ở đây,” vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn.”( Kinh Niệm Xứ, TB 1)
ð Có sắc uẩn đây, sống an trú chánh niệm trên sắc uẩn,… ( dán tâm vào đối tượng)
“ Tâm sân buộc tội chúng sanh
Trí tuệ buộc tội các pháp hữu vi”
( Thanh Tịnh Đạo)
“ Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán”
( Kinh Kim Cang)
2) Thọ uẩn ( Vedanā-khandhā)
Thân – Thọ khổ
Thọ khổ
Tâm – Thọ ưu
Thân – Thọ lạc
Thọ Thọ lạc
Tâm- Thọ hỷ
Thọ bất khổ, bất lạc- Thọ xả
5 cảm thọ này luôn luôn thay đổi => bản chất là vô thường, khổ.
“ Người tướng mạo xinh đẹp
Do không hận, không sân
Người tướng mạo xấu xí
Do có nhiều phẫn nộ”
“ Sabbe sankhārā aniccā ti
Yadā pãnnāya passati
Atha nibbindati dukkha
Esa maggo visuddhiyā”
“ Tất cả hành vô thường
Với tuệ quán thấy vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh”
Pháp Cú 277
“ Sabbe sankhārā dukkhāti
Yadā pãnnāya passati
Atha nibbindati dukkha
Esa maggo visuddhiyā”
“ Tất cả hành khổ đau
Với tuệ quán thấy vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh”
Pháp Cú 278
“ Sabbe sankhārā ānattāti
Yadā pãnnāya passati
Atha nibbindati dukkha
Esa maggo visuddhiyā”
“ Tất cả hành vô ngã
Với tuệ quán thấy vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh”
Pháp Cú 279
3) Tưởng uẩn (Sãnnākhandhā)
ð Là một chùm về sự tưởng nhớ
Tưởng uẩn gồm:
– Sắc tưởng
– Thinh tưởng
– Hương tưởng
– Vị tưởng
– Xúc tưởng
– Pháp tưởng
“ Hy vọng đồng nghĩa với tuyệt vọng”
( Vì mình hy vọng vào cái vô thường, vô ngã như hy vọng vào năm uẩn. Vì 5 uẩn là vô thường, khổ đau. => Hy vọng đồng nghĩa với tuyệt vọng)
4) Hành uẩn ( Sankhāra khandhā)
Là nhóm về hành động, là tâm sở ( trừ tâm sở thọ và tâm sở tưởng).
50 tâm sở gồm:
Trong 121 tâm thuộc abhidhamma ( A Tỳ đàm), tham, sân, si thuộc hành uẩn.
Tóm lại, hành uẩn thuộc 50 tâm sở ( trừ thọ và tưởng).
Ngũ uẩn là vô thường.
Cái gì vô thường, cái đó là đau khổ.
Cái gì đau khổ, cái đó là vô ngã.
“ Netaṃ māma
Nesohaṃ asmi
Nesome attāti”
( Cái này không phải của tôi.
Cái này không phải là tôi.
Cái nay không là linh hồn, tự ngã của tôi).
5) Thức uẩn ( Vĩnnānakhndha)
Thức uẩn thuộc nhóm về tâm, ý hoặc thức.
Tại sao có khi gọi là ý ?
Tại sao có khi gọi là tâm ?
Tại sao có khi gọi là thức ?
Ý : mano, ý có 1 ( câu Pháp cú đầu tiên)
Tâm : citta . Theo abhidhamma ( A Tỳ đàm), tâm có 121 loại: tâm dục giới, tâm sắc giới, tâm vô sắc giới, tâm siêu thế giới.
– Tâm dục giới bao gồm:
+ Tâm thiện
+ Tâm bất thiện ( tâm tham, sân, si)
+ Vô ký
Thức :Vĩnnāna, có 6 gồm :
– Nhãn thức
– Nhĩ thức
– Tỷ thức
– Thiệt thức
– Thân thức
– Ý Thức
ð Khi đề cập đến 5 uẩn, phải thấy rõ bản chất vô ngã của 5 uẩṇ
28 sắc uẩn
Thọ
5 uẩn Tưởng vô thường, luôn thay đổi
=> là khổ, vô ngã
Hành ( 50 tâm sở)
Thức ( 121 tâm)
Vì không tìm thấy cái tôi, cái ta trong 5 uẩn.
Cái tôi, cái của tôi nó không nằm trong sắc, không nằm trong thọ, tưởng, hành, thức.
Tóm lại, Ngũ uẩn là vô thường, là đau khổ, là vô ngã.
Dựa vào học thuyết vô ngã để phủ nhận ngũ uẩn.
Sắc uẩn thuộc sắc pháp
Thọ, tưởng, hành, thức thuộc tinh thần, luôn luôn biến đổi.
“ Con tôi tài sản tôi
…”
Pháp cú
ð Từ bỏ khái niệm về con người để thấy bản chất sự thật của 5 uẩn và thấy nó là vô thường, khổ và vô ngã để yểm ly, ly tham và giải thoát.
“ Tham ái sanh lo âu
……”
CÂU HỎI: Hãy cho biết tiến trình của sự tu tập để đạt được giải thoát dựa trên giáo lý 5 uẩn ( tham khảo Kinh Giáo Giới La Hầu La, Tiểu Kinh trong Trung Bộ kinh- HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.3/12/2015.
No comments:
Post a Comment