Tuesday, August 18, 2015

 ĐÔI NÉT VỀ NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC BỘ QUẢNG LUẬT TRONG ĐẠI CHÁNH TẠNG
                                                                                                      
Đại Chánh Tạng được biên tập tại Nhật Bản vào năm Đại Chánh thứ 13 (1924) đến năm Chiêu Hòa thứ 9 (1934), do Takakusu Junjirō, Watanabe Umiakira khởi xướng và chủ biên, Ono Genmyo biên tập hiệu đính cùng với sự đóng góp tích cực của rất nhiều học giả Phật giáo.
 


 

Đại Chánh Tạng gồm có 100 tập, chia làm 25 bộ, và phần Luật tạng được dẫn ở các quyển: 22, 23, 24 và 1/2 quyển 40. Trong đó, quyển 22, từ T.1421 đến T.1424 là thuộc luật của Hóa Địa bộ. Từ 1/1425 đến 5/1427 thuộc luật của Đại Chúng bộ, từ 6/1428 đến 15/1434 thuộc Pháp Tạng bộ. Và các bộ 2/1422, 6/1425, 9/1428 được gọi là Quảng luật.
 Quyển 23, từ số 1 đến 7 thuộc Thuyết nhất thiết Hữu bộ, từ số 8 đến số 13 (hết quyển 3) và quyển 24 từ số 1 đến 9 thuộc về Căn bản thuyết nhất thiết Hữu bộ. Một nửa quyển 40 có 12 bộ, từ bộ số 1/1804 đến số 4/1807 thuộc về Giới, từ số 5 đến số 7 thuộc về các pháp Yết-ma. Từ số 1 đến số 7 thuộc về Tứ phần luật của Pháp Tạng bộ là giới của Thanh văn, từ số 8 đến số 12 thuộc về giới của Bồ-tát. Để thuận tiện cho việc tìm hiểu khái quát về các bộ luật lớn trong Luật tạng, dưới đây người viết sẽ giới thiệu đôi nét về nội dung và đặc điểm của năm bộ Quảng luật.
Như chúng ta đã biết, trong quá trình phân chia bộ phái Phật giáo, sau khi Phật diệt độ, có tất cả 20 bộ phái. Xét về văn bản, luật vẫn còn văn luật của 8 bộ phái, nhưng để được gọi là Quảng luật thì chỉ có 5 bộ. Đó là: Thập tụng luật, Ngũ phần luật, Tứ phần luật, Ma-ha Tăng-kỳ luật, Căn hữu luật. Sở dĩ được gọi là Quảng luật là do những bộ luật này có đầy đủ ba phần: Giới bản của Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni; Giải thích giới điều của Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni; Các Kiền-độ như: An cư, Tự tứ, v.v… Để có thể khảo sát rõ ràng hơn, chúng ta đi vào tìm hiểu nội dung và đặc điểm của từng bộ.
 


 

A.    Nội dung của các bộ Quảng luật:
1. Thập tụng luật: bộ này lưu hành ở nước Kế Tân, do Phất-nhã-đa-la và La Thập dịch vào đời Hậu Tần (384-417), trong Đại Chánh Tạng từ trang 1-470, thuộc phái Thuyết nhất thiết Hữu bộ. Nội dung của luật tổng cộng có 61 quyển, được chia ra 10 tụng:
-  Nhất tụng: Tỳ kheo: Ba-la-di, Tăng tàn, Bất định, Xả đọa (thượng)
-  Nhị tụng: Tỳ kheo:  Xả đọa (hạ), Ba-dật-đề (thượng)
- Tam tụng: Tỳ kheo: Ba-dật-đề (hạ), Ba-la-đề-đề-xá-ni, Chúng học pháp, Thất diệt tránh.
- Tứ tụng: Thọ cụ túc giới pháp, Bố tát pháp, An cư  pháp, Bì cách pháp, Y dược, Y pháp.
- Ngũ tụng: Ca-hi-na pháp, Câu-xá-di pháp, Chiêm-ba pháp, Bàn-trà-lô-già pháp, Tăng tàn hối pháp, Giá pháp, Ngọa cụ pháp, Chánh sự pháp.
-  Lục tụng: Điều Đạt pháp, Tạp pháp.
- Thất tụng: Tỳ kheo Ni kinh phân biệt, Ba- la- di, Tăng tàn, Xả đọa, Ba-dật-đề, Ba-la-đề-đề-xá-ni, Bát kỉnh pháp.
-  Bát tụng: Tăng nhất pháp
-  Cửu tụng: Ưu-ba-ly vấn pháp
- Thập tụng: Tỳ-ni tụng, Nhị chủng Tỳ-ni cập Tạp tụng, Ngũ bách Tỳ kheo kết tập tam tạng pháp, Thất bách Tỳ kheo  tập Diệt ác pháp, Tỳ ni trung tập phẩm.
Về giới Tỳ kheo, tổng cộng có 257 giới (Giới kinh là 263) chia làm 8 nhóm: 4 Ba-la-di, 13 Tăng tàn, 2 Bất định, 30 Xả đọa, 90 Đọa, 4 Hướng bỉ hối, 107 Chúng học  (Giới kinh 113), 7 Diệt tránh.
Về giới Tỳ kheo ni, tổng cộng có 354 giới chia làm 7 nhóm: 8 Ba-la-di, 17 Tăng tàn, 30 Xả đọa, 178 Đọa, 8 Hướng bỉ hối, 106 Chúng học, 7 Diệt tránh.
Về các pháp Yết-ma, có 177 pháp nhưng do có pháp trùng lặp nên bị trừ đi chỉ còn lại 134 pháp.

