Monday, December 7, 2015

Mục đích và công dụng của Luật Tỳ – Ni Nhật Dụng.

 
Với lời văn ngắn gọn dễ nhớ, thuận tiện cho người sơ cơ nhập đạo, lấy đó làm khuôn thước cho thân tâm. Trong bốn oai đi, đứng, nằm, ngồi của người tu không vượt ngoài giới luật, khiến cho hành giả suốt ngày đêm 24h, tất cả đều nằm trong khuôn khổ thánh thiện.
Cho nên bộ Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu này là căn bản vững chắc, thềm bậc tiến đạo, nền tảng hộ trì giới luật, cơ bản duy trì chánh pháp, pháp mầu nhất thừa. Do đó, tuy là 53 bài kệ, 38 câu chú nhưng dàn trải, thâu tóm hết từng khoảng khắc nhỏ trong cuộc sống, rất rõ ràng, có sức mạnh quán triệt thân tâm mỗi hành giả cho nên:
“Thâm nhập pháp giới
Tâm không chướng ngại”.
Hoặc:
“Đắc vô ngại nhãn
Kiến nhất thiết Phật”.
Vì vậy người tu hành quan trọng nhất là Điều phục vọng Tâm và An Trụ Chơn Tâm, vì Tâm chính là chủ của Thân, Thân chỉ là thể hiện ra công dụng của Tâm. Do đó muốn An Trụ Chơn Tâm, muốn hiển lộ Tánh Giác thì phải thân đâu tâm đó, cần phải làm gì biết nấy, để khỏi chạy theo vọng niệm.
Cho nên tông chỉ chủ yếu của bộ Luật này là:
+ Nhiếp ý định Tâm.
+ Dứt ác làm lành.
+ Thanh lương tâm địa.
Thứ nhất: Nhiếp ý định tâm.
Như đã nói trên, sự chánh niệm tỉnh giác rất quan trọng đối với hành giả. Cho nên hành Tỳ Ni là phương tiện giúp người sơ cơ mới vào đạo nhiếp tâm ý của mình vào tất cả mọi hành động của Thân – Khẩu – Ý trong hiện tại. Một khi hành giả nhiếp ý của mình thì hành giả đồng thời làm chủ được tâm thức vì vậy hành giả có ngay cuộc sống an lạc trong giờ phút bây giờ.
Sự nhiếp ý định tâm cũng có thể gọi là chánh niệm tỉnh giác. Chánh niệm có nghĩa là nhớ nghĩ đúng thiện pháp, đúng sự thật. Trong cuộc sống hằng ngày, mọi người có rất nhiều điều để nhớ nghĩ, để suy tư hết ngày này đến năm kia. Với đạo Phật, mọi nhớ nghĩ ấy là viễn vong, không thiết thực, chẳng lợi ích, đánh mất “thực tại sống động đang là”, đánh mất nguồn khinh an hạnh phúc của chính mình.
Chính vì thế, nên Đức Phật dạy hàng đệ tử, nhất là người xuất gia cần nhiếp ý định tâm vào bất cứ hành động gì đang xảy ra trong suốt trọn ngày. Bởi lẽ “nhân Giới sanh Định- nhân Định phát Tuệ” là vậy.
Vì vậy từ khi mới thức dậy cho đến lúc đi ngủ, nhất thiết mọi hành vi trong ngày, Tỳ Ni sẽ giúp hành giả chú tâm vào đối tượng “đang là”. Qua sự nhiếp thâu tâm ý của mình hành giả sẽ không còn tán thất ý niệm, vọng tưởng ác pháp, thứ hai giúp hành giả hướng về thiện pháp.Và điều thiết thực nhất là hành giả có thể làm chủ chính mình, sống với thái độ điềm tĩnh và khinh an trong từng giờ phút và suốt cuộc đời.
Tông chỉ thứ hai là:
Dứt ác làm lành. Một khi hành giả làm chủ tâm niệm của mình rồi, thì hành giả sẽ có thể biết được điều gì là thiện, điều gì là bất thiện. Nếu muốn trên cầu Phật Đạo, dưới cứu độ chúng sanh, công hạnh đầy đủ thì phải giữ nhất tâm. Khi hành giả đã nhất tâm rồi thì sẽ nhận biết rõ thiện pháp để tu tập, quyết dứt trừ các điều ác, nguyện làm các việc lành để tăng thêm lòng từ làm nền tảng cho hạnh Bồ Tát. Điều đó thể hiên rõ qua bài kệ sau:
“Không làm các việc ác,
Chỉ làm các việc lành
Tự trong sạch ý mình
Là lời chư Phật dạy”.
Chính vì vậy bộ Luật Tỳ Ni này đó là lời phát nguyện, đi theo trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, giúp hành giả nhận rõ được bản lai diện mục của chính mình, sống đời sống thanh tịnh để từ đó làm tư lương cho tông chỉ thứ ba:
Thanh lương tâm địa.
Một khi hành giả làm chủ được ý niệm của mình, thực hành các pháp lành, dứt trừ các việc ác thì tâm ý của hành giả sẽ thật sự thoải mái giống như khu vườn tâm không còn cỏ dại, dứt trừ các vọng niệm, làm chủ được ba nghiệp, sống với chính mình trong từng phút giây hiện tại. Chính nhờ hành trì Tỳ Ni mà hành giả được chánh niệm, khi chánh niệm thì ngay thời điểm đó mọi lo âu hoặc phiền não lắng đọng và thiện tâm được sanh khởi đem đến niềm khinh an, hoan hỷ cho hành giả.
Từ ba tông chỉ của bộ luật này hành giả cũng nhận biết rõ sự diệu dụng, luận dụng của ba tông chỉ trên đó là:
Một khi hành giả đã nhiếp ý định tâm, làm chủ tâm niệm sống trong tỉnh thức thì hành giả sẽ chuyển hóa khổ đau do bất giác.
Một khi đã dứt ác làm lành thì hành giả lấy đó làm nền tảng xây dựng cách sống tỉnh thức tức “chánh niệm tỉnh giác vậy”.
Và cuối cùng thanh lương tâm địa, làm sạch vườn tâm, phá trừ Tam Độc tham sân si, đạt đến viên mãn giác ngộ.
Hành Tỳ Ni chính là hành thiện pháp, lợi mình lợi người. Hành trì liên tục như vậy chính là cơ duyên giúp người mới tu tập, tâm thiện sanh khởi không gián đoạn, dần dần bước vào thiên đạo, tâm niệm thấm dần thiện pháp, làm nền tảng để tiến sâu và xa hơn trên đạo lộ giải thoát. Bởi do tâm của chúng sanh từ sáng cho đến tối cũng giống như ngựa hoang chạy nhảy, mỗi niệm điều khởi vọng. Thân của chúng ta thì giống như khỉ vượn leo chuyền, mỗi khắc đều tạo nghiệp, mà Tỳ Ni thì có công trợ giúp rất lớn mạnh: làm cho chúng sanh ra làm việc gì cũng có mực thước; dẫn đến làm cho Tăng già hòa hợp, Phật Pháp được tồn tại lâu dài ở đời. Ai siêng năng học tập pháp Tỳ Ni, thì có thể điều phục được tập khí phiền não từ vô thỉ.
Xét ra, tập khí phiền não của chúng sanh trong nhiều kiếp dù là trời cao cũng không thể nào dung chứa hết, sự chìm đắm lâu xa trong biển khổ của chúng sanh cũng chẳng thể nào dùng kiếp số mà tính kể xong. Chúng sanh ra trong mịt mờ, rồi chết đi cũng trong tăm tối, nếu không biết nương theo lời dạy của bậc Đại Giác học tập theo giáo pháp Tỳ Ni để đoạn trừ cội gốc phiền não, thì làm sao mong ra khỏi hai đường chết (phần đoạn sinh tử và biến diệt sinh tử) lên được đỉnh núi Pháp tánh, chứng thành Nhứt thiết chủng trí. Nếu muốn chứng được yếu chỉ vô vi, vượt thoát thân hữu lậu, bước lên đường Bồ đề, ra khỏi hầm phiền não, đạt đến bờ Niết Bàn, thoát ra dòng sanh tử, thì phải siêng năng học tập pháp Tỳ Ni.
Tóm lại, người sơ cơ học đạo có được sự nhiếp tâm chánh niệm tỉnh giác vào mọi oai nghi của mình. Có sự khởi phát thiện tâm, hành các thiện pháp, chuyển hóa khổ đau, xây dựng cách sống tỉnh thức, làm mát tâm địa đạt đến viên giác bất dị, chính là hiệu lực do hành trì nghiêm mật Tỳ Ni. Quán chiếu Tam Vô Lậu Học để chuyển đổi thái độ sống cũ đầy tập khí thế tục, tà đạo sang thái độ sống đầy hương liệu của Phật Pháp xuất thế, chánh đạo đồng thời qua đó cũng xây dựng phẩm chất hiền thiện cho hành giả, quyết định tư cách của người xuất gia. Tu tịnh hạnh, hành Tỳ Ni chính là hành Tam Học đồng thời cũng hành Bồ Tát đạo, hiện tại an lạc qua quá trình chuyển đổi thái độ sống và xây dựng phẩm chất để luôn đoán nhận niềm hoan hỷ, an lạc, hoặc từ nội tâm sinh khởi hay từ ngoại cảnh tác duyên.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.8/12/2015.

No comments:

Post a Comment