 

 

2. Ngũ phần luật: Ngũ phần luật là gọi tắt của Di-sa-tắc hòa-ê Ngũ phần luật, trong Đại Chánh Tạng từ trang 1-194. Bộ luật này là Quảng luật của Di-sa-tắc bộ hay còn gọi là Hóa Địa bộ. Nguyên bản Phạn văn là do ngài Pháp Hiển du học Tây Vực thỉnh được từ nước Tích Lan đem về. Đến năm Cảnh Bình thứ nhất (423), đời Lưu Tống (420-479), được luật sư của Hóa Địa bộ là Phật-đà-thập, người nước Kế Tân, đến Trung Quốc chịu trách nhiệm coi Phạn văn và Trí Thắng, người nước Vu Điền, dịch ra Hán văn, do Trúc Đạo Sinh chùa Long Quang và Huệ Nghiêm chùa Đông An tham gia nhuận văn. Bản hiện còn gồm 30 quyển, nội dung được chia ra làm 5 phần:
Phần1: Tỳ kheo kinh phân biệt
Phần 2: Tỳ kheo Ni kinh phân biệt
Phần 3: Thọ giới pháp, Bố-tát pháp, An cư pháp, Tự tứ pháp, Y pháp, Bì cách pháp, Dược pháp, Thực pháp, Ca-thi-na pháp.
Phần 4: Diệt tránh, Yết-ma pháp.
Phần 5: Phá Tăng pháp, Ngọa cụ pháp, Tạp pháp, Uy nghi pháp, Giá Bố tát pháp, Biệt trụ pháp, Điều phục pháp, Tỳ kheo ni pháp, Ngũ bách tập pháp, Thất bách tập pháp.
Giới Tỳ kheo có tổng cộng là 251 giới: 4 Ba-la-di, 13 Tăng tàn, 2 Bất định, 30 Xả đọa, 91 Đọa, 4 Hối quá, 100 Chúng học, 7 diệt tránh.
Giới Tỳ kheo Ni có 370 giới: 8 Ba-la-di, 17 Tăng tàn, 30 Xả đọa, 207 Đọa, 8 Hối quá, 100 Chúng học.
Về các pháp Yết-ma, tuy có tất cả là 106 pháp nhưng trên thực tế chỉ có 76 pháp vì trong đó có những pháp có nội dung trùng lặp nhau, và chia ra làm 3 loại:
- Đơn Bạch: Nghĩa là chỉ cần công bố 1 lần.
- Bạch Nhị: Nghĩa là 1 lần tuyên bố và 1 lần lấy biểu quyết.
- Bạch Tứ: Nghĩa là 1 lần tuyên bố và 3 lần lấy biểu quyết.

 

 

3. Tứ phần luật: Tứ phần luật là Quảng luật thuộc bộ Pháp Tạng bộ, trong Đại Chánh tạng từ trang 567-1014. Văn bản luật lúc ấy không có nguyên bản tiếng Phạn mà do Phật-đà-da-xá tụng ra và Trúc Phật Niệm dịch từ năm Hoằng Thỉ thứ 12 đến năm thứ 15 đời Diêu Tần (410-413). Theo ghi chép trong Xuất Tam Tạng ký tậpCao Tăng truyện thì Tứ phần luật do Phật-đà-da-xá tụng xuất và Trúc Phật Niệm dịch, Đạo Hàm ghi chép.Tuy nhiên, cũng có thuyết cho rằng Phật-đà-da-xá và Trúc Phật Niệm cùng dịch. Số quyển của bộ luật này xưa nay thêm bớt không nhất định, bản còn hiện nay là 60 quyển, nội dung được chia ra làm 4 phần:
Phần1: Tỳ kheo kinh phân biệt
Phần 2: Tỳ kheo Ni kinh phân biệt, Thọ giới kiền-độ, Thuyết giới kiền-độ, An cư kiền-độ, Tự tứ kiền-độ (Thượng ).
Phần 3: Tự tứ kiền-độ (Hạ), Bì-cách kiền-độ, Y kiền-độ, Dược kiền-độ, Ca-thi-na y kiền-độ, Câu Diễm Di kiền-độ, Chiêm ba kiền độ, Ha trách kiền độ, Nhân kiền độ, Phú tàng kiền-độ, Giá kiền-độ, Phá tăng kiền-độ, Diệt tránh kiền-độ, Tỳ kheo ni kiền-độ, Pháp kiền-độ.
Phần 4: Phòng xá kiền-độ, Tạp kiền-độ, Tạp pháp Tỳ kheo Ngũ bách nhất, Thất bách tập pháp Tỳ-ni, Điều bộ, Tỳ-ni tăng nhất.
Về giới Tỳ kheo tổng có 250 giới, chia làm 8 nhóm: 4 Ba- la- di, 13 Tăng tàn, 2 Bất định, 30 Xả đọa, 90 Đọa, 4 Hướng bỉ hối, 100 Chúng học, 7 Diệt tránh.
Tỳ kheo Ni có 348 giới chia làm 7 nhóm: 8 Ba- la- di, 17 Tăng tàn, 30 Xả đọa, 178 Đọa,  8  Hướng bỉ hối, 100 Chúng học, 7 Diệt tránh.
Về các pháp Yết-ma có 245 pháp, trong đó có các pháp Yết-ma cùng nội dung nên bị tỉnh lược, thực chất chỉ còn 132 pháp và chia làm 3 loại: Đơn bạch, Bạch nhị, Bạch tứ.

 

 

4. Ma-ha Tăng-kỳ luật: Ma-ha Tăng-kỳ luật dịch nghĩa là Đại chúng, cho nên Ma-ha Tăng-kỳ luật cũng gọi là Đại Chúng luật, trong Đại Chánh Tạng từ trang 227-549. Đây là Quảng luật của Đại chúng bộ. Bộ luật này được ngài Pháp Hiển du học ở Thiên Trúc thỉnh từ thành Hoa Thị nước Ma-kiệt-đà mang về Trung Quốc hợp tác với Phật-đà-bà-la dịch từ năm Nghĩa Hy thứ 12 đến năm thứ 14 vào thời Đông Tấn (317-429). Nội dung bản Hán dịch gồm 40 quyển, chia làm các phần như sau:
- Tỳ kheo kinh phân biệt
- Tạp tụng bạt cừ pháp
- Oai nghi pháp
- Tỳ kheo ni kinh phân biệt
- Tạp bạt cừ pháp
Về giới thì Tỳ kheo tổng cộng có 218 giới chia làm 8 nhóm: 4 Ba la di, 13 Tăng tàn, 2 Bất định, 30 Xả đọa, 92 Đọa,  4 Hướng bỉ hối, 66 Chúng học, 7 Diệt tránh.
Về giới thì Tỳ kheo ni tổng cộng có 277 giới chia làm 7 nhóm: 8 Ba la di, 19 Tăng tàn, 30 Xả đọa, 141 Đọa,  8 Hướng bỉ hối, 64 Chúng học, 7 Diệt tránh.
Về các pháp Yết-ma thì có 137 pháp nhưng trừ đi những pháp có nội dung trùng lặp nhau còn lại 111 pháp và chia làm 4 loại: Cầu thính,  Đơn bạch, Bạch nhất, Bạch tam.
 
5. Căn bản luật: Căn bản luật trong Đại Chánh Tạng là quyển thứ 23, thuộc Thuyết nhất thiết Hữu bộ. Theo Khai Nguyên Thích Giáo lục thì bộ luật bản Hán được dịch muộn hơn so với 4 bộ Quảng luật trên, vì mãi tới năm 695 mới được ngài Nghĩa Tịnh (635-713) dịch. Tương truyền, do Hoàng hậu Võ Tắc Thiên thỉnh Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường từ năm Cửu thị thứ Nhất triều Võ Tắc Thiên đến năm Cảnh Vân thứ 2 triều vua Duệ Tông (700-711) mới xong.
Xét về nội dung, Căn bản luật có tổng cộng 50 quyển, là một bộ luật số trang nhiều nhất (800 trang), được chia làm hai bộ: Căn bản Thuyết nhất thiết Hữu bộ Tỳ-nại-da ở số trang 1442 và Căn bản Thuyết nhất thiết Hữu bộ Tỳ-nại-da Bật sô. Bật sô ni Tỳ-nại-da ở số trang 1442, do Nghĩa Tịnh dịch là thuộc về giới của Tỳ kheo và Tỳ kheo  Ni,  từ bộ ở số trang 1444 đến 1451 thuộc về Kiền-độ.
Về giới Tỳ kheo của bộ này chỉ có 249 giới : 4 Ba- la- di, 13 Tăng tàn, 2 Bất định, 30 Xả đọa, 90 Đọa, 4 hướng bỉ hối, 99 Chúng học, 7 Diệt tránh. Tỳ kheo ni có 355 giới: 8 Ba la di, 20 Tăng tàn, 30 Xả đọa, 180 Đọa, 11 hướng bỉ hối, 99 Chúng học, 7 Diệt tránh[1]. Các pháp Yết ma thì có 72 pháp nhưng thực tế có 18 pháp trùng lặp vì vậy chỉ còn 54 pháp.


 
 

 
B. Đặc điểm của các bộ Quảng luật:
Xét về đặc điểm của các bộ Quảng luật thì bộ Ngũ phần luật là một bộ luật mà phần Giới bản của Tỳ kheo ni không có pháp Diệt tránh. Vấn đề này trong bộ Khai Nguyên Thích Giáo lục của Trí Thăng có ghi rằng: “Người kiểm điểm không thấy có Thất diệt tránh, tuy Giới bản là lược nhưng xét trong Quảng luật thì có, người soạn không hiểu nên lược bỏ Thất diệt tránh”. Còn về bộ Ma-ha Tăng-kỳ theo truyền thuyết của Đại Chúng bộ thì nó có nguồn gốc từ Tinh xá Kỳ Hoàn.
Khi các bộ phái phân hóa, Ma-ha Tăng-kỳ được xem là bản cổ, là bộ luật căn bản, lúc ấy đại chúng rút thăm lấy biểu quyết thì bộ luật này được đa số chấp nhận[2]. Theo như Tăng Hựu ghi lại trong Xuất Tang Tạng ký tập thì bộ luật này còn có tên là Bà-thô-phú-la. Bà-thô-phú-la do nhận được nhiều phiếu nên đổi tên là Ma-ha Tăng-kỳ. Theo Ấn Thuận Bà-thô-phú-la chính là Độc-tử-bộ, nếu xét về sự truyền thừa bộ phái thì phái này thuộc Thượng Tọa bộ, như vậy Bà-thô-phú-la với Đại chúng bộ chắc chắn không cùng một hệ thống.
Tăng Hựu đem Bà-thô-phú-la đồng nhất với Đại chúng bộ như thế là nhầm lẫn[3]. Tuy nhiên, căn cứ vào cách tổ chức, các nhà nghiên cứu cho rằng bộ luật này tổ chức có phần khác hơn so với các bộ luật của Thượng Tọa bộ và đây là một bộ luật duy nhất có phần Cầu Thính mà các bộ kia không có. Bộ Tứ phần luật tuy được dựa trên khẩu tụng của Phật-đà-da-xá dịch ra nhưng lại là một bộ luật được sử dụng nhiều nhất hiện nay trong các nước Phật giáo Đại thừa.
Về bộ Thập tụng luật, mặc dù nói hai ngài Phất Nhược Đa La và La Thập dịch nhưng theo Xuất Tam Tạng ký tập thì nguyên bộ này là 80 bài tụng (Bát thập tụng luật) được truyền từ Ca-diếp mãi đến đời của Ưu-ba-cúc-đa. Và đến thời của Ưu-ba-cúc-đa, vì thấy căn tánh chúng sanh không được nhạy bén, nên ngài rút lại còn 10 bài tụng truyền thừa cho đến Phất-nhã-đa-la là 50 đời.
Tương truyền bộ Quảng luật này được dịch sớm hơn 4 bộ Quảng luật kia và được dịch trong vòng 5 năm (404-409). Từ khoảng niên hiệu Hoàng Thỉ thứ sáu (404 T.L) nhà Tần (339-416) do Phất-nhã-đa-la bắt đầu khởi tụng, La Thập dịch ra Hán văn nhưng chỉ được 2/3 thì Phất-nhã-đa-la viên tịch.
Đến mùa thu năm sau, Tuệ Viễn viết thư thỉnh Đàm-ma-lưu-chi người Tây Vực, dựa theo bản Phạn cùng dịch với La Thập, nhưng cũng chỉ mới xong bản thảo, chưa kịp nhuận văn thì La Thập lại viên tịch. Về sau Tỳ-ma-la-xoa (339-416), người Kế Tân, đem bản thảo Thập tụng luật này đến chùa Thạch Giản tại Thọ Xuân, bắt đầu chỉnh lý lại bản dịch, rồi đổi tên một tụng cuối trong đó là Thiện tụng thành Ty-ni tụng[4].
Theo Đại Chánh tạng ghi: Quyển 1 ghi do ngài Phất-nhã-đa-la và La Thập dịch, quyển 2 đến quyển 40 do Phất-nhã-đa-la dịch, quyển 41 đến 49 là do La Thập dịch, quyển 50 trở đi là do Phất-nhã-đa-la dịch. Cho nên, mặc dù chỉ nói người dịch là Phất-nhã-đa-la và La Thập, nhưng ta thấy đã có thêm sự tham gia nhuận văn của ngài Tỳ-ma-la-xoa. Đây là một bộ luật duy nhất tách riêng Bát Kỉnh Pháp ra làm thành một phần, còn Tăng nhất pháp ở các bộ luật kia để ở phần phụ, nhưng ở đây được đưa vào phần chính. Và Ưu-ba-ly-vấn pháp chỉ duy nhất ở bộ luật này mới có. 
Bộ Căn Bản luật hiện còn cả ba bộ: Phạn văn, Hán văn, Tạng văn, là một bộ luật có số trang nhiều nhất nhưng nó lại là một bộ luật không hoàn chỉnh. Ví dụ như: Câu Diệm Di sự, Yết-ma sự, Bổ-đặc-già-la sự, Phú tàng sự, Giá Bố-tát sự, những chương này ở bộ luật của Tây Tạng còn đủ nhưng trong Hán văn không có. Tỳ kheo giới của bộ này là 249 giới, Chúng học pháp chỉ có 99 pháp. Còn bộ Tây Tạng, Chúng học pháp có tới 108 pháp, cho nên giới Tỳ kheo có 258 giới. Các pháp Yết-ma bản Hán văn chỉ có 72 pháp nhưng đã có 18 pháp trùng lặp, nên thực tế chỉ còn lại 54 pháp. Trong khi đó, luật của Tây Tạng có 129 pháp Yết-ma, trừ 12 Yết-ma trùng lặp, còn 117 Yết-ma. Vấn đề này không phải do ngài Nghĩa Tịnh mang về, vấn đề thiếu là vì các lý do sau đây:
Theo luận Đại Trí Độ ghi: Luật Hữu bộ có tới 80 bộ do có Apadana, Apadana nói nhiều về những câu chuyện quá khứ, khi phân chia bộ phái, các bộ phái ở tại Ma Kiệt Đà vẫn giữ nguyên Apadana, nhưng ở Kế Tân là trung tâm hoạt động của Thuyết nhất thiết Hữu bộ, đã bỏ Apadana nên còn lại 10 bộ gọi là Thập tụng luật.
Theo Khai Nguyên Thích Giáo lục cho rằng ngài Nghĩa Tịnh (635-713) đi bằng đường thủy qua Ấn Độ du học sau đó về ghé thăm Vương Quốc Phù Nam rồi về Trung Quốc năm 695. Đích thân Nữ hoàng Võ Tắc Thiên đón ngài vào cung dịch kinh. Khi dịch xong bộ kinh này, chưa đóng thành sách thì ngài đã viên tịch, vì do không có người kế thừa nên bị thất lạc.
Tóm lại, Quảng luật là bộ phận quan trọng chứa nhóm những lời Phật dạy có liên hệ đến Phật và đệ tử gồm hai phần: Chỉ trì và Tác trì. Ngoài những Quảng luật được nêu trên, trong Luật tạng còn có thành phần Giới kinh, là cơ sở hình thành Luật tạng, là giới bản để Tăng đoàn tụng vào mỗi nửa tháng; các pháp Yết-ma, được rút ra từ trong Luật tạng, là những biện pháp để Tăng đoàn xử lý các việc của Tăng. Đồng thời còn có thành phần Luận của luật do các Luật sư dựa vào Luật tạng và Giới kinh để soạn ra như các bộ 1436, 1440, 1441 là những bộ giải thích về luật. Đặc biệt bộ 1441, hình thức của bộ này là hỏi đáp nên làm sáng tỏ được các vấn đề liên quan đến luật. Vì vậy, đối với việc nghiên cứu Luật điển, những bộ phận này đều có giá trị tham khảo quan trọng.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM HOA.THICH NU TAM GIAC.NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,NEWCASTLE,SYDNEY.18/8/2015.

No comments:

Post a Comment